Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn Lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp

doc 32 trang Chăm Nguyễn 25/06/2026 210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn Lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_de_phat_huy_tinh_tich_cuc_ch.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn Lớp 9 ở trường THCS Buôn Trấp

  1. Thực tế cho thấy: hoạt động đổi mới PPDH chỉ có thể thành công khi giáo viên có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh thần trách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học. Các chuyên đề về đổi mới PPDH được đưa ra tập huấn luôn là cơ sở cho giáo viên nghiên cứu, vận dụng một cách chủ động, tích cực, sáng tạo phù hợp với đặc trưng bộ môn, phù hợp với yêu cầu của từng bài học, giúp học sinh phát triển và rèn luyện các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý thông tin, giải quyết các tình huống, kỹ năng thực hành 2. Thực trạng 1.2. Thuận lợi, khó khăn a) Thuận lợi: - Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việc chỉ đạo đổi mới PPDH. - Trường THCS Buôn Trấp có 13 giáo viên được đào tạo chuyên ngành Ngữ văn (trong đó có 11 giáo viên đứng lớp và 02 cán bộ quản lý), được biên chế thành một tổ chuyên môn nên dễ có điều kiện trao đổi, học hỏi nhau về kiến thức cũng như kinh nghiệm giảng dạy bộ môn. - Sinh hoạt của tổ chuyên môn đã dần đi vào chiều sâu và đạt hiệu cao (tổ đã giành nhiều thời gian cho việc bàn bạc, thảo luận cách dạy các bài (nội dung) dài, khó ), năng lực chuyên môn của giáo viên ngày càng được khẳng định. - Công nghệ thông tin phát triển cùng với sự bùng nổ của Internet nên việc tìm hiểu, khai thác thông tin về lĩnh vực bộ môn, phân môn, bài dạy trên mạng ngày càng dễ dàng và thuận lợi. - Giáo viên thường xuyên được tập huấn hoặc tiếp thu chuyên đề về đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH đối với môn Ngữ văn nói riêng. Đa số giáo viên đã chủ động vận dụng khá hiệu quả các PPDH tích cực vào quá trình lên lớp. b) Khó khăn: - Thói quen sử dụng PPDH truyền thống ở một số giáo viên còn nặng nề. - Một số bài học, tiết học, nội dung kiến thức còn nặng so với thời gian quy định tại PPCT. - Cơ sở vật chất chưa thực sự đáp ứng yêu cầu dạy và học. - Một số học sinh chưa thật hứng thú với môn học, còn có thói quen ỉ lại, dựa dẫm vào bạn; thiếu mạnh dạn, chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập. 3
  2. 2.2. Thành công, hạn chế a) Thành công: Thông qua đàm thoại, sự quan tâm hướng dẫn của giáo viên, kỹ năng nói của học sinh đã được nâng lên rõ rệt, học sinh tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp; tích cực, chủ động hơn trong học tập. Một số học sinh yếu trong lớp đã chủ động giơ tay phát biểu, bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình trước thầy cô và các bạn trong lớp. b) Hạn chế: - Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất ngờ nảy sinh từ câu trả lời của học sinh), nếu giáo viên không chú ý, giờ học dễ bị chệch hướng. - Giáo viên cần phải có sự chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian. 2.3. Mặt mạnh, mặt yếu a) Mặt mạnh: Có thể áp dụng cho nhiều cấp học, lớp học với nhiều đối tượng học sinh. Đây là PPDH tích cực đã được nhiều giáo viên áp dụng thành công. b) Mặt yếu: Giờ học sẽ bị nhàm chán nếu giáo viên không biết kết hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lý. 2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động a) Nguyên nhân thành công: - Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong việc chỉ đạo đổi mới PPDH. - Bản thân chúng tôi được tham gia nhiều đợt tập huấn về đổi mới PPDH do ngành tổ chức, đã từng tham gia giảng dạy ở các khối lớp, được làm quen với nhiều đối tượng học sinh, được nghe rất nhiều tâm sự từ phía CMHS, học sinh về bộ môn. - Đề tài này đã được áp dụng trong nhiều năm học nên trong quá trình vận dụng đã có sự ghi nhận, đúc rút kinh nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp với học sinh. - Có sự cộng lực của các giáo viên dạy Ngữ văn tại trường. b) Nguyên nhân hạn chế: - Thời gian đầu tư cho bài soạn còn hạn chế (do quá nhiều công việc cùng phải làm trong cùng một thời điểm). - Sử dụng phương pháp này rất cần đến nghệ thuật giao tiếp của giáo viên. - Một số học sinh chưa thực sự cố gắng trong học tập, thiếu mạnh dạn trong 4
  3. giao tiếp, nhiều khi tỏ ra e dè, không tự tin, ít đầu tư thời gian cho việc chuẩn bị bài ở nhà. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng mà đề tài đã đặt ra. Thực tế giảng dạy cho chúng ta thấy: trong một lớp học đại trà, số học sinh học khá, giỏi môn Ngữ văn, tích cực tham gia vào các hoạt động học tập còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn. Bên cạnh đó, còn nhiều học sinh thiếu cố gắng trong học tập, thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, hạn chế về khả năng diễn đạt, thậm chí có những học sinh thuộc vào diện “hết thuốc chữa”, giáo viên đành cho “ngủ yên” để khỏi ảnh hưởng lớp. Phương pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học sinh – đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành chủ thể của hoạt động “học là một PPDH tích cực – “phương thuốc” khá hữu hiệu nhằm kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy học sinh cách tự suy nghĩ, lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập, lòng tự tin của các em, rèn cho các em năng lực diễn đạt, mạnh dạn bày tỏ sự hiểu biết của mình, biết chú ý lắng nghe và hiểu ý diễn đạt của người khác. Tạo môi trường học tập thân thiện để học sinh có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau. Học sinh kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, cùng các bạn trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thông qua đàm thoại, dạy học tích cực, giáo viên sẽ nhanh chóng thu thập được thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì và kiểm soát được hành vi của học sinh. Học sinh sẽ có được niềm vui khi mình được trực tiếp tham gia khám phá, tìm hiểu và nắm bắt kiến thức mới thông qua sự hướng dẫn của thầy cô giáo. 3. Giải pháp, biện pháp 3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Giúp các thầy cô giáo cùng dạy môn Ngữ văn hiểu rõ hơn về mục đích của việc dạy học tích cực; có thêm kinh nghiệm trong việc thiết kế hệ thống câu hỏi và đặt câu hỏi cũng như tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, tạo niềm say mê, hứng thú cho các em trong học tập. 3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp Từ ý thức về tầm quan trọng của việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập và từ thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS THCS Buôn Trấp, những năm qua chúng tôi đã cố gắng tìm tòi, vận dụng Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn và bước đầu đã thấy hiệu quả. Cúng tôi xin trình bày cách nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp như sau: 5
  4. 1. Biện pháp tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học sinh – đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành chủ thể của hoạt động “học”. - Trước hết, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học. Giáo viên phải chú trọng đến phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Trong đó học sinh dưới sự tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên tự mình chiếm lĩnh tác phẩm, tự rút ra những kết luận, những bài học cần thiết cho mình với sự chủ động tối đa. Theo chúng tôi, trong giờ dạy văn bản, giáo viên cần tổ chức, dẫn dắt cho học sinh theo bốn cấp độ sau đây: Thứ nhất, giúp học sinh tri giác, cảm thụ văn bản, hiểu ngôn ngữ, tình tiết, cốt truyện, thể loại... để có thể cảm nhận được hình tượng nghệ thuật trong sự toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ. Thứ hai, giúp học sinh tiếp xúc với ý đồ sáng tạo của nghệ sĩ, thâm nhập vào hệ thống hình tượng như là sự kết tinh sâu sắc của tư tưởng, tình cảm tác giả. Thứ ba, giúp học sinh đưa hình tượng nghệ thuật vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm sống của mình để thể nghiệm, đồng cảm. Thứ tư, giúp học sinh nâng cấp lý giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí của tác phẩm trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật. Có như vậy, học sinh mới thấy hứng thú và cảm thấy mình cũng là người “đồng sáng tạo” với tác giả, như quan điểm của mỹ học tiếp nhận. Ví dụ: Khi dạy văn bản Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, giáo viên phải giúp học sinh tri giác, cảm thụ được: văn bản Lặng lẽ Sa Pa có cốt truyện rất đơn giản, xoay quanh một cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ sư trẻ và anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa. Nhân vật Chính – anh thanh niên – chỉ xuất hiện trong chốc lát nhưng đã để lại cho các nhân vật khác và đọc giả những tình cảm tốt đẹp. Nhân vật anh thanh niên trở thành một hình tượng nghệ thuật kết tinh sâu sắc tư tưởng, tình cảm của nhà văn. Hình ảnh anh thanh niên đã và đang là tấm gương sáng về tinh thần lao động, về suy nghĩ và lối sống cao đẹp để thế hệ trẻ mọi thời đại noi theo. - Với những yêu cầu cao trong công việc đổi mới phương pháp, người giáo viên phải nâng cao trình độ và bản lĩnh. Truyền thụ tri thức, rèn luyện kĩ năng đã khó, hướng dẫn cách cảm thụ, lối tư duy cho học sinh còn khó bội phần. Sự cập nhật tri thức phải luôn đi đôi với nâng cao trình độ sư phạm. Một khi đã quán triệt tinh thần 6
  5. coi học sinh là chủ thể tiếp nhận, tất yếu giáo viên sẽ phải đối diện với sự đa dạng, phức tạp trong tư duy, trong cách phát ngôn của các em. 2. Biện pháp tổ chức hoạt động tự học của học sinh: rèn luyện cho học sinh có được phương pháp, kĩ năng: đọc, tóm tắt, phân tích tác phẩm, viết bài - Dựa vào các mục biên soạn trong SGK để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài Với người dạy và người học hiện nay ở nước ta, SGK là công cụ có tính chất pháp lí. Nội dung kiểm tra, thi cử bắt đầu và xuất phát từ chương trình và Sách giáo khoa. Nói cách khác dạy và học không thể thoát li chương trình và Sách giáo khoa. Phần Đọc văn trong SGK ở chương trình THCS hiện nay thường được biên soạn theo một cấu trúc cố định với những mục rõ ràng, với trình tự gồm các mục: Tên bài – Kết quả cần đạt – Tên văn bản – Chú thích – Đọc – Hiểu văn bản – Ghi nhớ- Luyên tập. Để chuẩn bị bài, nhất thiết học sinh phải có trong tay quyển SGK và tự làm việc với sách theo hướng dẫn của thầy cô giáo. Trang bị SGK đầy đủ, học sinh thường xuyên đọc sách, bám sát tất cả các mục ở trong SGK, mỗi mục có một vai trò cụ thể. Đặc biệt, HS phải chú trọng đến mục Đọc – hiểu văn bản sau mỗi văn bản. Đây là mục quan trọng có tác dụng định hướng tìm hiểu văn bản cho cả người học và người dạy. Ở mục hướng dẫn học bài này có nhiều câu hỏi được sắp xếp theo hệ thống. Dựa vào hệ thống câu hỏi này để giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài một cách phù hợp, thiết thực và có hiệu quả. Bắt đầu từ SGK là một định hướng khoa học trong việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài cho giờ Đọc văn. Chẳng hạn - Gắn với từng bài học cụ thể phù hợp với đặc trưng thể loại để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài. Mỗi bài học, mỗi văn bản được phân bố với một số lượng thời gian nhất định trong bảng phân phối chương trình. Vì thế, giáo viên nhất thiết phải gắn với từng bài học, từng văn bản với số tiết quy định cụ thể để hướng dẫn học sinh cách thức nội dung, mức độ soạn bài phù hợp. Chẳng hạn với những bài học trong một tiết thì có cách hướng dẫn chuẩn bị bài gọn, nhẹ hơn so với bài hai tiết. Giáo viên cũng cần phải xem xét đặc điểm, tính chất của từng văn bản cụ thể để yêu cầu học sinh chuẩn bị: Thơ khác với văn xuôi. Mặt khác, hiện nay định hướng giảng dạy phần Văn theo phương pháp mới đặc biệt chú trọng yêu cầu tích hợp và đặc trưng thể loại. Xuất phát từ yêu cầu tích hợp cũng như ý thức về việc bám sát đặc trưng thể loại là định hướng đúng đắn cung cấp tri thức đọc hiểu cho học sinh, mà trước hết là ở khâu giúp các em chuẩn bị tốt bài ở nhà. Chẳng hạn khi dạy văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới (Ngữ văn 9) giáo viên phải hướng dẫn cho các em nắm vững đặc trưng của văn nghị luận để học sinh dễ tiếp xúc với văn bản. Bên cạnh đó khi dạy giáo viên nhất 7
  6. thiết phải tích hợp với hoàn cảnh đất nước và bản chất của con người Việt Nam để làm rõ những mặt mạnh, mặt yếu của con người Việt Nam ta. Từ đó giáo dục cho thế hệ trẻ biết cần phải làm gì để góp phần xây đất nước. - Giáo viên nắm chắc ý đồ của người soạn SGK ở phần hướng dẫn học bài sau mỗi văn bản. Ở mỗi văn bản, mỗi bài học cụ thể có những mục đích khác nhau. Trong Sách giáo khoa Ngữ văn sau tên mỗi văn bản là mục kết quả cần đạt. Đây là phạm vi kiến thức trọng tâm bài học mà học sinh cần nắm được. Để đạt được kết quả đó người soạn sách đã có những định hướng đọc- hiểu cho cả người dạy và người học ở mục hướng dẫn học bài. Để tổ chức cho học sinh đọc hiểu văn bản sát hợp, một yêu cầu vô cùng quan trọng là giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh chuẩn bị bài ở nhà đúng trọng tâm như yêu cầu ở mục kết quả cần đạt. Ví dụ, khi học đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, để học sinh hiểu và cảm nhận sâu sắc tâm trạng buồn - nhớ, lo lắng, đau khổ của Thúy Kiều, giáo viên yêu cầu học sinh khi soạn bài cần đọc kĩ đoạn thơ nói về nỗi nhớ về người thân; đoạn thơ nói về tâm trạng buồn, lo lắng, đau khổ của Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích. Hiểu được mục đích của người soạn Sách giáo khoa ở phần hướng dẫn học bài sau mỗi văn bản sẽ giúp giáo viên xác định phương pháp dạy học phù hợp từng bài học cụ thể. Chẳng hạn, với mục đích đồng sáng tạo ở bạn đọc, trong phần hướng dẫn học bài của văn bản Chuyện người con gái Nam Xương, sách giáo khoa Ngữ văn 9 có nêu câu hỏi: Vì sao Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất?( Nỗi oan khuất của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân: Do cuộc hôn nhân giữa TS và VN có phần không bình đẳng; Do trương sinh đa nghi, hồ đồ, độc đoán dẫn đến cái chết oan nghiệt của VN) Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến?( Người phụ nữ đức hạnh trong xã hội cũ không được bênh vực, che chở, họ luôn bị đối xử bất công và chịu nhiều oan trái) Từ câu hỏi hướng dẫn này, giáo viên có thể lồng phương pháp vấn đáp, đàm thoại bên cạnh các phương pháp khác. Tất nhiên để đàm thoại được ở trên lớp thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà... - Hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi trong Sách giáo khoa. Để giúp học sinh có sự chuẩn bị hiệu quả trước khi bước vào giờ học văn bản, giáo viên cần có những định hướng cho học sinh trong các hoạt động tiếp xúc với Sách giáo khoa, tập cho các em biết gia công tìm tòi, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức. Hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà trước hết và quan trọng nhất vẫn là yêu 8
  7. cầu các em trả lời các câu hỏi ở phần Hướng dẫn học bài. Việc đọc Sách giáo khoa như đã nói trên trước hết là để trả lời được các câu hỏi này. Tuy vậy, muốn công việc này của các em đạt hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có những cách thức, biện pháp phù hợp. Giáo viên vừa yêu cầu vừa khuyến khích, động viên các em tự trả lời các câu hỏi trong phần hướng dẫn theo cách hiểu của mình, tránh viêc ghi lại, chép lại theo sách giải một cách đối phó, thụ động. Trong quá trình soạn bài chỗ nào các em chưa hiểu hay còn thắc mắc, giáo viên yêu cầu các em chú ý ghi lại hoặc gạch chân, đánh dấu để có thể trao đổi trong quá trình đọc hiểu văn bản trên lớp. Một điều nữa không kém phần quan trọng là khi hướng dẫn học sinh trả lời các câu hỏi trong Sách giáo khoa, giáo viên cần hướng các em vào những ý trọng tâm, câu hỏi trọng tâm, điều này rất có ích cho việc đọc hiểu văn bản ở trên lớp. Muốn làm được điều này giáo viên phải có đầu tư suy nghĩ trước một bước. Và như vậy, việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà sẽ mang lại hiệu quả hơn. Chẳng hạn khi soạn bài Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) giáo viên yêu cầu các em chú ý và trả lời kỹ những vấn đề sau: Cảm xúc của tác giả trước vẻ đẹp và sức sống về mùa xuân của thiên nhiên và mùa xuân của đất nước như thế nào? Đoạn thơ “Ta làm con chim hót Dù là khi tóc bạc” gợi cho em những cảm nghĩ gì về ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người? (Với câu hỏi 1 giáo viên đã giúp học sinh tìm hiểu nội dung đoạn thơ 1 và 2 của bài thơ, câu hỏi 2 giúp học sinh tìm hiểu nội dung khổ thơ thứ 3 trong bài; Nếu học sinh về nhà chuẩn bị tốt theo các câu hỏi mà giáo viên đã cho khi lên lớp các em sẽ tiếp thu bài rất nhanh) Như vậy, việc hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi là việc làm vô cùng quan trọng, bởi đây là một bước chuẩn bị trước làm cơ sở cho việc đọc tác phẩm trên lớp. Nếu giáo viên làm tốt bước này thì khâu lên lớp sẽ nhẹ nhàng hơn, giờ học sôi nổi hơn và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn. - Hướng dẫn học sinh lập dàn ý khái quát sơ đồ tư duy cho bài học. Từ những hiểu biết của bản thân, học sinh tự lập thành sơ đồ, thành những dàn ý theo suy nghĩ của mình. Điều ấy có nghĩa rằng sau khi đọc phân tích, học sinh cần phải tổng hợp, tái tạo lại cấu trúc của bài học. Ghi chép tóm tắt những gì và như thế nào là phụ thuộc vào hiểu biết và kinh nghiệm của từng người. Điều quan trọng là người học phải tự mình nêu lại được các thông tin quan trọng đã tiếp nhận bằng từ ngữ riêng theo cách của mình. - Tổ chức phân công từng vấn đề cụ thể cho từng nhóm học sinh. Sau khi kết thúc một giờ học công việc thường thấy từ trước tới nay là giáo 9
  8. viên dặn dò học sinh về nhà học bài và chuẩn bị bài mới cho giờ học tiếp theo. Đây thường là việc làm lấy lệ máy móc, qua loa, làm cho xong. Vì thế tính hiệu quả thấp. Kinh nghiệm cho thấy đối với học sinh THCS giao việc càng cụ thể thì tính hiệu quả càng cao. Vì vậy, tổ chức phân công vấn đề cho học sinh chuẩn bị trước là bước đệm rất quan trọng cho bài học mới đạt kết quả. Để việc làm này có chất lượng giáo viên phải thực hiện những bước sau: + Chuẩn bị trước các vấn đề. + Chia nhóm. + Phân công vấn đề cụ thể cho từng nhóm. Chẳng hạn khi dạy văn bản “Đồng chí” (Ngữ văn 9) của Chính Hữu ngoài việc học sinh chuẩn bài theo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, giáo viên có thể chuẩn bị trước các vấn đề sau để giao cho học sinh và yêu cầu mỗi nhóm phải chuẩn bị kĩ phần việc của nhóm mình. Giáo viên chia lớp làm ba nhóm mỗi nhóm phải có nhóm trưởng, nhóm phó để đôn đốc các thành viên và chịu trách nhiệm chung cho cả nhóm. Phần việc giao cho mỗi nhóm như sau: Nhận xét về cơ sở của tình đồng chí. (Nhóm 1) Tìm những hiện biểu hiện của tình đồng chí. (Nhóm 2) Tình đồng chí có những vẻ đẹp tiêu biểu nào?(Nhóm 3). Khi đã phân công học sinh về nhà chuẩn bị như trên thì khi lên lớp, giáo viên giảng bài học sinh sẽ dễ tiếp thu và sau tiết học các em sẽ dễ dàng thành lập được sơ đồ tư duy như sau: Sơ đồ tư duy về bài thơ “Đồng chí”: Có thể khẳng định rằng, nếu công việc này được giáo viên làm một cách đều đặn và tâm huyết thì giờ học văn bản sẽ đạt được kết quả như mong đợi. Ưu điểm của cách làm này là tiết kiệm được thời gian khi lên lớp, phát huy được cách học hợp tác, vấn đề trọng tâm của bài học sẽ được mổ xẻ một cách sâu sắc hơn.. 10
  9. - Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở một số tiết học tác phẩm văn chương cụ thể: Bài 1: Chuyện người con gái Nam Xương. + Giáo viên lưu ý học sinh khi chuẩn bị bài cần soan kỹ câu số 2,3,4 và 5 trong phần hướng dẫn học bài để cùng thảo luận, tranh luận ở trên lớp. + Tưởng tượng cảnh Vũ Nương sau khi chết xuống thủy cung và được giải oan + Tìm một số bài thơ, truyện viết về số phận người phụ nữ trong xã hôi cũ. Bài 2: Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải) Giáo viên hướng dẫn HS chuẩn bị kĩ vấn đề sau khi soạn bài này để trao đổi trên lớp: + Suy nghĩ về quan niệm sống của nhà thơ được thể hiện trong bài thơ. + Mỗi người bày tỏ quan niệm sống của mình trong thời đại hiện nay. 3. Biện pháp tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác. * Đối với giáo viên: - Phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài dạy để đặt câu hỏi hướng vào nội dung bài học. Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng học sinh cụ thể, từng lớp học, từng điều kiện có thể có. Tránh đặt câu hỏi máy móc, hỏi cho có, tránh lạm dụng trong việc đặt câu hỏi để rơi vào tình trạng dạy học hỏi đáp máy mọc đơn điệu. - Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với phương pháp giảng dạy mà mình đã lựa chọn: Nêu vấn đề, đàm thoại, giảng bình và lượng câu hỏi phải hết sức hợp lí. Nội dung câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp kiến thức; rèn luyện kĩ năng; giáo dục tư tưởng, nhân cách ở học sinh. - Điều quan trọng nhất đối với giáo viên là khâu soạn giáo án. Để giáo án có chất lượng phải có hệ thống câu hỏi chuẩn, hợp lí. Các câu hỏi trọng tâm của bài giảng phải cho học sinh nắm trước trong câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà. * Đối với học sinh: - Khâu soạn bài: Học sinh đọc văn bản, chuẩn bị bài theo câu hỏi mà giáo viên đã cho, đã hướng dẫn. Tuỳ loại câu hỏi giáo viên phân công học sinh chuẩn bị theo tổ, nhóm, hoặc theo cá nhân. - Tham gia xây dựng bài: Động viên khích lệ học sinh bằng điểm số khi các em tham gia xây dựng bài. Tạo không khí đối thoại thoải mái trong tiết học giữa thầy và trò, giữa học sinh với học sinh, tranh luận giữa các nhóm học sinh với nhau để phát 11
  10. huy tư duy sáng tạo của học sinh, tránh việc áp đặt kiến thức mang tính chủ quan của người dạy, cần trân trọng khen ngợi, động viên những khám phá phát hiện độc đáo mới lạ của các em trong quá trình tìm hiểu tác phẩm văn học. Hứng thú học tập là ngọn nguồn giúp cho học sinh cảm thụ sâu sắc giá trị của đời sống văn hoá nhân loại. Phát huy trí lực, chú trọng tới hứng thú học tập của học sinh là hướng đi tích cực của phương pháp dạy học văn hiện nay. Tuy nhiên, để biến những lý luận trên thành hiện thực đòi hỏi người thầy ngoài tri thức khoa học cần phải có lòng yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục và đào tạo và phải có thêm niềm tin vào học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước. Từ mục tiêu trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp trong việc lựa chọn hệ thống câu hỏi nhằm tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác, phát huy tư duy, sáng tạo của học sinh như sau: a. Yêu cầu của các loại câu hỏi: - Câu hỏi phải gợi mở để tìm tòi vấn đề, phải đạt được mục đích kích thích sự cảm thụ của học sinh với tác phẩm, phải gây được những phản ứng bên trong của học sinh. Không nên đưa những dạng câu hỏi mà chỉ yêu cầu học sinh trả lời có hoặc không. Ví dụ: Khi giảng văn bản Bố của Xi-mông (Ngữ văn 9) chúng ta không nên đặt những câu hỏi như: Đọc xong văn bản, em thấy chị Blăng- sốt có phải là một người phụ nữ hư hỏng không? Mà chúng ta phải đặt những câu hỏi nhằm giúp các em tìm kiếm, phát hiện: Qua hình ảnh ngôi nhà của chị Blăng -sốt, thái độ của chị đối với khách và nỗi lòng của chị khi nghe con nói em cảm nhận chị là người như thế nào?(Chị Blăng –sốt là người phụ nữ một thời lầm lỡ khiến Xi – mông trở thành đứa con không có bố. Nhưng thực ra chị là người phụ nữ đức hạnh, đứng đắn, nghiêm túc) - Câu hỏi phải tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đặc biệt là tác động đến trực giác của học sinh. Ở dạng câu hỏi này giáo viên phải biết chọn lựa những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, có tác dụng thẫm mỹ cao. Ví dụ: Cách sử dụng các từ “Ta làm” ở 3 câu thơ trong khổ thơ thứ 3 trong bài “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải gợi tả được điều gì? (Điệp ngữ “ta làm”diễn tả một cách tha thiết khát vọng được hòa nhập vào cuộc sống của đất nước, được cống hiến phần tốt đẹp – dù nhỏ bé- của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước.) Hình ảnh “con chim, cành hoa, nốt trầm” trong đoạn thơ có ý nghĩa gì? 12
  11. (Hình ảnh con chim, nhành hoa, nốt trầm đó là những hình ảnh đẹp, giản dị nhưng có một ý nghĩa lớn lao: Tác giả muốn nói lên ước nguyện phải đóng góp những gì tươi đẹp nhất cho cuộc đời, cho đất nước, dù đó là sự cống hiến khiêm nhường, giản dị. Điều đó không chỉ ước muốn của riêng tác giả mà là của tất cả mọi người, tất cả chúng ta. Thông qua việc chuyển đổi đại từ “tôi’ sang “ta”, nguyện ước riêng đã trở thành nguyện ước chung) - Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát. Chẳng hạn khi củng cố bài hay kiểm tra bài cũ học sinh cần tránh những câu hỏi như sau: Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ và cho biết nội dung, nghệ thuật của bài. Dạng câu hỏi này không có tác dụng phát huy sự sáng tạo, tính tích cực của học sinh vì chỉ cần chăm chỉ học thuộc phần ghi nhớ cuối sách giáo khoa chứ không cần tư duy nhiều là học sinh trả lời được. Hơn nữa, câu hỏi này sẽ gây cho học sinh thói quen có hại đó là thói quen học thuộc một cách máy móc. Có thể thay dạng câu hỏi này bằng một câu hỏi có sức gợi hơn. Ví dụ: Để kiểm tra kiến thức cũ bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu trong chương trình Ngữ văn lớp 9 thì giáo viên có thể hỏi như sau: 1. Qua bài thơ “Nói với con”, em thích nhất đoạn thơ nào? Vì sao? Hãy đọc đoạn thơ đó với ngữ điệu sao cho phù hợp với những điều mà em vừa giải thích?( Học sinh có thể trả lời em thích khổ thơ nào trong bài thơ cũng được. Miễn là các em giải thích được lí do mình thích và đọc thuộc lòng đúng đoạn thơ đó) 2. Em có nhận xét gì về cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh của tác giả trong bài thơ? Cách viết đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung bài? Từ đó, em hãy khái quát tư tưởng chủ đề của bài thơ. (Qua bài thơ “Nói với con”, bằng từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi cảm, Y Phương đã thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc mình. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của một dân tộc miền núi, gợi nhắc tình cảm gắn bó với truyền thống, với quê hương và ý chí vươn lên trong cuộc sống) Với những câu hỏi này, đòi hỏi học sinh phải có sự hiểu biết, cảm thụ sâu sắc về tác phẩm đồng thời phải có cách trả lời sao cho đáp ứng được yêu cầu của câu hỏi. Loại câu hỏi này vừa giúp giáo viên đánh giá được kiến thức, sự cảm thụ vừa rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong môn Ngữ văn đồng thời cũng phát huy được tư duy sáng tạo, tính tích cực, chủ động của học sinh. Sở dĩ như vậy vì học sinh phải dựa vào quá trình phân tích tác phẩm để nhận biết những chi tiết nghệ thuật mà tác 13