Báo cáo biên pháp Rèn kỹ năng làm bài phần đọc hiểu ngữ liệu ngoài văn bản cho học sinh Lớp 9
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo biên pháp Rèn kỹ năng làm bài phần đọc hiểu ngữ liệu ngoài văn bản cho học sinh Lớp 9", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_bien_phap_ren_ky_nang_lam_bai_phan_doc_hieu_ngu_lieu.docx
Báo cáo biên pháp Rèn kỹ năng làm bài phần đọc hiểu ngữ liệu ngoài văn bản cho học sinh Lớp 9.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo biên pháp Rèn kỹ năng làm bài phần đọc hiểu ngữ liệu ngoài văn bản cho học sinh Lớp 9
- 3 III. Mục đích nghiên cứu: Với vai trò nghề giáo tôi luôn tâm niệm làm sao cho các em học sinh hiểu bài và làm bài nhanh nhất, tốt nhất. Học sinh có kĩ năng học và ôn thi được vào phổ thông trung học là điều tôi mong muốn, hi vọng. IV. Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 9 trường Trung học cơ sở khi đọc hiểu văn bản ngoài chương trình. PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận: Đọc - hiểu là một năng lực tiếp nhận văn bản, thông qua hoạt động của con người đọc chữ, xem các kí hiệu bảng biểu, hình ảnh trong nhiều loại văn bản khác nhau, nhằm xử lí thông tin trong văn bản để phục vụ những mục đích cụ thể trong học tập hoặc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống. Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để chiếm lĩnh văn hóa. Khái niệm đọc hiểu (comprehension reading) có nội hàm khoa học phong phú có nhiều cấp độ gắn liền với lí luận dạy học văn, lí thuyết tiếp nhận tâm lí học nghệ thuật, lí thuyết giao tiếp thi pháp học, tường giải học văn bản học Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe. Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào? Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt. Mục đích trong tác phẩm văn chương, đọc hiểu là phải thấy được: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng; ý đồ, mục đích. Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tượng nghệ thuật Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh. Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật. Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề đọc hiểu văn bản ngày càng được quan tâm. II. Cơ sở thực tiễn
- 4 Như trong phần đặt vấn đề đã nói: dạng bài đọc hiểu một tác phẩm ngoài chương trình là một trong những nội dung khá mới song rất quan trọng và có ý nghĩa đối với học sinh. Trên thực tế, việc dạy văn và học văn chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn. Thực tế giảng dạy và ôn tập chưa làm cho học sinh hứng thú khi học bộ môn này. Nhất là đối với các em học sinh lớp 9 - áp lực thi cử khiến các em nhiều khi mệt mỏi. Cùng với đó, cách dạy biến học sinh trong quá trình ôn tập diễn ra một cách thụ động với học sinh qua công thức: Nghe- chép- học thuộc- tái hiện những gì thầy cô đã dạy. Chính vì lẽ đó, học sinh bị chai sạn cảm xúc, không có tâm thế và hứng thú tìm hiểu, khai thác, chiếm lĩnh bộ môn vốn dĩ cực kỳ giàu chất ngôn ngữ và nhân văn này. Tất cả các bài học, thông điệp, nội dung tư tưởng, cái hay, cái đẹp của tác phẩm đã phần nào bị chìm lấp bởi các thao tác lặp đi lặp lại đến nhàm chán đó. Tác phẩm trong chương trình đã vậy, ngoài chương trình hay chưa lần nào bắt gặp các em còn sợ hơn, lung túng hơn. Tuy hiện tượng này không phải là tất cả nhưng rất phổ biến. Đối với học sinh khối 9 trường THCS Vạn Phúc cũng không phải là ngoại lệ. Mặc dù đa phần các em ngoan ngoãn, có ý thức song vẫn không tránh khỏi tình trạng như tôi vừa nêu trên, nhất là qua kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT 2019 – 2020, lần đầu tiên trong đề thi có kiểu bài dạng bài đọc hiểu một tác phẩm ngoài chương trình- ngữ liệu trong bài tiếng Việt nên các em đã tỏ ra khá lúng túng. Năng lực cảm thụ, năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh còn rất hạn chế. Do không có năng lực đọc hiểu, nên khi tiếp cận với một văn bản mới ngoài và sách giáo khoa sẽ mất rất nhiều thời gian để đọc hiểu văn bản, dẫn đến không còn đủ thời gian để làm các phần còn lại. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả làm bài của các em. Những học sinh trung bình và yếu, lười học, lười đọc, ngại suy nghĩ, làm việc rập khuôn, khi giao bài tập về nhà thường không tự mình đọc văn bản, suy nghĩ để làm bài mà các em thường tìm kiếm câu trả lời trên mạng, hoặc chép bài của bạn. Chính vì vậy, kĩ năng làm bài của các em rất hạn chế, nhiều em chưa nắm vững kiến thức nên khó vận dụng để làm bài tập, đặc biệt đây lại là một dạng bài tập khó, đòi hỏi sự vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng, phân tích tổng hợp, tư duy Với thực trạng như vậy nên khi đến với một dạng bài tập khá mới mẻ và phải phát huy hết khả năng tích cực, chủ động, sáng tạo của bản thân dạng bài đọc hiểu một tác phẩm ngoài chương trình thì học sinh hầu hết sẽ thấy bỡ ngỡ và khó khăn. Vấn đề đặt ra với người giáo viên dạy văn là làm gì để khắc phục tình trạng đó? Có một câu nói như thế này: “Người thầy giáo bình thường chỉ biết nói. Người thầy giáo giỏi biết phân tích. Người thầy giáo xuất sắc biết tạo tình huống. Còn người thầy giáo vĩ đại biết truyền cảm xúc.” Đúng như vậy, chỉ khi nào giáo viên truyền được cảm xúc tới học sinh, gợi lên trong các em khao khát chiếm lĩnh tác phẩm thì khi đó người giáo viên mới thực sự thành công, trở thành người thầy giáo vĩ đại. Sự “vĩ đại” ở đây
- 5 không phải được đo bằng các giải thưởng, bằng khen hay huân chương cao quý mà “vĩ đại”, đơn giản là đã giúp học sinh chạm được đến cái hay, cái đẹp của tác phẩm. Đấy là sự vĩ đại khi người thầy có chỗ đứng vững chắc trong tâm hồn, trái tim học trò. III. Nội dung và giải pháp cụ thể Từ các nguyên nhân, thực trạng trên, tôi đã cố gắng tìm hiểu cấu trúc, phạm vi, yêu cầu của dạng bài này để giúp các em nắm được. Sau đó, củng cố lại những kiến thức cần có để thực hiện việc đọc hiểu văn bản. Hướng dẫn các em các bước khi làm dạng bài này. Tìm tòi các bài tập, sắp xếp bài tập theo các mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao), quy về các dạng bài cụ thể, mỗi mức độ, mỗi dạng bài cụ thể hướng dẫn học sinh cách làm có ví dụ minh họa. Sau mỗi dạng, tôi đưa ra bài tập củng cố để học sinh tự rèn luyện. 1. Giải pháp 1: Khảo sát, phân loại đối tượng 1.1. Nội dung: Để làm được một bài tập đọc- hiểu học sinh phải nắm chắc một số kiến thức nền cơ bản như nghĩa của từ, biện pháp tu từ, phương tiện liên kết, các kiểu đoạn văn... ngoài ra còn phải là độ nhanh nhạy của việc tiếp xúc với câu hỏi. Muốn vậy giáo viên cần khảo sát để phân loại đối tượng, để tùy từng đối tượng xem xét có phương pháp dạy học cụ thể 1.2. Cách tiến hành - Khảo sát đầu năm học lớp 9 hoặc có thể cuối năm lớp 8 bằng một đề văn cụ thể 1.3. Minh họa Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi: Con ong làm mật, yêu hoa Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời Con người muốn sống, con ơi! Phải yêu đồng chí, yêu người anh em. Một ngôi sao chẳng sáng đêm Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng Một người- đâu phải nhân gian Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi! (Trích Tiếng ru- Tố Hữu. In trong tập Gió lộng; NXB Văn học- 1961) Câu 1. Nêu phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ?
- 6 Câu 2. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ sau: “Con ong làm mật, yêu hoa Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời” Câu 3. Tác giả muốn nhắn nhủ điều gì qua câu thơ: “Con người muốn sống, con ơi! Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.” Câu 4. Từ đoạn thơ và hiểu biết thực tế em suy nghĩ gì về vấn đề “Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong xã hội ngày nay”. Trình bày bằng một đoạn văn khoảng 2/3 trang giấy thi. 1.4. Kết quả thu được: Sĩ Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém Lớp số SL % SL % SL % SL % SL % 9A 40 2 5,0 9 22,5 23 57,5 5 12,5 1 2,5 9C 35 1 3 5 14,0 19 54,3 8 22,8 2 5,7 Nhìn vào bảng kết quả ta thấy tỉ lệ học sinh đạt điểm giỏi rất ít, nhiều em làm được bài nhưng không lấy được điểm trọn vẹn do bài thiếu ý. Nhiều em không biết cách làm bài do hổng kiến thức nền về từ và biện pháp tu từ, xác định thiếu, hoặc nếu xác định đúng được biện pháp tu từ đi chăng nữa cũng mất điểm phần nêu tác dụng: Nhấn mạnh sự gắn bó của sự vật với môi trường sống Một số em cảm thụ thơ văn kém không đưa ra được thông điệp trong 2 câu thơ trên, đa số trả lời vòng vo chưa chạm tới đáp án biểu điểm của đề Một số em kĩ năng viết văn nghị luận xã hội thiếu các bước, thiên về kể dẫn chứng, lập luận yếu. Một số hình ảnh bài làm của học sinh lớp 9C
- 7 2. Giải pháp 2: Rèn kỹ năng phân tích cấu trúc, phạm vi, yêu cầu của đề 2.2.1. Nội dung: * Cấu trúc của phần đọc hiểu Cấu trúc của dạng bài đọc hiểu gồm hai phần: - Phần 1: Ngữ liệu mở trong hoặc ngoài chương trình và sách giáo khoa (đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn, mẩu truyện ). Nhưng xu hướng sẽ là một văn bản mới hoàn toàn, không có trong chương trình và sách giáo khoa. - Phần 2: Thực hiện trả lời yêu cầu 4 câu hỏi dựa trên chuẩn kiến thức và kĩ năng hiện hành, mức độ từ dễ đến khó. * Phạm vi của phần đọc hiểu - Văn bản văn học: (Văn bản nghệ thuật) + Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các đoạn ngữ liệu tiếng Việt và phần Tập làm văn) + Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bản được học trong chương trình). - Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: Vấn đề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý, Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận và văn bản báo chí). * Các xác định yêu cầu của đề - Đề có thể hỏi về phương thức biểu đạt, về phương tiện liên kết - Về các biện pháp nghệ thuật, nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó - Về việc giải thích từ ngữ, hiểu từ ngữ - Những câu hỏi thiên về hiểu nội dung tư tưởng, những câu hỏi tại sao - Câu hỏi viết đoạn rút ra từ ý nghĩa, nội dung tư tưởng của ngữ liệu. 2.2.2. Cách tiến hành - GV cho học sinh làm quen với các dạng đề này từ chương trình lớp 8 - Hướng dẫn học sinh nhận dạng cấu trúc và phạm vi của đề, yêu cầu của đề cụ thể thông qua các tiết ôn tập, các tiết tiếng Việt, luyện tập tiếng Việt 2.2.3. Kết quả - Sau vài tiết hướng dẫn học sinh làm quen với các đề ngoài văn bản, học sinh đã có khả năng phân tích đề, biết xác định những vấn đề chính trong câu hỏi, từ phạm vi yêu cầu của đề. Gặp một đề ngữ liệu ngoài chương trình các em không còn lo lắng và sợ như ý nghĩ ban đầu. Đây tạo tiền đề cho học sinh không có áp lực thi cử.
- 8 3. Giải pháp 3: Rèn kĩ năng phân tích, nhận định và trả lời các dạng câu hỏi phần đọc- hiểu 3.3.1. Nội dung: Đa số thuộc kểu câu hỏi trả lời ngắn. Dạng câu hỏi học sinh phải viết câu trả lời dựa trên yêu cầu của câu hỏi một cách ngắn gọn, chính xác. Nội dung các câu hỏi độc lập, câu trên không gợi ý cho câu dưới. Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu đề thi tôi nhận thấy câu hỏi chủ yếu sử dụng trong đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh thường có hai kiểu câu hỏi: 3.3.2. Các dạng: a. Câu hỏi đóng- mở + Câu hỏi đóng: là câu hỏi được giới hạn rõ có một đáp án, thể hiện cách hiểu chính xác về văn bản. + Câu hỏi mở: là câu hỏi có thể có nhiều phương án trả lời khác nhau, thể hiện quan điểm suy nghĩ riêng của học sinh. Câu hỏi có nội dung trả lời mở thường được đặt ở vị trí cuối cùng trong hệ thống câu hỏi của phần đánh giá năng lực đọc hiểu. b. Câu hỏi theo mức độ - Câu hỏi nhận biết thường đưa ra yêu cầu thí sinh chỉ ra các phương thức biểu đạt, các thể thơ, các biện pháp tu từ trong văn bản. - Câu hỏi thông hiểu thường yêu cầu thí sinh xác định nội dung chính của văn bản hay một câu, một đoạn trong văn bản. Hoặc yêu cầu nêu tác dụng của các phép tu từ hay việc sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt, sử dụng từ ngữ trong văn bản, câu hỏi bày tỏ quan điểm thái độ: Em hiểu như thế nào? Em đồng tình với câu nói...? Em suy nghĩ gì? Theo anh/ chị...vì sao? - Câu hỏi vận dụng viết đoạn liên hệ một số vấn đề của đoạn ngữ liệu với cuộc sống. 3.3.2. Cách tiến hành: - Giáo viên luôn phải định hướng câu hỏi cho học sinh trong mỗi đề khi luyện, ngay cả khi dạy những văn bản trong chương trình cũng luôn tích hợp với văn bản ngoài chương trình - Là dạng câu hỏi học sinh phải viết câu trả lời dựa trên yêu cầu của câu hỏi một cách ngắn gọn, chính xác. Nội dung các câu hỏi độc lập, câu trên không gợi ý cho câu dưới. Nên khi đọc đề và làm đề giáo viên luôn định hướng cho học sinh trả lời đúng dạng câu hỏi, đảm bảo đúng, trúng và đủ 3.3.3. Minh họa: Ví dụ minh họa: Rèn các bước làm bài đọc hiểu ở câu hỏi nhận biết Dạng 1 Dạng 2 Dạng 3 Nhận biết về Nhận biết về thể Nhận biết về các biện Yêu cầu phương thức biểu thơ pháp tu từ đạt Lỗi - Học sinh chưa xác - Nhận diện và gọi - Học sinh thường xác định chưa chính
- 9 định chính xác tên sai xác - Hoặc có xác định - Hoặc còn nhầm lẫn cũng không biết biện pháp này với phương thức nào là biện pháp kia chính phương thức nào là phụ - Cần nắm được - Cần đếm số tiếng - Nắm vững khái khái niệm, đặc gọi tên theo từ niệm, đặc điểm cơ điểm và một số dấu Hán Việt bản của mỗi biện Hướng hiệu đặc biệt của pháp dẫn - Nếu đoạn thơ mỗi phương thức xen lẫn số tiếng- biểu đạt thể thơ tự do Cụ thể dạy về PTBĐ: Yêu cầu HS xác định chính xác phương thức biểu đạt, muốn vậy các em phải nắm vững kiến thức cơ bản về khái niệm, đặc điểm và một số dấu hiệu để nhận biết các phương thức biểu đạt. + Tự sự: Cách nhận biết phương thức tự sự: có cốt truyện, có nhân vật, có diễn biến sự việc, có những câu văn trần thuật. Tự sự thường được sử dụng trong truyện, tiểu thuyết, văn xuôi nói chung, đôi khi còn được dùng trong thơ (khi muốn kể sự việc) + Miêu tả: Dấu hiệu nhận biết phương thức miêu tả: Có các câu văn, câu thơ tái hiện lại hình dáng, diện mạo, màu sắc của người và sự vật (tả người, tả cảnh, tả tình, ) + Biểu cảm: Dấu hiệu nhận biết phương thức biểu cảm: có các câu văn, câu thơ miêu tả cảm xúc, thái độ của người viết hoặc của nhân vật trữ tình. + Thuyết minh: Dấu hiệu nhận biết phương thức thuyết minh: có những câu văn chỉ ra đặc điểm riêng, nổi bật của đối tượng, người ta cung cấp kiến thức về đối tượng, nhằm mục đích làm người đọc hiểu rõ về đối tượng nào đó. + Nghị luận: Dấu hiệu nhận biết phương thức nghị luận: Có vấn đề bàn luận, có quan điểm của người viết. Nghị luận thường đi liền với thao tác phân tích, giải thích, chứng minh, bình luận. Ví dụ minh họa: Rèn các bước làm bài đọc hiểu ở câu hỏi thông hiểu Dạng 1 Dạng 2 Dạng 3 Dạng 4 Dạng 5
- 10 Xác định nội Nêu tác dụng Nêu ý Nêu ý nghĩa dung chính của các nghĩa của của một dấu Yêu của đoạn văn BPTT được một từ hiệu nghệ thuật cầu SD trong VB ngữ trong đoạn văn HD -Đọc kĩ đề để -Xác định -Xác định -Xác định dấu trả tìm một câu chính xác và từ ngữ đó hiệu nghệ thuật lời chủ đề gọi tên biện -Xác định đặc biệt ( dấu ( câu văn mở pháp tu từ đó nghĩa ba chấm, dấu đầu hoặc kết -Nhớ lại kiến thức, chấm than, dấu thúc) thức nền về nghĩa ẩn, gạch nổi, ) -Dựa vào biện pháp tu nghĩa -Căn cứ vào tác nhan đề từ và cách hàm ẩn dụng của các khai thác giá loại dấu, câu -Xác định nội trị tu từ đặc biệt cùng dung của với nội dung từng đoặn và + Giá trị gợi hình đoạn văn đưa ra tổng hợp lại ý nghĩa. + Giá trị gợi cảm + Tình cảm của nhà văn Cụ thể minh họa dạy về biện pháp tu từ: + Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là cách thức vận dụng các phương tiện tu từ ở tất cả các bậc ngữ âm, từ ngữ, cú pháp và các tín hiệu để tạo nên một nội dung bổ sung mới ngoài đặc điểm tu từ vốn có của nó. (PGS_ TS Nguyễn Văn Nở) + Hiểu đơn giản nhất biện pháp tu từ là cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm đạt tới hiệu quả diễn đạt hay, đẹp, biểu cảm, hấp dẫn. + Tuỳ theo các phương tiện ngôn ngữ được kêt hợp mà biện pháp tu từ chia ra: Biện pháp tu từ ngữ âm như điệp âm, điệp vần .. Biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa như so sánh, ẩn dụ, nói lái .. + Đặc điểm tu từ của các biện pháp tu từ Tiếng Việt được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng. Ví dụ như đọc câu thơ có phép ẩn dụ, người tiếp cận phải dùng năng lực liên tưởng để qui chiếu giữa các yếu tố hiện diện trong câu thơ và hiện tượng tồn tai ngoài câu thơ. Như vậy thực chất của phép ẩn dụ chính là dùng tên gọi này để biểu hiên sự vật khác trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ. + Đặc điểm chung của các biện pháp này là trong từng văn cảnh cụ thể , từ ngữ có hiện tượng chuyển đổi ý nghĩa lâm thời. tức là nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này được tạm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác dựa
- 11 trên cơ sở của hai mối quan hệ liên tưởng: liên tưởng tương đồng và liên tưởng logic khách quan. Ví dụ như so sánh là đối chiếu sự vật này với sự vật khác dựa trên nét tương đồng. ẩn dụ là gọi tên sự vật này với sự vật khác dựa trên nét tương đồng, hoán dụ là gọi tên sự vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác dựa trên nét gần gũi( logic khách quan). Từ B hiểu sang A Ví dụ cụ thể khi khai thác so sánh Trẻ em như búp trên cành Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan Giáo viên cho học sinh xác định cấu trúc. Trẻ em như búp trên cành VA TSS VB. (?) Tại sao tác giả lại so sánh “Trẻ em” với “Búp trên cành”? -> Trẻ em và búp trên cành cũng là các sự vật đang ở giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển, trẻ em thì đó là giai đoạn đầu tiên của con người, búp non là giai đoạn đầu tiên ở cây cối -> Từ những đặc điểm về màu sắc, về trạng thái non tơ của “Búp trên cành” đã giúp người đọc liên tưởng tới đặc điểm tươi trẻ, tràn trề sức sống của trẻ em. -> thái độ trân trọng nâng niu trẻ em, yêu mến coi trọng thế hệ măng non, đồng thời thể hiện cách giáo dục trẻ em Cụ thể khi dạy về dấu câu và ý nghĩa đặc biệt của dấu câu + Dấu câu là một phương tiện ngữ pháp dung trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu, giữa các vế của câu ghép. Nói chung nó thể hiện ngữ điệu trên câu văn, câu thơ. Cho nên, có trường hợp nó không phải chỉ là phương tiện ngữ pháp mà còn là phương tiện biểu thị sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, về tư tưởng, về cả tình cảm, thái độ của người viết. Dấu câu dung thích hợp thì bài viết được người đọc hiểu rõ hơn, nhanh hơn. Không dùng dấu câu có thể gây hiểu lầm, mà dùng sai có thể gây hiểu sai cả ý nghĩa của câu + Khi dạy về dấu câu giáo viên cần cho học sinh nắm chắc các loại dấu, công dụng và chức năng của nó, thì khi vào đề thi học sinh có khả năng phân tích tác dụng của dấu câu trong đoạn văn tốt hơn Ví dụ cụ thể: Trong bài Mây và sóng (Targo), trước lời mời của những người trên mây và những người trong sóng, em bé đều trả lời: - “Mẹ mình đang đợi ở nhà”-“Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?” - “Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?”
- 12 ? Nếu coi dấu câu cũng là một dấu hiệu nghệ thuật trong tác phẩm thì theo em giá trị nghệ thuật của dấu chấm hỏi trong đoạn ngữ liệu trên là gì? Giáo viên hướng dẫn học sinh trả lời: - Em bé hỏi có cần người trên mây và người trong sóng trả lời không? – Học sinh sẽ trả lời không - Vậy thì để làm gì? – Để thể hiện tình cảm của mình với mẹ Từ đó giáo viên định hướng đến giá trị nghệ thuật của dấu chấm hỏi trong phần ngữ liệu đã cho: - Hỏi nhưng để khẳng định và bộc lộ cảm xúc (Câu hỏi tu từ). - Qua đó thể hiện tình yêu thương mẹ, thấu hiểu mẹ và luôn muốn ở bên mẹ của em bé Dạng 5 Trả lời những câu hỏi Trả lời những câu Trả lời những “Em hiểu như thế hỏi “Em đồng tình câu hỏi “Vì Yêu cầu nào .. ?” hay không đồng sao .. ?” tình .. ?” -Học sinh không hiểu - HS ngại đưa ra HS không lập nghĩa quan điểm của mình luận và giải thích - Học sinh không nắm về vấn đề. được Lỗi mắc được các bước để trả - Hs chưa biết cách lí Không bao quát lời câu hỏi. giải cho ý kiến của được vấn đề, mình chưa có kĩ năng lập luận đưa ý kiến cá nhân - Cần cắt nghĩa được - Khẳng định đồng - Yêu cầu học từ ngữ đó- dựa vào tình hay không đồng sinh phải lập văn cảnh, dựa vào tình luận và giải Hướng việc giải thích nghĩa - Giải thích rõ lí do thích, phân tích trả lời từ, nội dung chính của để thể hiện quan rõ mặt phải -trái văn bản điểm của mình tốt xấu của vấn - Đưa ra ý nghĩa của đề (cá nhân, gia vấn đề đình, xã hội) Ví dụ như đề sau: Theo Báo Tiền phong số ra ngày 27/10/2020 có đoạn: “Tối ngày 25/10, VTV1 đã công chiếu chương trình đặc biệt “Mưa lũ lịch sử miền Trung” trong 80 phút, chương trình đã phản ánh chân thực nhất sự khốc
- 13 liệt của thiên tai, những mất mát đau thương không thể bù lấp được, và cả những hình ảnh đẹp nhất về tình người tình nghĩa đồng bào của nhân dân cả nước với khúc ruột miền Trung trong cơn mưa bão lịch sử. Lên sóng trực tiếp BTV Tuấn Dương- Mc của chương trình nói: “Chỉ có những ai ở vùng lũ, trải qua mưa lũ và hậu quả của nó mới thực sự ...”. Đến đây anh ngừng lại một hồi, nghẹn cúi mặt nuốt nước mắt: “Xin lỗi quí vị...”. Khoảnh khắc xúc động này chia sẻ lên nhiều trang tin, diễn đàn mạng thu hút sự quan tâm từ công chúng.” ? Theo em, vì sao BTV Tuấn Dương lại “ ngừng lại một hồi, nghẹn cúi mặt nuốt nước mắt” ? Giáo viên định hướng học sinh trả lời - Vấn đề mà chương trình đề cập đến là vấn đề gì? (Mưa lũ miền Trung) - Hành động trạng thái của anh “ngừng lại một hồi, nghẹn cúi mặt nuốt nước mắt” biểu hiện anh là người như thế nào? (Nỗi xúc động không kìm nén, nó thổn thức, tuôn trào tự nhiên- biểu hiện tình người, tình đồng bào thiêng liêng cao cả) Minh họa về dạy kĩ năng viết bài nghị luận xã hội rút ra qua đoạn ngữ liệu ngoài văn bản - Nhiều học sinh cứ ngỡ những vấn đề rút ra qua văn bản ngoài chương trình là khó là không viết được nhưng trên thực tế ngữ kiểu nào đi chăng nữa cũng bàn về vấn đề thực tế thiết thực và gần gũi với các em có thể là những sự việc, hiện tượng đời sống có tính thời sự (vứt rác bừa bãi, nghiện game ) hoặc một số vấn đề tư tưởng, đạo lý (lòng yêu nước, truyền thống uống nước nhớ nguồn, tình bạn, đức tính trung thực ). Từ đó quy định thành hai dạng bài tập nghị luận xã hội cơ bản: + Nghị luận về một sự việc, hiện tượng, đời sống. + Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lý. Tuy nhiên, hai dạng bài này cũng có sự khác nhau cả về đối tượng nghị luận (nội dung) và cách thức bình luận (phương pháp). Nghị luận về một sự vật Nghị luận về một tư tưởng hiện tượng đạo lý - Lấy sự việc hiện tượng - Lấy tư tưởng, đạo lý làm đối trong đời sống làm đối tượng chính. Từ một vấn đề tư Nội dung tượng. Từ sự việc hiện tượng tưởng đạo lý mà bàn luận, đánh (đối tượng) cụ thể ấy mà bàn luận, đánh giá, suy nghĩ về cuộc sống xã giá, nâng lên thành vấn đề tư hội thực tế tưởng, đạo lý - Giới thiệu về sự việc hiện - Giới thiệu về tư tưởng, đạo lý tượng. - Giải thích tư tưởng, đạo lý - Phân tích biểu hiện, nguyên (bám sát từ ngữ, hình ảnh...) nhân, bàn luận phải trái,

