Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh Lớp 2

docx 33 trang Chăm Nguyễn 29/07/2026 330
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_day_hoc_phat_trien_na.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh L.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh Lớp 2

  1. khác nhất là các phương pháp mang tính đặc thù bộ môn như phương pháp trực quan, phương pháp luyện tập. - Giải pháp mới: Giáo viên nhận thức rõ tầm quan trọng và ích lợi việc dạy kể chuyện sáng tạo cho học sinh, chịu khó tìm tòi, nghiên cứu đưa ra các phương pháp dạy phù hợp. Những giải pháp đưa ra phù hợp với bối cảnh, phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 2, giúp giáo viên linh hoạt sử dụng, mọi lớp học, mọi đối tượng học sinh mà vẫn đạt hiệu quả cao. -Các bước thực hiện: Nghiên cứu cơ sở lí luận và tìm hiểu, phân tích thực trạng dạy học kể chuyện ở trường Tiểu học Yên Bài. Nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 2 chương trình 2018. Đề xuất một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 2. Áp dụng các biện pháp vào thực tiễn giảng dạy. -Các biện pháp thực hiện: Biện pháp 1: Lựa chọn và xây dựng nội dung dạy phù hợp đối tượng, đáp ứng yêu cầu của chương trình. Biện pháp 2: Sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ trong dạy kể chuyện sáng tạo. Biện pháp 3: Thực hiện quy trình trong giờ dạy kể chuyện sáng tạo . Biện pháp 4: Đa dạng hóa hình thức dạy học của học sinh. Biện pháp 5: Tổ chức một số trò chơi. Biện pháp 6: Tích hợp dạy kể chuyện với nội dung khác. - Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - sáng kiến được áp dụng hằng ngày trên lớp - Có máy tinh, máy chiếu, kết hợp mạng. - Đánh giá lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến: Qua một thời gian thực hiện các biện pháp trên tôi thấy học sinh đạt kết quả tích cực trong việc dạy kể chuyện sáng tạo trong môn Tiếng Việt như sau: Qua hệ thống câu hỏi phù hợp, cũng như các hoạt động trong tiết học dưới sự hướng dẫn có hệ thống của giáo viên, các em dần ghi nhớ, xây dựng được mạch tư duy câu chuyện của riêng mình, từ đó các em hào hứng kể chuyện một cách sáng tạo. Chính vì vậy, các em tự tin hơn trong giao tiếp, hăng hái phát biểu, tích cực
  2. tương tác với cô, với bạn. Đến tiết học nói và nghe, tinh thần các em vui tươi đầy hào hứng, kết quả học ngày càng tiến bộ. Đến nay khả năng kể chuyện sáng tạo của lớp tôi đạt như sau:Kì thi Vio Edu Tiếng Việt đã có 2 em Nguyễn Thị Yến Nhi và em Phương Quốc An đạt giải Nhất trường và tham gia thi Vio Edu Cấp Huyện đạt giải Khuyến khích. Sĩ số HS kể hay, sáng tạo HS kể đúng HS chưa biết kể 23 HS 15 HS (65,2%) 8 HS (34,8%) 0 HS (0%) Sau khi áp dụng các biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo, tôi nhận thấy không chỉ kĩ năng kể chuyện, đặc biệt là kể chuyện sáng tạo được nâng lên rõ rệt, mà kết quả đọc, viết văn cũng được nâng cao. Đặc biệt trong các tiết hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt tập thể các em cũng mạnh dạn, tự tin nói, kể, thuyết trình. Không chỉ trước lớp mà nhiều em thể hiện năng lực giao tiếp trước toàn trường, góp phần bồi dưỡng nhân cách, cảm xúc, thẩm mỹ lành mạnh và những tình cảm tốt đẹp trong cuộc sống. Phụ huynh thấy sự tiến bộ rõ rệt trong cách giao tiếp, nói năng của các con nên đã tin tưởng, đồng hành, phối hợp chặt chẽ với giáo viên và nhà trường trong quá trình học tập của con. Đó chính là những động lực thúc đẩy tôi ngày càng nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa trong suy nghĩ, tìm tòi nhiều biện pháp giảng dạy các môn học hiệu quả hơn. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Ba Vì, ngày 30 tháng 4 năm 2024 Người nộp đơn Nguyễn Thị Quyên
  3. UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Trường Tiểu học Yên Bài Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ Họ tên tác giả: Nguyễn Thị Quyên Tên đề tài: “Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp2” Lĩnh vực: Môn Tiếng Việt ST Điểm Tiêu chuẩn T tối đa 1 Sáng kiến có tính mới 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây Nhận xét: 2 Sáng kiến có tính áp dụng 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị có cùng điều kiện 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị Nhận xét: 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị
  4. 3.4 Không có hiệu quả cụ thể Nhận xét: 4 Điểm trình bày 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý Nhận xét: Tổng cộng: Đánh giá: □Đạt (>70 điểm) □Không đạt CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ
  5. MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................1 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến..............................................................1 2. Mục tiêu đề tài.......................................................................................................2 3.Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu ...........................................................3 II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN..........................................................................3 1.Hiện trạng vấn đề ..................................................................................................3 2.Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề ...........................................8 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị..................................19 4. Hiệu quả của sáng kiến: .....................................................................................19 4.1. Hiệu quả về khoa học: .....................................................................................19 4.2.Hiệu quả về kinh tế...........................................................................................19 4.3.Hiệu quả về xã hội.............................................................................................20 5.Tính khả thi của sáng kiến:.................................................................................20 6.Thời gian thực hiện đề tài ..................................................................................20 7.Kinh phí thực hiện đề tài.....................................................................................20 III. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:.................................................................................20 HÌNH ẢNH MINH HỌA TÀI LIỆU THAM KHẢO
  6. 1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết phải tiến hành sáng kiến. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 quy định mục tiêu đặc thù của môn Tiếng Việt giúp học sinh bước đầu phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: Đọc đúng, trôi chảy văn bản, hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản, liên hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp,viết được một số câu, đoạn, bài văn ngắn, phát biểu rõ ràng, nghe hiểu ý kiến người nói. Mục tiêu trên cho thấy nói và nghe là hai trong số những kĩ năng ngôn ngữ mà học sinh cần rèn luyện để phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh tiểu học. Do vậy, cần chú ý luyện nói và nghe cho học sinh, trong đó có kể chuyện sáng tạo, bên cạnh việc dạy đọc và viết. Mặt khác, trong dạy học Tiếng Việt, các kĩ năng không phát triển độc lập mà có liên quan đến nhau. Giữa nói – nghe và các kĩ năng khác có mối liên quan không phủ nhận được. Chẳng hạn những điều mà học sinh đọc được là nguồn tư liệu quan trọng để học sinh luyện nói – nghe. Mặt khác kĩ năng nói – nghe cũng có mối liên quan mật thiết với kĩ năng viết : Nói và viết tuy có hình thức biểu đạt khác nhau, nhưng có rất nhiều yêu cầu chung về cách lựa chọn, sắp xếp ý, yêu cầu chung về nội dung biểu đạt, sử dụng ngôn ngữ. Do vậy, phát triển kĩ năng nói đồng thời có tác dụng phát triển kĩ năng viết cho học sinh. Điều này cho thấy ích lợi việc kĩ năng nói – nghe, vì vậy kể chuyện sáng tạo có vai trò quan trọng đối với việc phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh. Hơn thế, mục tiêu đặc thù của môn Tiếng Việt tiểu học còn là phát triển năng lực văn học với yêu cầu phân biệt thơ và truyện, biết cách đọc thơ, truyện; nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật, có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học. Để hoàn thành mục tiêu này cần dạy phối hợp đọc, viết, nói và nghe. Với đặc thù riêng của mình, dạy học kể chuyện sáng tạo có lợi thế trong việc phát triển năng lực văn học cho học sinh. Ngoài ra Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có mục tiêu góp phần hình thành phẩm chất và năng lực chung của học sinh.Tuy nhiên nói và nghe, đặc biệt là kể chuyện sáng tạo có ưu thế góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp – hợp tác Ví dụ: Học sinh cần thảo luận nhóm về câu chuyện sẽ kể, cần kể, cần trao đổi cho thầy cô và các bạn nghe; giải quyết vấn đề - sáng tạo (Vì học sinh phải giải quyết các nhiệm vụ học tập, nghĩ cách sử dụng ngôn ngữ kết hợp vẻ mặt, cử chỉ sao cho nội dung câu chuyện được biểu đạt sinh động nhất.)
  7. 2 Dạy học kể chuyện còn góp phần phát triển phẩm chất của học sinh. Giống như các kĩ năng khác, nói và nghe góp phần phát triển phẩm chất của học sinh. Tuy nhiên, kề chuyện có ưu thế trong nhiệm vụ này, vì văn bản truyện thường thể hiện thông điệp nhân văn, khuyên mọi người sống chăm chỉ, có trách nhiệm, yêu thương con người, trung thực Có thể thấy rất rõ trong chương trình giáo dục phổ thông mới, mục tiêu giáo dục tiểu học: Giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt. Bên cạnh đó mục tiêu giáo dục tiểu học giúp hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục các cấp học tiếp theo. 2. Mục tiêu đề tài. Kể chuyện là một hoạt động thú vị và rất thu hút lứa tuổi học sinh tiểu học, trong đó có học sinh lớp 2. Vì thế, việc cho học sinh tham gia các tiết học kể chuyện sẽ giúp học sinh tăng khả năng tập trung, chú ý vào nội dung học tập vì kể chuyện là hoạt động phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng. Trong các thể loại văn học, truyện là thể loại học sinh yêu thích nhất. Kể chuyện có sức mạnh riêng trong việc giáo dục trẻ. Ở trường Tiểu học, kể chuyện không chỉ là phương tiện phát triển các kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh, mà còn góp phần bồi dưỡng tình cảm, thẩm mĩ và mở rộng nhận thức cho trẻ. Với sự đặc thù bởi tính hấp dẫn của các câu chuyện, học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng đều thích thú với hoạt động của phân môn kể chuyện trong chương trình Tiếng Việt. Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học, đặc biệt là các học sinh ở đầu cấp 1 như học sinh lớp 2, khả năng chú ý của học sinh chưa bền vững nên hoạt động kể chuyện sẽ dễ dàng mang lại hứng thú học tập cho học sinh hơn so với các phân môn khác trong chương trình Tiếng Việt. Tuy vậy, qua thực tế giảng dạy hiện nay, tôi thấy một số giáo viên chưa thực sự dành thời gian đầu tư cho tiết học này nên đôi khi tiết học có hoạt động kể chuyện diễn ra tẻ nhạt, buồn chán. Giáo viên chỉ khai thác nội dung câu chuyện qua tranh với các tuyến nhân vật qua loa, chưa tạo ra được sự hứng thú học tập và phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Học sinh thường chỉ nhớ nội dung câu chuyện và kể đi kể lại một cách ngắn gọn, đơn điệu, nhất là những câu chuyện từ các bài tập đọc vừa học.
  8. 3 Mặt khác, sự ra đời của chương trình đòi hỏi các nhà trường có sự vận động để thực hiện chương trình một cách hiện quả. Chính vì vậy, giáo viên cần nghiên cứu giải pháp phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, trong đó có năng lực kể chuyện sáng tạo(một trong những biểu hiện của năng lực nói và nghe). Vì những điều đã phân tích trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “ Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 2” với mong muốn góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ của học sinh ngay từ lớp 2, giai đoạn đầu các em tập sử dụng ngôn ngữ sáng tạo. 3. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: Trong năm học 2023-2024 (từ tháng 9/2023 đến tháng 4/2024) Nghiên cứu các biện pháp dạy kể chuyện sáng tạo ở tiểu học.Thực trạng tại Lớp 2A3 trường Tiểu học nơi tôi đang công tác. Đề tài thực hiện tại: Trường Tiểu học nơi tôi công tác và được thực nghiệm tại lớp tôi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy. II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1.HIỆN TRẠNG VẤN ĐỀ: 1.1 Năng lực và dạy học phát triển năng lực. Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin,ý chí thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Chương trình GDPT tổng thể 2018 nêu rõ yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù của môn Ngữ văn ở bậc tiểu học bao gồn năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học. Trong giờ học phát triển năng lực, học sinh sẽ học thông qua làm, qua thực hành để từ đó đưa ra kết luận và hình thành được hiểu biết, tri thức cho bản thân. Vì thế, giáo viên cần chú ý hình thành cho học sinh cách học, tự học, từ phương pháp tiếp cận, phương pháp đọc hiểu đến cách thức tạo lập văn bản và nghe- nói; thực hành luyện tập và vận dụng nhiều kiểu loại văn bản khác nhau để sau khi rời nhà trường các em có thể tiếp tục học suốt đời và có khả năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống. Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức là tổ chức hoạt động cho học sinh, hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ học sinh để các em từng bước hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực. Giáo viên cũng cần khơi gợi, khuyến khích các em tranh luận, đặt câu hỏi cho mình và cho người khác. Bên cạnh đó, giáo viên cần chú ý dạy học tích
  9. 4 hợp và phân hóa, đồng thời đa dạng hóa các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học. Có như thế mới thực sự tạo ra môi trường học tập nhằm phát triển năng lực cho học sinh. 1. 2. Dạy kể chuyện sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực. Trong khoa học nói chung thì sáng tạo là tạo ra một điều gì đó mới hơn cái thông thường đã có sẵn. Còn sáng tạo trong văn bản nghệ thuật có nhiều mức độ khác nhau về tính sáng tạo. -Thứ nhất, tính sáng tạo được thể hiện ở nhiều kiểu bài khác nhau nhưng bản chất của kể chuyện sáng tạo không phải là kể nguyên văn mà kể tự nhiên như sống với câu chuyện, kể bằng ngôn ngữ giọng điệu của mình, thể hiện được cảm nhận của mình về câu chuyện đó. Khi kể, lời kể của trẻ có thể thay đổi, như thêm bớt một số câu chữ của mình vào câu chuyện, nhưng cốt chuyện không thay đổi mà vẫn đảm bảo được nội dung câu chuyện ở những tình tiết chính. Có như vậy thì câu chuyện mới trở nên sinh động và hấp dẫn hơn. -Thứ hai, học sinh dựa trên cốt truyện, tình tiết, nhân vật có sẵn trong văn bản truyện của bài tập đọc và sáng tạo ra chi tiết mới về nhân vật, tình tiết truyện và cốt truyện thông qua các bài tập, câu hỏi gợi ý và sau đó kể hoặc viết lại câu chuyện mới của mình. Mức độ sáng tạo của truyện tùy thuộc vào khả năng , trí tưởng tượng của từng trẻ. Có thể thay đổi hoàn toàn nội dung truyện hoặc có thể thay đổi chỉ một chút về tên nhân vật, tính cách, ngoại hình của nhân vật. Để giờ nói và nghe có hiệu quả, tôi luôn chú ý những điểm sau: -Hướng dẫn học sinh cách thức, quy trình chuẩn bị một bài trình bày ngắn và trình bày trước nhóm, tổ, lớp. Giáo viên cần tạo ra môi trường thân thiện để học sinh tự tin và tự do trình bày quan điểm, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của bản thân. - Hướng dẫn học sinh tập trung vào chủ đề và mục tiêu khi nói, cách nói rõ ràng, mạch lạc, phù hợp với ngữ cảnh, giúp người nghe nắm bắt được nội dung . Hướng dẫn học sinh kĩ năng nghe hiểu, ở đây cụ thể là nắm được nội dung của truyện muốn truyền tải và thông điệp mà mỗi câu chuyện muốn nhắn nhủ. -Tổ chức cho học sinh thảo luận, tranh luận qua đó học sinh tiểu học hiểu được tính chất tương tác của ngôn ngữ nói và hình thành thái độ tích cực, hợp tác khi trao đổi, tranh luận, thảo luận. 1.3 .Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học và việc dạy học kể chuyện sáng tạo cho học sinh lớp 2. a. Đặc điểm nhận thức của học sinh lớp 2: +Sự phát triển ghi nhớ của học sinh tiểu học: Ban đầu các em áp dụng các ghi
  10. 5 nhớ một cách đơn giản nhất là nhắc đi nhắc lại nhiều lần để nhớ nguyên văn một nội dung. +Sự phát triển khả năng tưởng tượng của trẻ: Khả năng tưởng tượng của học sinh đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập, khi hình thức tư duy dần phát triển lên mức độ cao hơn, từ tư duy trực quan hình tượng sang tư duy trìu tượng. Trẻ có khả năng miêu tả một cách sinh động những câu chuyện mà chúng đã học hoặc được nghe cô giáo kể. Tưởng tượng tái tạo hay còn gọi là sự sao chép lại, được phát triển trong tất cả các giờ học của học sinh nhỏ tuổi là một trong những tiền đề rất quan trọng đối với sự phát triển tưởng tượng sáng tạo. Biết khuyến khích khả năng và hứng thú tưởng của học sinh, giáo viên tạo cơ hội và động lực sáng tạo cho học sinh khi tập kể chuyện. Trong khi dạy, giáo viên đặt câu hỏi hoặc yêu cầu“ Em hãy tưởng tượng ”, “ Em hãy kể tiếp ” khiến học sinh phát huy tính tưởng tượng của mình để kể một cách sáng tạo. Việc cho học sinh đóng kịch cũng là phát huy trí tưởng tượng của học sinh. b. Chú ý của học sinh lớp 2: Ở học sinh tiểu học, chú ý có chủ định của học sinh còn yếu, đặc biệt là những lớp đầu tiểu học trong đó có học sinh lớp 2, khả năng điều chỉnh chú ý chưa mạnh. Vì vậy, việc sử dụng đồ dùng dạy học là phương tiện quan trọng để tổ chức sự chú ý cho học sinh. Để duy trì chú ý của học sinh, ngoài việc chọn truyện thú vị, hấp dẫn, giáo viên còn cần sử dụng giọng kể kết hợp vẻ mặt, cử chỉ phù hợp để cuốn hút học sinh; đặt câu hỏi gây chú ý tới học sinh. Sử dụng tranh ảnh, video cũng góp phần làm cho học sinh chú ý và hứng thú với câu chuyện. c. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ: Có thể thấy rằng, vốn từ của học sinh còn ít, các em không nói được các câu không quá phức tạp. Câu đủ thông tin nhưng chưa có nhiều hình ảnh. Cần phải luyện dần cho các em. Học sinh tiểu học có khả năng bắt chước cao. Do vậy, có thể làm mẫu để cho các em tập kể theo cho hay (nhưng khuyến khích các em có cách thể hiện riêng). 1.4.Chương trình giáo dục phổ thông Chương trình GDPT 2018 có sự kế thừa nhưng cũng có điểm mới so với chương trình 2006. Dưới đây là bảng so sánh yêu cầu cần đạt của kĩ năng nghe nói lớp 2 chương trình 2006 và lớp 2 chương trình 2018.
  11. 6 Nội dung Chương trình 2006 Chương trình 2018 + chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, +Nói rõ ràng, có thói quen nhìn vào mời, nhờ, đề nghị, tự giới người nghe. thiệu, đáp lời cảm ơn, lời +Biết nói và đáp lại lời chào hỏi, chia mời trong các tình huống tay, cảm ơn, xin lỗi, lời mời, lời đề Kĩ năng nói giao tiếp ở trường học, gia nghị, chúc mừng, chia buồn, an ủi, đình, nơi công cộng. khen ngợi, bày tỏ sự ngạc nhiên, đồng +Trả lời và đặt câu hỏi đơn ý, không đồng ý, từ chối phù hợp với giản đối tượng người nghe. +Kể một mẩu chuyện hoặc +Kể được một câu chuyện đơn giản một đoạn câu chuyện được (có hình ảnh) đã đọc, nghe, xem. nghe. +Nói ngắn gọn về một câu chuyện +Nói lời giới thiệu đơn giản hoặc bài thơ đã đọc theo lựa chọn cá về bản thân, gia đình, bạn nhân. bè, trường lớp theo gợi ý. + Nghe và trả lời câu hỏi về +Có thói quen và thái độ chú ý nghe những mẩu chuyện có nội người khác nói. Đặt được câu về dung đơn giản, gần gũi với những gì chưa rõ khi nghe. Kĩ năng lứa tuổi. +Nghe một bài thơ hoặc một bài hát, nghe + Nghe viết chính tả một dựa vào gợi ý, nói một vài câu nêu đoạn văn, đoạn thơ hoặc bài cảm nhận của mình về bài thơ hoặc thơ ngắn. bài hát đó. +Nghe câu chuyện dựa vào gợi ý, nêu ý kiến về nhân vật chính hoặc một sự việc trong câu chuyện. +Biết trao đổi trong nhóm về các nhân vật trong câu chuyện dựa vào Nói nghe gợi ý. tương tác + Biết trao đổi nhóm về một vấn đề: Chú ý lắng nghe người khác, đóng góp ý kiến của mình, không nói chen ngang khi người khác đang nói. Qua bảng so sánh trên, ta có thể thấy rõ ngoài việc thừa kế một số nội dung dạy học nghe và nói, chương trình GDPT 2018 còn được bổ sung thêm nội dung“