Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy Văn học Trung đại cho học sinh Lớp 9

doc 7 trang Chăm Nguyễn 12/04/2026 50
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy Văn học Trung đại cho học sinh Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_giang_d.doc

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy Văn học Trung đại cho học sinh Lớp 9

  1. 3 Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao. Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài. Đội trời, đạp đất ở đời, Họ Từ tên Hải, vốn người Việt Đông ” Như vậy trong đoạn thơ có hàng loạt từ phải hiểu như: “biên đình, râu hùm, hàm én, mày ngài, côn quyền, lược thao, đội trời đạp đất”.... Muốn hiểu rõ tất cả những chữ nghĩa nói trên ta cần phải đọc kĩ chú thích trong sách giáo khoa để tìm ra ý nghĩa cả đoạn thơ. Một điều đáng chú ý nữa là văn Trung Đại rất trọng lối văn biền ngẫu, đối nhau, ý điệp lại dưới nhiều hình thức, vì thế tôi đã hướng dẫn các em để nắm được ý một câu, một đoạn phải biết rút gọn để tìm ra thực chất ý nghĩa. Ví dụ: Trong bài “ Người con gái Nam Xương” kể chuyện Vũ Nương bị chồng nghi oan, nàng đã ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm Ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ Bản thân sẽ hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu xem đoạn văn biền ngẫu điệp ý như thế nào? Chẳng hạn: “Đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng”; “ Lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con”. Có thể rút gọn lời thề của Vũ Nương: Nếu chung thủy, thiếp sẽ được chết trong sáng, còn nếu lừa dối, thiếp sẽ phải chết thảm khốc. Có những chú thích đọc kĩ để hiểu nghĩa câu văn nhưng có những chú thích cần phải ghi nhớ học thuộc lòng, dần dần các em sẽ có một vốn từ cổ, vốn điển cố cần thiết để hiểu văn cổ và làm giàu vốn ngôn ngữ văn hóa phải có trong cuộc sống sau này của các em. Cho nên khâu chuẩn bị ở nhà, bước đọc kĩ chú thích rất quan trọng, tôi cố gắng và hầu như “bắt buộc” các em phải đọc kĩ. Bước 2. Hướng dẫn học sinh tự suy nghĩ, tìm hiểu bài văn đã học Sự thưởng thức văn học dù cổ hay kim, bao giờ cũng đòi hỏi công sức suy nghĩ vì văn học rất tinh tế, nó tác động đến mỗi người một khác. Sự cảm nhận của từng người không giống nhau, tùy theo trình độ và công sức suy nghĩ. Đối với học sinh, những câu hỏi hướng dẫn tìm hiểu bài văn trong sách giáo khoa giúp các em phương hướng suy nghĩ, bước đầu tự tìm hiểu bài văn trong điều kiện các em còn hạn chế về trình độ nhận thức, phương pháp và thói quen thưởng thức văn học. Nhưng nó chỉ có tác dụng gợi mở định hướng chứ không ngăn cản hạn chế sự tìm tòi, khám phá, cảm nhận riêng của các em. Tôi đã hướng dẫn yêu cầu các em việc tìm hiểu bài văn theo những câu hỏi hướng dẫn trong sách giáo khoa phải làm nghiêm túc, đầy đủ, có suy nghĩ vì
  2. 4 nó gợi mở những điều cơ bản. Đối với văn học Trung Đại, các em cần phải làm tốt hơn, nếu không tự các em sẽ không tìm ra lối đi vào thế giới văn cổ tràn đầy những chữ Hán, từ cổ, điển cố, phép đối xứng, câu biền ngẫu, cách nói văn chương vốn đủ các loại hình thức tu từ. Tôi hướng dẫn học sinh phải tìm ngôn ngữ, nhịp điệu, giọng điệu, hình ảnh, kết cấu của bài văn mà tìm ra cách nhìn, cách hiểu, cách cảm của nhà văn trước những vấn đề của cuộc sống, không thể chỉ bằng lòng với mấy cảm nghĩ chung chung, trừu tượng thoáng nảy ra trong tâm trí các em khi đọc bài văn. Tôi còn hướng dẫn học sinh nhận biết được: Nếu là văn thơ Trung Đại của nước ta, loại văn thơ ra đời dưới thời phong kiến, không quên được một đặc trưng nổi bậc của nghệ thuật văn học phong kiến là ít tả đúng thực chi tiết chân chất có thực trong đời sống mà thiên về tả những cái không hoàn toàn xác thực nhưng có sự gợi cảm và mang ý nghĩa tượng trưng theo những công thức sẵn có hoặc bằng những hình thức tu từ rất văn chương, hoa mỹ. Đó là cách miêu tả, diễn đạt có tính chất ước lệ, tượng trưng. Không nên hiểu tất cả các chi tiết theo nghĩa xác thực mà phải hiểu theo nghĩa bóng bẩy, ngụ ý nhiều rất thâm thúy của nhà văn. Học sinh sẽ gặp trong văn thơ Trung Đại hàng loạt những câu, những đoạn như thế, nếu các em không nắm vững các đặc điểm nói trên thì các em không thể hiểu cái hay, cái đẹp của nó. Vì vậy, khâu hướng dẫn học sinh chuẩn bị ở nhà là một khâu đòi hỏi thời gian nhiều, giáo viên đầu tư vào tiết dạy cao. Học sinh có tư thế tiếp nhận kiến thức từ một bài văn, bài thơ cổ tốt. 1.1.2. Biện pháp 2: Việc học tập trên lớp của học sinh Công việc tìm hiểu bài văn, bài thơ ở phần văn học Trung Đại trên lớp là tiếp tục công việc tự tìm hiểu ở nhà của học sinh. Cái khác là có sự hướng dẫn của thầy cô, có sự tham gia ý kiến của bạn bè và bản thân trong điều kiện một thời gian nhất định, đạt được một sự cảm thụ, hiểu biết có hệ thống, chính xác, sâu sắc, đầy đủ hơn về bài văn. Đối với bản thân giáo viên giảng dạy bộ môn ngữ văn lớp 9, trong việc giảng dạy theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, bản thân đã hướng dẫn, áp dụng trong tiết dạy nhằm làm cho học sinh không những tự tìm ra con đường phân tích, đánh giá, thưởng thức tác phẩm văn học mà còn tự rút ra cho mình những bài học sâu sắc về tư tưởng, tình cảm, lối sống cũng như các kĩ năng văn học. Do vậy, trong giờ Ngữ Văn, giáo viên dạy bộ môn phải huy động, thể hiện mọi năng lực sư phạm, năng lực phân tích cảm thụ văn học, năng lực ngôn ngữ, năng lực văn hóa tổng hợp...để giúp học sinh học tốt. Như đã nói ở trên, để tiến hành tốt việc giảng dạy của giáo viên và tiếp nhận của học sinh một cách dễ dàng thì khâu chuẩn bị bài của học sinh ở nhà là khâu rất quan trọng, ngoài ra hoạt động của giáo viên ở nhà (chuẩn bị giáo án) cũng hết sức quan trọng, bởi vì có soạn giảng kĩ thì giáo viên mới xác định những nội dung và kĩ năng cơ bản của bài giảng, nắm được sự hiểu biết của học
  3. 5 sinh (qua việc soạn bài của học sinh). Từ đó, dự kiến các phương pháp dạy học nhằm tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng tích cực. 1.1.3. Biện pháp 3: Hoạt động sau bài học trên lớp Như đã nói ở trên, phần này là phần làm bài tập để củng cố bài học, luyện tập kĩ năng, mở rộng hiểu biết làm cho việc học văn có kết quả hơn. Thứ nhất: Cho học sinh đọc diễn cảm bài văn, bài thơ. Khác với hoạt động chuẩn bị ở nhà, yêu cầu học sinh đọc lại bài văn, bài thơ đến đây có cao hơn, phải tập đọc diễn cảm, có suy nghĩ sáng tạo trong cách đọc. Thứ hai: Cho học sinh đọc thuộc lòng bài văn, đoạn văn, bài thơ hoặc đoạn thơ theo yêu cầu của giáo viên. Học thuộc nhiều văn thơ là một biện pháp rất quan trọng để học văn có kết quả. Thứ ba: Hướng dẫn học sinh tập viết một đoạn văn ngắn để phát biểu ý kiến về một nhân vật hay một vấn đề trong bài văn, bài thơ. Một điều quan trọng là hướng dẫn cho học sinh tiếp tục suy nghĩ, tìm tòi về bài văn, bài thơ đã học, từ đó có thể tìm ra những thói quen thưởng thức văn học. Ngoài ra, sau các tiết học trong giờ chính khóa trên lớp, để giúp các em học sinh nắm kĩ và sâu về một số tác giả, tác phẩm lớn, giáo viên tổ chức cho học sinh trải nghiệm đóng vai nhân vật trong tác phẩm văn học, cho các em tìm hiểu thêm ở một số tài liệu mà các em biết có liên quan đến những bài đã học, sau đó cho các em tự phát biểu, trao đổi, thảo luận. Những chỗ nào chưa rõ, chưa chính xác giáo viên sẽ sửa chữa và chốt lại một số điểm chính về tác giả, tác phẩm đó. Đó cũng là một trong những cách để giúp các em hứng khởi, thích học văn thơ cổ hơn. 1.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết (nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở): Năm học này tôi được phân công giảng dạy Ngữ văn 9, có thể nói điểm mới của chương trình Giáo dục phổ thông mấy năm gần đây có nhiều biến đổi bởi bị ảnh hưởng đại dịch covid-19, nhiều bài học được đưa vào phần khuyến khích học sinh tự đọc tự học, có sự xáo trộn thứ tự các tiết các bài học, nhiều phần được giảm tải, hoặc hai bài học dạy trong một tiết nhưng nội dung trọng tâm bài học phải truyền tải đảm bảo đến học sinh. Vì vậy bản thân tôi có rất nhiều băn khoăn, trăn trở trong việc giảng dạy, tôi cố gắng bổ sung một số biện pháp học tập tốt, dễ dàng tiếp thu vốn quý của nền văn học dân tộc. Về mặt ưu điểm: Nhìn chung đa số các em cũng có ý thức tìm tòi, say mê học hỏi. Ngoài thời gian học chính khóa trên lớp, các buổi chiều nhà trường tổ chức dạy phụ đạo học sinh yếu, bồi dưỡng học sinh giỏi. Tuy điều kiện còn khó khăn nhưng các em rất chăm ngoan, có cố gắng tìm tòi suy nghĩ trong học tập, cũng biết sử dụng công nghệ thông tin, truy cập các trang mạng, tra cứu từ điển tiếng Việt những nội dung có liên quan đến bài học. Cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo cho việc phục vụ dạy học phần nào giúp các em có điều kiện học tập tốt hơn. Do vậy, qua các điểm bài kiểm tra giữa kì, cuối kì một số học
  4. 6 sinh nắm được lí thuyết áp dụng thực hành rất tốt, bài làm có kết quả tương đối cao. Về mặt nhược điểm: Một số học sinh học tập một cách thụ động chưa có sự quan tâm của phụ huynh, chỉ dựa vào những kiến thức do giáo viên truyền đạt rồi học thuộc lòng. Chưa có sự sáng tạo, học hỏi còn chai lười, chưa phát huy tinh thần học tập dựa dẫm vào bạn bè, chưa thể thích nghi ngay được với phương pháp mới dạy học theo phát triển năng lực nên thời gian đầu các em tiếp thu bài còn chậm dẫn đến cảm thụ văn cũng thêm phần khó khăn, kết quả học tập chưa thật sự cao chỉ mang tính tương đối. 1.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại (nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở): Để khắc phục những nhược điểm hiện tại là một giáo viên đứng lớp tôi thường xuyên nhắc nhỡ, đôn đốc hướng dẫn học sinh việc chuẩn bị bài ở nhà rất quan trọng, tìm tòi những nội dung mới mẽ qua các trang mạng, truy cập thêm công nghệ thông tin, hướng dẫn các em đọc diễn cảm bài văn, bài thơ, chú ý những từ ngữ khó hiểu tra cứu ngay từ điển tiếng Việt để nắm bắt toàn bộ nội dung của bài. Bên cạnh đó, tôi còn hướng dẫn học sinh phải tự tập thói quen suy nghĩ, sáng tạo và phát huy tính tự giác trong học tập để có thêm kiến thức bổ ích về bộ môn ngữ văn. Sau đó, định hướng học sinh tập viết cảm thụ một đoạn văn ngắn phát biểu ý kiến về một nhân vật hay một vấn đề nào đó trong bài văn, bài thơ, kiểm tra, theo dõi quá trình học sinh làm bài, chỗ nào chưa rõ, chưa chính xác giáo viên sẽ sửa chữa và chốt lại những vấn đề liên quan đến nội dung của bài. Đó cũng là một trong những cách để giúp các em hứng khởi, thích học văn thơ cổ hơn. Điều quan trọng nhất giáo viên kịp thời động viên, khuyến khích, tuyên dương, khen ngợi, đúng lúc, kịp thời những học sinh có tinh thần học tập tốt, uốn nắn những suy nghĩ lệch lạc của học sinh một cách nhẹ nhàng để các em có sự tiến bộ trong học tập và chịu khó dìu dắt đến đối tượng học sinh yếu kém, hạn chế đọc viết chưa có phương pháp học tập để các em thấy được tầm quan trọng của việc học môn ngữ văn. 1.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến: Đối tượng học sinh lớp 9 trên địa bàn huyện Phước Sơn. 1.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Để áp dụng có hiệu quả những biện pháp này, nhà trường đã chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất các lớp học đều có màn hình Tivi, có các phòng chuyên môn, phòng học đầy đủ tiện nghi, khang trang. Đội ngũ giáo viên lâu năm có kinh nghiệm trong công tác. Giáo viên đứng lớp luôn tạo được một khí thế sôi nổi trong tiết dạy, sử dụng công nghệ thông tin, tranh ảnh sinh động phù hợp với nội dung bài học để các em học sinh tiếp thu bài nhanh hơn, kích thích sự tò mò cho học sinh. Một điều đáng mừng, ngoài giờ học chính khóa là những tiết trải nghiệm đóng vai nhân vật, tác phẩm văn học các em rất thích thú để các em có dịp trao đổi hiểu biết thêm về tác giả tác, phẩm văn thơ cổ.
  5. 7 Ngoài ra, điều quan trọng hơn giáo viên cần thực sự tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm cao, dành thời gian nhiều nghiên cứu phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, phát triển năng lực để giúp học sinh học tốt, tiếp thu hết những tinh hoa văn hóa của dân tộc, của nhân loại. Và để học tốt môn văn, học sinh phải trải qua quá trình rèn luyện nghiêm túc có sự hướng dẫn của giáo viên, tự biết hình thành kiến thức cho mình, thâu tóm những nội dung cơ bản một cách có chọn lọc, biết tự suy nghĩ, tìm tòi về bài văn, bài thơ đã học, từ đó có thể tìm ra những thói quen thưởng thức văn học cổ. 1.6. Hiệu quả sáng kiến mang lại: Sau một thời gian vận dụng, bổ sung một số biện pháp cũng như việc thực hiện các bước lên lớp theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học cũng như chuẩn kĩ năng kiến thức vào trong một tiết học văn nói chung và trong tiết văn thơ cổ nói riêng, bản thân tôi đã thu được một số kết quả nhất định. Học sinh lớp 9 do tôi đảm nhiệm giảng dạy đã có những tiến bộ đáng kể, chất lượng học tập bộ môn Ngữ Văn có nhiều chuyển biến rõ rệt. Đặc biệt là giáo viên đã tạo được một khí thế sôi nổi học môn văn nhưng nói rõ hơn là học văn thơ trung đại. Ngoài việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà và hướng dẫn học sinh tiếp thu bài trên lớp, luyện tập sau bài học thì người giáo viên phải đầu tư vào bài dạy của mình, việc đầu tư phải cụ thể, có phương pháp và luôn được cải tiến, nhất là cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng, phát triển năng lực để giúp học sinh học tốt hơn. CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP MÔN NGỮ VĂN 9 TS Giỏi Khá TB Yếu Kém Năm học H TL TL SL SL TL% SL TL% SL TL% SL S % % Học kì I 25 0 0% 2 8% 16 64% 7 28% 0 0 2020-2021 Học kì I 25 0 0% 5 20% 14 56% 6 25% 0 0 2021-2022 Qua bảng trên ta thấy, chất lượng học tập của học sinh có tiến bộ đáng kể, học sinh yếu giảm đi nhiều và học sinh trung bình được tăng lên rõ rệt. 2. Những thông tin cần được bảo mật - nếu có: Không có 3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu - nếu có: TT Họ và tên Nơi công tác Nơi áp dụng sáng kiến Ghi chú 4. Hồ sơ kèm theo (Bản mô tả nội dung sáng kiến có thể minh họa bằng các bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm... - nếu có)