Biện pháp Vận động học sinh có nguy cơ bỏ học trở lại trường sau kì nghỉ hè

doc 8 trang Chăm Nguyễn 14/08/2026 190
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp Vận động học sinh có nguy cơ bỏ học trở lại trường sau kì nghỉ hè", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbien_phap_van_dong_hoc_sinh_co_nguy_co_bo_hoc_tro_lai_truong.doc

Nội dung tài liệu: Biện pháp Vận động học sinh có nguy cơ bỏ học trở lại trường sau kì nghỉ hè

  1. rượu, không Thường xuyên giữ quan hệ tốt với Thường xuyên chăm lo làm ăn gia đình học sinh, trao đổi để phía nên gia đình gia đình để động viên tạo động lực kinh tế khó cho HS yên tâm việc học khăn - Thiếu thốn tình cảm, Bố/mẹ ly hôn hay mồ côi. VD: Ngà; Cường HS gặp Học yếu từ các Làm việc với nhà trường để phân Buổi tối; Cuối tuấn vấn đề lớp dưới, cảm các giáo viên bộ môn cũng như về học giác sợ học, sợ chính bản thân thường xuyên bồi lực đến lớp. dưỡng thêm kiến thức cho những VD: Quốc HS này. Sắp xếp các cặp đôi bạn cùng tiến Ngày từ đầu năm học để hỗ trợ riêng cho các học sinh. Làm việc riêng với các giáo viên bộ Ngay từ đầu năm môn để có phương pháp truyền đạt kiến thực phù hợp cho các bạn này. HS gặp Những HS ở Lôi kéo học sinh vào các hoạt động Các hoạt động của vấn đề trường chú yếu tập thể của trường lớp như: Văn lớp, trường tổ chức. việc tiếp là HS Dân tộc Nghệ, thể dục, thể thao .vv xúc với thiểu số. Nay Nhắc nhở các bạn trong lớp, đặc Thường xuyên đám đi học xa nhà, biệt là Ban cán sự lớp, không được đông, môi trường chê bai, chọc bạn. Mặt khác phải bạn bè, mới thường tự hoà đồng, lôi kéo bạn tham gia, hoà thầy cô. ti, ít nói, ngại đồng với các hoạt động của lớp. tiếp xúc. Thường xuyên biểu dương, khen Khi có tiến bộ, có VD: Ngà; thưởng các bạn này để khích lệ, tạo thành tích Vương động lực tự tin cho các học sinh này. HS gặp Học sinh lần Nắm bắt và thường xuyên tâm tư, Thường xuyên vấn đề đầu tiên xa gần gủi, đến các phòng ở các em về sinh nhà, xa bố mẹ hỏi thăm động viêc các em. Tạo hoạt, ăn cảm giác lo sợ, cảm giác yên tâm, tin tưởng để HS uống, nhớ nhà. yên tâm học tập. tâm tư VD: Điệp tình Chưa biết tự Kiến nghị nhà trường cũng như các Các hoạt động tập cảm. sinh hoạt. bộ phận trong trường và GVCN trung của Trường, lớp
  2. VD: Hồ Thị thường xuyên tổ chức các buổi chia Hương sẻ kiến thức về sinh hoạt hằng ngày khoa học cho học sinh. VD: Hướng dẫn Gấp chăn, màn; Giáo dục giới tính .vv Khẩu vị ăn Tìm hiểu và có phản hồi để Nhà Ngay từ đầu năm uống không bếp điều chỉnh thực đơn, đảm bảo phù hợp. các em không gặp khó khăn trong VD: Vương, bữa ăn hằng ngày. Sen Gặp các vấn đề Phải luôn theo dõi, gần gủi học sinh Thường xuyên về tình cảm để tư vấn kịp thời, để các em biết tuổi học trò. nhiệm vụ trong tâm của việc học và VD: Khánh bảo vệ tốt đẹp các tình cảm sơ khai Linh tuổi học sinh 3.3. Áp dụng các biện pháp cụ thể: 3.3.1 Tổ chức tốt tiết sinh hoạt lớp, tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp: Trong tiết sinh hoạt cuối tuần, sau khi nghe các tổ trưởng báo cáo, tôi cho lớp tuyên dương những tổ đạt duy trì sĩ số suốt cả tuần để làm gương cho lớp và khen những em có tiến bộ về mặt học tập để các em thấy nhiệm vụ học tập của mình và “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Bản thân tôi chuẩn bị chu đáo nội dung và phân tích kỹ những mặt ưu điểm cần phát huy và cũng rất nghiêm khắc với những vi phạm nội quy của nhà trường, tôi luôn luôn biểu dương các em học yếu có tiến bộ, các em đã khắc phục được những khuyết điểm để vươn lên và để động viên khích lệ đồng thời tôi lồng ghép nêu gương những anh, chị ra trường đã và đang thành đạt nhằm nâng cao nhận thức cho các em có động cơ học tập. Trong các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp tôi cho học sinh đóng kịch, vẽ tranh theo chủ điểm của tuần, tháng để thu hút các em tham gia. Đối với những mặt học sinh còn hạn chế, tôi nhắc nhở nhẹ nhàng, khéo léo kèm theo hướng dẫn, uốn nắn cho các em để tuần sau các em thực hiện tốt hơn. VD: Khi em Quốc được 6 điểm kiểm tra môn Văn. Trong Buổi sinh hoạt lớp tôi đã biểu dương em ấy trước lớp và đã trao cho em một thư khen ngợi từ Hiệu trưởng nhà trường. 3.3.2. Thành lập Đôi bạn, nhóm bạn cùng tiến: Qua nắm được sức học của từng em, tôi lưu ý nhiều đến những em thuộc diện Trung bình, Yếu. Tôi phân công một em Giỏi hoặc Khá kèm một em Trung bình hoặc Yếu và sắp xếp cho 2 em ngồi cùng một bàn. Tôi hướng dẫn cho em Giỏi, Khá cách kèm bạn học: Nhắc nhở bạn học bài, trao đổi kinh nghiệm học tập, cách học bài dễ thuộc, cách vận dụng kiến thức đã học vào làm bài tập, hướng dẫn bạn làm bài tập hoặc củng cố kiến thức mà bạn chưa hiểu,
  3. Bản thân GVCN thường xuyên lên lớp 15 phút đầu giờ, để kiểm tra tập vở, bài làm ở nhà của những học sinh Trung bình, Yếu, xem cách thực hiện của đôi bạn học tập như thế nào để có những điều chỉnh cho phù hợp hơn. Qua việc làm trên, tôi thấy tình cảm giữa cô trò đã gắn bó nhau hơn. Những em Trung bình, Yếu thường hay nhút nhát, rụt rè nay không còn nữa mà trở nên mạnh dạn, tự tin hơn. Từ đó các em càng ham thích đến lớp để hòa nhập với bạn bè, việc học của các em ngày càng tiến bộ hơn. Cuối kì, cuối năm học trao thưởng cho nhóm bạn, đôi bạn nào tiến bộ. VD: Em Vương học yếu thì ghép cặp đôi bạn với em Mao (lớp Phó Học tập) để kèm cặp thêm việc học. Em Ngà nhút nhát thì ghép cặp đôi cùng tiến với Em Thuỳ Nga (lớp Phó Văn Thể) để lôi kéo em ấy tham gia trong các hoạt động tập thể. 3.3.3. Tìm hiểu khẩu vị ăn của học sinh: Khi các em xuống trường học, đôi lúc các em chưa quen môi trường mới cũng như chế độ ăn, khẩu vị khác so với ở trên nhà nên các em muốn bỏ học để về nhà. Chính vì thế người GVCN phải phối hợp với tổ nhà bếp thường xuyên thay đổi thực đơn hang ngày, hang tuần tránh nhàm chán với những bữa ăn đầy đủ chất dinh dưỡng. Khi các em được ăn no, ăn hợp khẩu vị thì các em sẽ có sức khỏe đảm bảo ở lại học tập. Áp dụng tốt giải pháp đó nên năm học này nhà trường thu hút được nhiều học sinh về học tập tại trường. Giảm tối đa học sinh chán ăn bỏ về nhà. VD: Em Tuyền không ăn được cá, tôi đã phản hồi với Nhà bếp, khẩu phần không bao giờ món chính có mỗi cá mà còn có thịt hoặc trứng để em ấy có thể thoải mái trong bữa ăn. 3.3.4 Luôn nắm bắt và giữ liên lạc với những học sinh cũ. Khi giáo viên biết được những học sinh cũ của mình, có việc gì ở lớp, ở trường nhờ các em rất dễ dàng. Ví dụ. Khi em Hồ Vương có nguy cơ bỏ học thì GVCN cùng em Hồ Xê ở bản Ra Mai và trưởng bản đến vận động và chính em Xê đã chở em Vương xuống trường học. Ngoài những công việc mà bản thân tôi làm thì tôi luôn luôn phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường. 3.3.5 Phối hợp với các giáo viên bộ môn, Chi Đoàn, Liên đội, tổ tư vấn tâm lí: - Việc phối hợp với các giáo viên bộ môn là hết sức quan trọng nhằm theo dõi sĩ số học sinh qua đó có kế hoạch điều chỉnh cũng như động viên các em bỏ học giúp các em học tập tốt hơn. Mặt khác có những em học sinh thích học môn này, lại không thích môn kia vì những lý do khác nhau do vậy tôi luôn tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân từ các giáo viên bộ môn để cùng với giáo viên bộ môn đề ra các biện pháp thích hợp nhằm giúp các em có thể có kết quả học tập tốt hơn từ đó các em sẽ hứng thú học tập và đi học đều đặn hơn. Hơn nữa thông qua việc phối hợp với các giáo viên bộ môn trong trường để phát hiện về năng khiếu cũng như sở thích cũng như những hạn chế của từng học sinh để từ đó phát hiện và bồi dưỡng kịp thời giúp các em phát triển một cách hoàn thiện hơn đồng thời để phía GVBM nắm bắt những trường hợp có hoàn cảnh đặc biệt để thầy cô có biện pháp riêng..
  4. - Tổ chức đoàn đội là một tổ chức mạnh để các em học sinh tham gia và rèn luyện ý thức. Hàng ngày các cán bộ lớp theo dõi số học sinh nghỉ học, ổn định nề nếp, các phong trào để kịp thời báo cho giáo viên chủ nhiệm đề ra kế hoạch để tham gia tích cực. Chị tổng phụ trách luôn là người sát cánh cùng giáo viên chủ nhiệm lớp trong các hoạt động của các chi đội. Vì vậy phong trào của lớp ngày càng có nhiều tiến bộ vượt bậc, các em tham gia phòng trào tích cực, tự giác. Khi có học sinh có biểu hiện bỏ học dài ngày bản thân tôi luôn phối hợp với các đồng nghiệp trong tổ TVTL, Bí thư chi đoàn, chị TPT đội để đưa ra biện pháp tối ưu nhằm duy trì sĩ số lớp mình. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tìm hiểu về lứa tuổi tình yêu, đôi lứa, các tệ nạn XH, các trò chơi để lôi cuốn các em tham gia từ đó các em không nhớ nhà, không buồn chán, nên giảm thiểu học sinh bỏ học về nhà. VD: Em Quỳnh Nga đến tuổi dậy thì, tôi cũng thường xuyên gặp và nhờ cô bên Y tế thường xuyên gặp riêng để hướng dẫn, hỗ trợ cho em ấy. 3.3.6. Phối hợp với tổ quản lý nội trú trong nhà trường: Thông thường các em ở trên bản cuộc sống của các em khác xa so với ở trường. Cụ thể như đi nhà vệ sinh không tự hủy, ngủ không móc màn, tắm khe suối Nên về môi trường mới các em chưa thích ứng được dẫn đến các em chán muốn bỏ về nhà. Vì vậy người giáo viên chủ nhiệm phải phối hợp với tổ quản lý nội trú quan tâm các em ở như thế nào? Ngủ muỗi có đốt không, hướng dẫn học sinh cách đi vệ sinh, tắm rửa Vào buổi tối cùng với tổ nội trú tham gia tổ chức trò chơi lồng ghép vào việc hướng dẫn học sinh vệ sinh cá nhân, cách móc màn, xếp chăn, sắp xếp phòng ở cho các em phải để các em có quyền chọn bạn ở cùng Từ sự quan tâm đó đã làm cho các em xem trường giống như nhà của mình, rất vui vẻ, yêu trường, mến lớp nên giảm thiểu học sinh bỏ học về nhà. 3.3.7. Tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường: Vào đầu năm học tôi đón học sinh được 30 em vắng 04 em, tôi tiến hành gọi điện cho phụ huynh tìm hiểu lí do vì sao 4 em chưa xuống. Sau khi nắm bắt được nguyên nhân tôi lập danh sách báo ngay với Ban giám hiệu. Tôi nhờ Hiệu trưởng gọi điện lên xã, bản để vận động các em xuống học. Chính nhờ Ban giám hiệu giữ liên lạc tốt với các xã có con em theo học tại trường nên việc nắm bắt mọi thông tin ở từng bản rất nhanh. 3.3.8. Làm tốt công tác quan hệ với gia đình và xã hội: Trong các kỳ họp phụ huynh bản thân tôi luôn lắng nghe nắm bắt nguyện vọng của phụ huynh và tôi đưa thêm nội dung nêu gương những học sinh học ra trường đã và đang thành đạt nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về tầm quan trọng của việc c học tập. Bầu ban đại diện phụ huynh của lớp theo các xã. Ví dụ các xã Hóa Sơn, Thượng Hóa phải có 1 phụ huynh đại diện cho 2 xã, xã Dân hóa 1 người, xã Trọng Hóa 1 người. Khi lớp có vấn đề gì GVCN sẽ dễ dàng nhờ vào Ban đại diện phụ huynh của lớp. Luôn chú ý đến gia đình nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt bản thân và tập thể lớp kịp thời tổ chức thăm hỏi, động viên, những việc làm đó tuy giá trị vật chất không đáng là bao nhưng đã tạo được tình cảm gắn bó, chia sẻ, các em đã biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau với tinh thần đoàn kết cao.
  5. Với nhiệt huyết cửa người gvcn lớp tôi luôn xem các em như con của mình cùng với việc vận dụng tốt các biện pháp trên một cách khéo léo và khoa học. Tôi đã động viên và khuyến khích kịp thời những hoạt động, việc làm mang tính chất sửa đổi ở các em chứ phê bình, tạo áp lực. phải biết phê bình “đúng lúc - đúng tội” và động viên, khuyến khích, khen thưởng “kịp thời - đúng đối tượng”. Luôn theo dõi từng bước chuyển biến của các em và phối hợp chặt chẽ giữa 3 môi trường giáo dục: “Nhà trường, gia đình và xã hội” 4. Kết quả đạt được: Trong năm học này, Tôi đã vận dụng các biện pháp trên. Đặc biêt tôi đã áp dụng tốt 2 biện pháp “Tìm hiểu khẩu vị ăn của học sinh” và “Phối hợp với tổ quản lý nội trú trong nhà trường”. Đây là 2 biện pháp phù hợp với trường đăc thù nơi tôi đang công tác. Lớp 9 với tổng số 32 em. Đầu năm học nguy cơ bỏ học 4 em nhưng nhờ có sự ủng hộ của chính quyền địa phương, Nhà trường, Đoàn đội, Giáo viên chủ nhiệm và đặc biệt hơn nữa là tập thể lớp có tinh thần cao đã vận động các bạn này trở lại với lớp và duy trì tốt sĩ số. Qua điều tra bằng phiếu vào đầu năm học và cuối học kì 1 năm học 2022 - 2023 ở lớp 9 kết quả như sau: Đầu HK 1 Cuối HK 1 Tiêu chí Số lượng Số lượng Số lượng có Số lượng có không không 1. Muốn trở lại lớp 28 4 31 1 2. Đến lớp rồi tự ý bỏ về 4 28 1 31 3. Trồn học thường xuyên 3 29 1 31 khi ở trường - Sau nghỉ hè, đầu học kỳ I có 4 em không muốn trở lại lớp, đến cuối học kỳ I chỉ còn lại 1 em. - Đầu học kỳ I có 03 em thường xuyên bỏ học không lý do, cuối học kỳ I còn 1 em. - Đầu học kỳ I có 4 em tự ý bỏ về, đến cuối học kỳ I chỉ còn 1 trường hợp. Ngoài ra khi dạy dỗ các em ở trường, Tôi còn nhận thấy. - 100% học sinh của lớp có ý thức kỷ luật cao, có tinh thần thi đua học tập. - 100% học sinh có ý thức tự giác học tập, giữ gìn lớp sạch đẹp, có tinh thần tương thân, đoàn kết, giúp đỡ nhau trong học tập cũng như sinh hoạt. Từ kinh nghiệm thực tế cho thấy, cùng với việc quan tâm tìm hiểu đến đời sống kinh tế gia đình học sinh, cộng với việc tăng cường công tác tuyên truyền vận động học sinh và gia đình để con em được học tập, sự quan tâm của nhà trường, chính quyền địa phương thì tình trạng học sinh bỏ học ở địa phương sẽ được khắc phục.
  6. Những kinh nghiệm mà tôi đã trình bày trên đây là được đúc rút từ thực tiễn chủ nhiệm. Mặc dù tôi rất cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp quý báu của các đồng nghiệp, các bậc giáo viên đi trước để bản thân tôi nói riêng và các giáo viên chủ nhiệm nói chung có được cách duy trì sĩ số tốt. Minh Hóa, ngày 03 tháng 02 năm 2023 NGƯỜI BÁO CÁO Trần Thị Lưu XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Minh Hóa, ngày 04 tháng 02 năm 2023 HIỆU TRƯỞNG Trần Lê Nam XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Minh Hóa, ngày 04 tháng 02 năm 2023 TRƯỞNG PHÒNG