Biện pháp Thiết lập mối quan hệ tích cực giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh Lớp 9

docx 11 trang Chăm Nguyễn 14/08/2026 200
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp Thiết lập mối quan hệ tích cực giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbien_phap_thiet_lap_moi_quan_he_tich_cuc_giua_giao_vien_chu.docx

Nội dung tài liệu: Biện pháp Thiết lập mối quan hệ tích cực giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh Lớp 9

  1. 3 4. HS luôn cảm thấy vui vẻ khi đến lớp, cởi mở, 2 5,1 20 51,3 17 43,6 mạnh dạn chia sẻ và tâm sự với GVCN 5. HS tự nguyện tự, giác thực hiện các hoạt động mà GVCN đưa ra khi HS có hành vi, thái độ và 1 2,6 22 56,4 16 41,0 việc làm chưa đúng Với số liệu điều tra ban đầu đó, tôi nhận thấy rằng giữa GVCN và HS vẫn có những khoảng cách không nhỏ, sự quan tâm đến HS của GV và sự hợp tác của HS đối với GV còn hạn chế. Cùng với kết quả đó, thì đầu vào về học lực và rèn luyện của lớp chủ nhiệm cũng chưa cao, kết quả xếp loại thi đua lớp ở năm học trước chỉ đạt mức trung bình (vị thứ 8/9 trong toàn trường). Bởi vậy, tôi luôn băn khoăn, trăn trở trong công tác chủ nhiệm mà mình đảm nhận. Làm thế nào để xây dựng tập thể đoàn kết, biết yêu thương, chia sẻ và tiến bộ, tự giác trong học tập, rèn luyện? Phải làm gì để cải thiện các mối quan hệ trong lớp học, mà trọng tâm là mối quan hệ giữa GVCN và HS. Chính vì thế, ngay từ đầu năm học 2022-2023 tôi đã lựa chọn và áp dụng “Biện pháp thiết lập mối quan hệ tích cực giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh lớp 9” góp phần nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp. II. MỤC ĐÍCH CỦA BIỆN PHÁP Thực hiện “Biện pháp thiết lập mối quan hệ tích cực giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh lớp 9” nhằm những mục đích sau: Một là, hình thành mối quan hệ tốt đẹp giữa GVCN và HS được kết nối bởi sự thấu hiểu, thân thiện, gần gũi và tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau. Từ đó, góp phần thực hiện tốt phong trào “trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Hai là, tạo động lực cho HS học tập và rèn luyện tốt hơn trong tâm thế thoải mái, tinh thần vui vẻ. Xây dựng tập thể lớp đoàn kết, có nhiều chuyển biến tích cực trong học tập và rèn luyện. Ba là, tác động tích cực đến người GVCN trong việc xây dựng hình ảnh nhà giáo mẫu mực về đạo đức và năng lực để làm tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc giáo dục HS phát triển toàn diện về nhân cách, phẩm chất, năng lực theo định hướng đổi mới của giáo dục hiện nay. III. CÁCH THỨC TIẾN HÀNH 1. Giáo viên chủ nhiệm tự nêu gương
  2. 4 GVCN được xem như là linh hồn của lớp, là người tiếp xúc nhiều nhất với HS, là người cọ xát thường xuyên với các vấn đề sôi động trong cuộc sống học đường của các em. Mọi lời nói, hành vi, cử chỉ của GVCN đều tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách, tình cảm và trình độ của người HS. Vì thế, GVCN lớp phải luôn là tấm gương sáng cho HS noi theo và rèn luyện. Là GVCN, bản thân tôi luôn chủ động, tự giác và tích cực tu dưỡng, rèn luyện, phẩm chất, đạo đức người GV. Tôi luôn giữ gìn hình mẫu lí tưởng trước HS từ trang phục lên lớp lịch sự, gọn gàng; cử chỉ, lời nói với đồng nghiệp, với HS thân thiện, đúng mực đến tác phong làm việc nghiêm túc, nhanh nhẹn và khoa học. GVCN muốn được HS tin tưởng, ngoài là một nhà giáo có đạo đức tốt thì phải là giáo viên dạy tốt môn học mình phụ trách. Khi thầy cô giáo có những biểu hiện nổi bật trong công tác, trong hiểu biết và trong thành tích, tôi tin chắc rằng HS sẽ luôn hướng về mình. Do đó, tôi không ngừng tự học nâng cao trình độ chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm, đổi mới, sáng tạo về phương pháp dạy học. Trong dạy học - môn Toán, tôi hướng dẫn kĩ càng các dạng Toán đơn giản nhất đối với HS trung bình, yếu; phát huy khả năng của HS khá - giỏi qua các bài toán nâng cao. Từ đó kích thích tất cả các em say mê với môn học. Bên cạnh đó, GVCN lớp phải là người dám thừa nhận thiếu sót, biết sửa đổi và không ngừng hoàn thiện bản thân. Chắc chắn trong công tác chủ nhiệm lớp, mỗi thầy cô chúng ta không tránh khỏi những thiếu sót khi xử lí các tình huống sư phạm, nhất là các vấn đề giáo dục đạo đức HS. Thừa nhận thiếu sót trước HS không phải là hạ thấp bản thân mà để hoàn thiện bản thân và cũng là một cách giáo dục HS biết nhận lỗi khi sai phạm từ đó khắc phục một cách tự nguyện, tự giác. Với cách GVCN tự nêu gương không chỉ giúp tôi luôn hoàn thiện bản thân về cả đạo đức và chuyên môn mà còn tác động tích cực đến HS, giúp các em biết tự nhìn lại, điều chỉnh nhận thức, hành vi, lời nói phù hợp với đạo đức, tác phong người HS. Nó cũng tạo ra động lực để HS cố gắng học tập tốt, rèn luyện tốt phát triển toàn diện như tấm gương mẫu mực của GVCN mà các em noi theo. 2. Hiểu - quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh “Hiểu người để dẫn đạo người” đó là phương châm cao quý của lao động sư phạm. GVCN muốn giáo dục HS hiệu quả thì phải quan tâm đến tất cả các em để hiểu HS của mình.
  3. 5 Ngay từ khi nhận phần hành chủ nhiệm lớp, tôi đã thu thập thông tin HS bằng các tài liệu liên quan (phiếu liên lạc, học bạ, nhận xét của GVCN cũ, ), bằng quan sát trực tiếp, thăm gia cảnh học sinh và tiến hành những thử nghiệm nhỏ (dùng phiếu “Điều em muốn nói”) . Từ các thông tin thu thập được, tôi tiến hành phân loại đối tượng HS theo hoàn cảnh, tính cách, năng lực để xây dựng biện pháp giáo dục phù hợp. Cụ thể: Đối với HS có hoàn cảnh khó khăn, tôi quan tâm gần gũi, động viên để các em khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên học tập tốt. Phát động phong trào: “Giúp bạn nghèo vượt khó”; “Lá lành đùm lá rách” ... để tranh thủ sự giúp đỡ của các bạn trong lớp, của các lực lượng giáo dục trong, ngoài nhà trường. Những HS có hoàn cảnh mồ côi, bố mẹ ly thân, GVCN thực sự phải là người mẹ, người cha thay thế bố mẹ các em bằng tình thương yêu tận tình, giúp đỡ các em. Đối với HS chưa ngoan, còn hay nghịch ngợm, quậy phá, tôi tìm hiểu nguyên nhân qua gia đình, GVBM đồng thời dùng phương pháp tác động tình cảm, nghiêm khắc với HS nhưng không cứng nhắc. Luôn gần gũi động viên các em. Giao cho các em đó một chức vụ trong lớp như tổ trưởng, tổ phó hoặc lớp phó lao động nhằm gắn với các em trách nhiệm để từng bước điều chỉnh mình. Mặt khác, thường xuyên liên lạc thông báo với phụ huynh để cùng theo dõi, nhắc nhở và tạo môi trường giáo dục chặt chẽ hơn giữa nhà trường và gia đình. Đối với HS tiếp thu bài còn chậm, năng lực học yếu, tôi tìm hiểu nguyên nhân vì sao em đó học yếu, học yếu những môn nào. Tôi đã lập kế hoạch giúp đỡ HS bằng những việc cụ thể như giảng lại bài mà các em chưa hiểu vào 15 phút đầu giờ, cuối buổi học; trao đổi với GVBM về HS để cùng bàn bạc đưa ra biện pháp hỗ trợ như đặt những câu hỏi, bài tập đơn giản, cơ bản để HS có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em; thường xuyên kiểm tra các em trong quá trình lên lớp; tổ chức cho HS học theo nhóm để học sinh khá giỏi giúp kèm cặp thêm; gặp gỡ phụ huynh HS trao đổi về tình hình học tập, cũng như sự tiến bộ của con em để phụ huynh giúp đỡ thêm. Đối với HS khá, giỏi, có năng khiếu đặc biệt, trong quá trình giảng dạy, tôi kết hợp ra các câu hỏi, bài tập nâng cao, khó hơn để các em không nhàm chán, hứng thú học tập và phát huy năng lực. Tôi cũng động viên các em tham gia các hội thi của nhà trường cũng như của ngành tổ chức. Điều quan trọng nữa để hiểu HS một cách toàn diện, GVCN biết đặt mình vào vị trí, hoàn cảnh của HS, hãy nhớ lại bản thân mình lúc ở độ tuổi các em để hiểu và thấu cảm,
  4. 6 làm người bạn thực sự của HS, giúp các em sẵn sàng chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng, nói ra những khó khăn, vướng mắc trong học tập, những điều khó nói với cha mẹ trong đời sống tình cảm của các em. Một cách tôi đã làm để giúp các em nói ra điều mình mong muốn, suy nghĩ về tình cảm bạn bè cùng giới, khác giới đó là phối hợp với GVBM Ngữ văn tổ chức thảo luận về “tình bạn đẹp”. Các em đã thảo luận, cởi mở trình bày suy nghĩ, quan điểm của mình về chủ đề này. Từ đó tôi định hướng cho các em có quan hệ đúng đắn với bạn cùng cùng giới, bạn khác giới. Làm bạn với HS giúp tôi hiểu nhiều hơn về HS và khi đó các em nhận được sự tư vấn, hỗ trợ kịp thời từ GVCN, tạo hiệu ứng tích cực ngược lại từ phía HS. Với việc quan tâm sâu sát HS, tôi đã hiểu các em một cách toàn diện về mọi mặt. Từ đó có những giải pháp giáo dục đúng đối tượng, giúp các HS giỏi phát triển năng lực, sở trường của mình, các HS chưa chăm ngoan biết phấn đấu vươn lên xây dựng tập thể vững mạnh. 3. Thân thiện, gần gũi với học sinh Một trong những nguyên nhân khiến cho công tác chủ nhiệm lớp gặp khó khăn đó là sự mất kết nối giữa GVCN và HS. Khoảng cách ngày càng lớn bởi thiếu sự quan tâm, thấu hiểu, thiếu sự chia sẻ và thiếu niềm tin vào nhau. Vì vậy GVCN cần xóa bỏ hàng rào khoảng cách này bằng cách tạo sự thân thiện, gần gũi với HS. Thân thiện, gần gũi giữa GVCN và HS được thiết lập trước hết bằng sự cởi mởi trong giao tiếp. Nó thể hiện qua nét mặt, ánh mắt, lời nói, hành động cụ thể. Khi lên lớp, tôi luôn đưa sự hài hước vào bài học một cách tự nhiên tạo không khí thoải mái giúp HS tích cực xây dựng bài. Đặt câu hỏi để HS chia sẻ bất kỳ trải nghiệm nào của các em có liên quan tới nội dung bài học giúp HS cảm thấy thư giãn và trò chuyện với thầy cô nhiều hơn. Sự cởi mở này giúp HS cảm nhận thầy cô chủ nhiệm lớp gần gũi hơn, các em có thể kết nối và nói chuyện với GVCN nhiều hơn. Đặc biệt, GVCN phải luôn đồng hành cùng các em trong mọi hoạt động từ học tập, lao động, đến các phong trào, hội thi, hay các hoạt động ngoại khóa. Trong học kì vừa qua, tôi luôn hỗ trợ các em trong học tập khi các em có vướng mắc; tham gia các hoạt động tập thể do nhà trường, liên đội tổ chức như làm báo tường chào, hội thi giới thiệu sách; chăm sóc công trình măng non, vệ sinh khuôn viên trường lớp sau các đợt lũ lụt, Tôi cũng cố gắng tham gia các hoạt động ngoại khóa, ví dụ như một giải bóng đá mà HS của mình đang thi đấu. Thể hiện sự quan tâm, thích thú đến các hoạt động ngoại khóa của
  5. 7 các em giúp HS cảm thấy thầy cô chủ nhiệm quan tâm tới mọi khía cạnh cuộc sống của mình. Để đổi mới hình thức sinh hoạt lớp tôi tổ chức các trò chơi, các hoạt động văn hóa, văn nghệ kết hợp trang trí, vệ sinh lớp học theo từng chủ đề, chủ điểm của từng tháng. Là một GVCN lớp cùng với vai trò là một bí thư Chi đoàn, tôi cũng phối hợp với Liên đội tổ chức các sân chơi, các hoạt động hướng về nguồn cho các em rèn luyện, trải nghiệm: hành trình thăm nhà Đại tướng VNG, thăm nhà truyền thống huyện Lệ Thủy, vệ sinh khuôn viên, trồng và chăm sóc hoa khu di tích lịch sử bia căm hờn Mỹ Trạch. Qua đó, giáo dục đạo đức, lòng yêu quê hương, đất nước và giúp các em có động cơ đúng đắn phấn đấu sớm đứng vào hàng ngũ Đoàn THCS Hồ Chí Minh. Bằng cách làm này đã rút ngắn khoảng cách, tạo mối quan hệ gần gũi thân thiện giữa GVCN và HS. Từ đó, HS đã biết lắng nghe và biết cố gắng hơn trong học tập và rèn luyện. 4. Khen ngợi, khích lệ, động viên học sinh Có lẽ, chúng ta đều đã trải nghiệm cảm giác được ngợi khen. Học sinh cũng vậy, các em cũng thích được thầy cô giáo khen ngợi, biểu dương. Chính vì thế, trong giáo dục HS, tôi luôn khích lệ, biểu dương các em kịp thời. Tôi khen ngợi những ưu điểm, sở trường của các em để các em cảm thấy giá trị của mình được nâng cao. Tôi khích lệ cho những biểu hiện tốt, việc làm tốt để các em không ngừng tiến bộ. Tôi động viên cho những cố gắng dù chỉ là nhỏ để các em thấy được thầy cô chủ nhiệm thực sự quan tâm đến các em. Lời khen ngợi, động viên không nên chung chung mà phải chi tiết, gắn với hành vi cụ thể của các em và gắn với cảm xúc cá nhân của giáo viên “cô cảm thấy ”, “cô mong muốn ”, “cô tin rằng ” để truyền đạt sự chân thành. Ví dụ, khi HS có cách giải hay, tôi khen “em đã làm rất tốt khi đưa ra một cách giải riêng biệt và sáng tạo”; khi HS vốn rất ít phát biểu vì năng lực tiếp thu bài còn hạn chế nhưng bằng sự gợi ý, động viên của GV em đã xung phong và hoàn thành tốt bài tập, tôi khen “cô rất bất ngờ về em, cô tin bằng sự nổ lực và quyết tâm học tập em sẽ làm được”; một học sinh còn chưa học tốt, nhưng trong lao động em đã rất tích cực và tự giác, tôi ghi nhận và khen “Cô đánh giá cao mức độ hoàn thành công việc trong buổi lao động hôm nay của em ”; Tôi cũng kết hợp với việc viết tin nhắn khen trên nhóm lớp, khen cá nhân em trong sổ đầu bài, lúc đó các em sẽ tự hào và vinh dự hơn khi tên của mình được nêu lên. Tôi cũng đã áp dụng hình thức tặng sticker các hình dễ thương cho HS có thành tích tốt, HS có tiến bộ trong học tập và rèn luyện trong tuần và vào cuối mỗi đợt thi đua, tổ trưởng sẽ
  6. 8 tổng hợp số sticker mà tổ viên đã đạt được để quy đổi thành các phần thưởng nhỏ như kẹo, các đồ dùng học tập như vở, bút, thước, màu, Khen ngợi, khích lệ, động viên là một trong những cách tạo cho HS có nhiều động lực hơn trong học tập và đến trường với một tâm thế thoải mái, tươi vui, giúp HS vững tin hơn và thấy được giá trị của bản thân để từ đó không ngừng rèn luyện, phát huy, tiến bộ từng ngày trong học tập, rèn luyện. 5. Áp dụng hình thức nhắc nhở, tổ chức các hoạt động tích cực giúp HS nhận ra và sửa lỗi Đối tượng giáo dục của người GV là những nhân cách, những con người cụ thể. Mỗi em có những đặc điểm, cá tính riêng. Bên cạnh các em chăm ngoan, học giỏi, ý thức tốt trong rèn luyện đạo đức thì vẫn còn không ít HS có hành vi, thái độ chưa phù hợp với chuẩn mực chung về đạo đức và văn hóa học đường. Khi mà các biện pháp giáo dục khác tác động vào ý thức HS không phát huy tác dụng thì tôi còn áp dụng thêm hình thức nhắc nhở, tổ chức các hoạt động tích cực giúp HS nhận ra và sửa lỗi. Để hình thức giáo dục này được các em chấp nhận một cách thuyết phục, trước hết tôi cùng HS xây dựng nội quy lớp học. Trong tiết sinh hoạt đầu tiên, tôi cho HS thảo luận theo nhóm để thiết lập các nội quy trên định hướng ban đầu của GVCN (điều nên làm, điều không nên làm), sau đó các nhóm trưởng trình bày, cuối cùng GVCN và HS thống nhất những nội quy chung. Một số hình thức tôi đã áp dụng khi thực hiện biện pháp này: yêu cầu HS thực hiện một số nhiệm vụ học tập và rèn luyện chưa hoàn thành đã được cam kết thực hiện theo nội quy, như: học thuộc bài cũ, viết lại từ mới, công thức cần nhớ, hoàn thành bài tập chưa làm vào cuối buổi học hoặc trái buổi học dưới sự giám sát, hỗ trợ của GVCN và đội ngũ ban cán sự lớp; lao động tích cực với các HS thường xuyên có những hành vi không giữ gìn vệ sinh chung, các em tự khắc phục hậu quả bằng cách vệ sinh lớp học, lau chùi bàn ghế, cửa sổ; hay yêu cầu HS tìm đọc sách, báo, tài liệu ở thư viện có liên quan đến những hành vi chưa đúng của các em dưới sự hỗ trợ, tư vấn cô giáo thư viện. Quan trọng hơn cả, sau mỗi hoạt động trên, tôi thường cho HS tự nêu lên suy nghĩ, chia sẻ cảm nhận kết quả trước - sau khi làm và rút ra bài học cho bản thân trước toàn lớp. Cách làm này đã giúp HS giảm thiểu các hành vi không phù hợp, củng cố những hành vi tích cực và phát triển nhân cách các em một cách tốt nhất. B. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
  7. 9 Sau một thời gian áp dụng “Biện pháp thiết lập mối quan hệ tích cực giữa giáo viên chủ nhiệm và học sinh lớp 9”, tôi nhận thấy rằng mối quan hệ giữa tôi và các em đã được cải thiện rõ rệt theo chiều hướng tốt lên. Điều đó được thể hiện qua thái độ, tình cảm của các em đối với GVCN. Các em tôn trọng, yêu mến, quan tâm, mạnh dạn chia sẻ các vấn đề gặp phải trong học tập, trong đời sống như cách mà tôi đã làm với các em. Các em đoàn kết, giúp đỡ, bảo ban nhau trong học tập và rèn luyện. Các em đã có trách nhiệm với tập thể hơn, tự giác cao hơn và nghiêm chỉnh chấp hành các nội quy trong vui vẻ, tự nguyện. Kết quả này đã được thể hiện rõ nét qua bảng tổng hợp về mối quan hệ giữa GVCN và HS mà tôi đã tiến hành khảo sát ở 39 HS lớp chủ nhiệm vào cuối HKI năm học 2022 -2023: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ KHẢO SÁT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA GVCN VÀ HỌC SINH CUỐI KÌ I Hoàn toàn Không TT Đồng ý NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ đồng ý đồng ý SL % SL % SL % 1. GVCN có tác phong nghiêm túc, lời nói chuẩn 37 94,9 2 5,1 0 0 mực, là tấm gương cho HS noi theo 2. GVCN nắm bắt thông tin HS kịp thời, hiểu HS, thân thiện, cởi mở, đồng hành cùng HS trong 30 76,9 9 23,1 0 0 các hoạt động 3. GVCN luôn khích lệ, khen ngợi HS kịp thời 32 82,1 7 17,9 0 0 4. HS luôn cảm thấy vui vẻ khi đến lớp, cởi mở, 35 89,7 4 10,3 0 0 mạnh dạn chia sẻ và tâm sự với GVCN 5. HS tự nguyện tự, giác thực hiện các hoạt động mà GVCN đưa ra khi HS có hành vi, thái độ và 30 76,9 9 23,1 0 0 việc làm chưa đúng Biện pháp trên đã tác động tích cực đến toàn thể HS. Những em học giỏi phát huy được năng lực của mình và ngày có những thành tích cao trong học tập, như em Trương Quang Minh, em Phan Việt Hà đã đạt giải ba trong kì thi học sinh giỏi cấp Tỉnh; em Trương Quang Minh đạt giải nhì cuộc thi như giải tiếng Anh qua mạng cấp huyện, em Đào Ánh Dương đạt giải khuyến khích cuộc thi “An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai” cấp Tỉnh. Bên cạnh đó, các em chưa ngoan, chưa chăm chỉ trong học tập cũng dần
  8. 10 tiến bộ, hòa mình với phong trào thi đua của tập thể. Tiêu biểu có em Nguyễn Văn Đạt, với sự động viên, quan tâm và hỗ trợ kịp thời từ GVCN kết hợp khai thác hiệu quả vai trò đôi bạn cùng tiến và sự quan tâm thường xuyên của phụ huynh em tiến bộ rõ rệt trong học tập và rèn luyện, so với cuối HKII năm học trước, em xếp loại yếu về học lực và trung bình về hạnh kiểm thì nay đã đạt học lực trung bình và hạnh kiểm đạt mức tốt vào cuối HKI năm học 2022 - 2023. Gương vượt khó trong trong học tập và rèn luyện phải kể đến em Bùi Việt Anh - có mẹ bị khiếm thị, em Nguyễn Thị Minh Thư - ở với ông bà già yếu, em Nguyễn Tiến Nhật - gia đình thuộc diện hộ nghèo; năm học trước các em còn ham chơi theo bạn bè bên ngoài, nghiện các trò chơi điện tử nhưng bằng cách tạo ra các phong trào cho các em tham gia, các em đã có trách nhiệm hơn và luôn nổ lực cố gắng vì sự tin tưởng của GVCN, kết quả học tập và rèn luyện của các em đều cao hơn, trong dịp Tết vừa rồi em Tiến Nhật được nhận học bổng từ chương trình “Sóng và máy tính cho em”, và còn rất nhiều tấm gương đáng tuyên dương khác nữa. Với sự tiến bộ của mỗi cá nhân HS đã tạo nên sự chuyển biến tích cực của một tập thể. Các em đã cùng nhau xây dựng một tập thể đoàn kết, biết yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Lớp 9A luôn là tập thể dẫn đầu trong các hội thi, các phong trào: giải ba hội thi “báo tường chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11”; giải nhì hội thi “giới thiệu sách” nhân dịp 22/12, giải nhì “công trình măng non” chào mừng ngày 22/12; vị thứ xếp loại của lớp được nâng lên (3/9 lớp trong toàn trường) và được công nhận tập thể lớp tiên tiến trong HKI năm học 2022 - 2023. Kết quả trên còn được thể hiện rõ nét qua biểu đồ thay đổi học lực và hạnh kiểm cuối HKI năm học 2022 - 2023 so với cuối HKII năm học 2021 - 2022 của 39 HS lớp 9A như sau: Sự thay đổi về học lực Sự thay đổi về hạnh kiểm 20 40 34 15 15 15 12 30 25 10 11 10 8 20 6 10 5 5 1 10 4 0 0 Giỏi Khá Tb Yếu Tốt Khá Tb Lớp 8A cuối HKII, 2021 - 2022 Lớp 8A cuối HKII, 2021 - 2022 Lớp 9A cuối HKI, 2022 - 2023 Lớp 9A cuối HKI, 2022 - 2023
  9. 11 Với kết quả đó, tôi thực sự tự hào và hạnh phúc vì những gì các em đã làm được. Vui mừng vì biện pháp giáo dục HS trong nhiệm vụ chủ nhiệm lớp của tôi đã đạt được những thành công nhất định. Tôi cảm nhận được niềm tin yêu của các em, sự tôn trọng, quý mến của phụ huynh học sinh dành cho mình. Những nổ lực, thành công trong dạy học và trong công tác chủ nhiệm lớp của tôi đã được nhà trường ghi nhận, đánh giá và xếp loại thi đua HKI đạt mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tôi sẽ cố gắng phát huy biện pháp trên một cách triệt để trong thời gian tới và cho các năm học sau. Đồng thời, sẽ không ngừng học hỏi, phối kết hợp các biện pháp giáo dục khác để tôi thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nữa trong công tác chủ nhiệm lớp, thực hiện tốt trách nhiệm ươm mầm cho sự nghiệp trồng người. Kính mong sự đóng góp của các thầy cô giáo để biện pháp thực hiện hữu hiệu và triển khai rộng rãi hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ HIỆU TRƯỞNG GIÁO VIÊN Trần Thị Diệu Liến Hoàng Thị Thanh Thảo