Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_ren_ki_nang_viet_doan.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh Lớp 2.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh Lớp 2
- 3/18 thuật sự việc) nên sự kết nối giữa các bài đọc với nhau và giữa nội dung bài đọc với hoạt động viết được tính toán kĩ lưỡng và công dụng. Trong sách tiếng Việt lớp 2, người đọc không tìm thấy các “phân môn” mà chỉ nhìn thấy các hoạt động giao tiếp. Việc tích hợp này giúp cho hoạt động dạy học ngôn ngữ gần với giao tiếp thực tế. Ngoài viết 1 -2 câu ở tất cả các bài nhỏ (theo văn bản), cuối mỗi bài lớn (theo chủ điểm) đều có hoạt động viết đoạn văn ngắn (4-5 câu). Để viết được đoạn văn ngắn, học sinh phải được tích lũy hiểu biết, trải nghiệm từ nội dung của các bài đọc và của các hoạt động nói và nghe xung quanh những ý tưởng, thông tin được gợi ra từ bài đọc. Mặt khác, các em cũng cần được trang bị kiến thức tiếng Việt và thực hành các bài tập về chính tả, từ ngữ, câu. Đó như là một công cụ giúp các em viết đoạn văn ở cuối mỗi bài lớn. Bằng cách đó, học sinh được chuẩn bị tốt cho việc rèn kĩ năng viết. Về phía giáo viên: Trong chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Tiếng Việt ở lớp 2 được xây dựng chiếm nhiều thời lượng nhất (gồm 350 tiết/năm, với 10 tiết/tuần). Giáo viên đã tập huấn về việc thực hiện chương trình. Nhiều giáo viên đã tích cực học tập, tự bồi dưỡng, có sáng tạo trong quá trình dạy học. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn e ngại không dám đổi mới, chưa dám thoát li sách giáo khoa, sách giáo viên. Việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học ở một bộ phận giáo viên chưa thực sự được chú trọng. Vẫn còn tình trạng giáo viên tổ chức dạy học theo phương pháp truyền thống, nặng về truyền thụ kiến thức một chiều, giáo viên đặt câu hỏi - học sinh trả lởi, chưa chú trọng đến việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, chưa tổ chức nhóm cho các em trao đổi, thảo luận. Một số giáo viên còn dạy theo hình thức bài viết mẫu Những cách làm đó không phát huy được tính sáng tạo của học sinh. Về phía học sinh: Ở lớp 1, học sinh chỉ dừng lại ở mức độ tập nói hoặc viết câu đơn giản. Lên lớp 2, các em phải viết đoạn từ 2 – 3 câu rồi cao hơn 4 – 5 câu. Vì vốn hiểu biết về tiếng Việt của các em còn hạn chế nên thường nghĩ sao viết vậy, không theo trật tự logic, câu văn chưa rõ nghĩa, các em gặp khó khăn khi lựa chọn từ ngữ, cách sắp xếp các ý. Việc vận dụng từ ngữ để đặt câu, tạo đoạn còn chưa linh hoạt, các ý chưa được sắp xếp logic. Thậm chí các em sử dụng dấu câu chưa hợp lí trong quá trình viết đoạn văn. học tập của lớp 2C (lớp thực nghiệm) và lớp 2A, 2B (lớp đối chứng) Qua thực tế giảng dạy ở lớp 2 những năm học trước tôi nhận thấy nhiều học sinh kĩ năng nói, viết kém. Do các em đọc ngọng, phát âm sai dẫn đến viết
- 4/18 sai chính tả, kĩ năng nói kém nên viết câu văn chưa rõ ý, viết đoạn văn lủng củng. Ngay khi mới nhận lớp, tôi đã ôn tập cho học sinh và khảo sát kết quả để tìm hiểu khó khăn của học sinh gặp phải. (Xem thêm Minh chứng 1) Kết quả khảo sát về học tập cho thấy học sinh hoàn thành tốt rất ít, tỉ lệ học sinh đạt hoàn thành còn nhiều, vẫn còn học sinh đạt điểm yếu đồng nghĩa với mức chưa hoàn thành. Kĩ năng: đọc, viết, nói và nghe của các em chưa tốt. Nhiều em viết sai chính tả, viết câu lủng củng, câu chưa rõ nghĩa, viết đoạn văn rời rạc... Đặc điểm học sinh tiểu học nhanh nhớ, nhanh quên. Nghỉ hè các em vui chơi thỏa thích, những em hạn chế về năng lực nhận thức thì rất mau quên kiến thức. Từ thực tế đó, để khắc phục tình trạng trên tôi xin trình bày Một số giải pháp rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 2. 2. Giải pháp thực hiện : Giải pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh Tôi sử dụng phương pháp quan sát, thu thập thông tin, khảo sát kết quả học tập của học sinh. Tôi phân thành 3 nhóm đối tượng sau: - Nhóm thường mắc lỗi đọc phát âm sai, đọc chưa thạo. - Nhóm thường mắc lỗi về dùng từ đặt câu. - Nhóm thường mắc lỗi về kĩ năng diễn đạt. Từ việc nắm bắt tình hình học sinh, trên cơ sở đó để xây dựng kế hoạch bài dạy phù hợp, đề ra hướng giải quyết giúp đỡ học sinh: + Rèn cho học sinh có thói quen trả lời thành câu khi trả lời câu hỏi. + Rèn đọc cho những em đọc chưa thành thạo vào các giờ đọc văn bản vào thời gian truy bài trước giờ vào học, thời gian ngoài giờ lên lớp. + Xếp chỗ ngồi sao cho mỗi bàn có 1 học sinh học tốt và 1 bạn đọc kém để sửa lỗi về đọc cho bạn trong các giờ đọc văn bản. + Tổ chức cho học sinh học theo nhóm để các em giúp đỡ lẫn nhau, động viên những em có câu trả lời hay, rõ nghĩa. + Đưa ra những câu hỏi từ dễ đến khó để học sinh có thể trả lời được nhằm tạo hứng thú và củng cố niềm tin ở các em. + Thường xuyên kiểm tra học sinh trong quá trình dạy học. Việc phân loại học sinh sẽ giúp giáo viên biết mức độ kiến thức của các em đến mức nào để có biện pháp dạy học phù hợp với với từng đối tượng.
- 5/18 Giải pháp 2: Rèn kĩ năng dùng từ, viết câu: * Rèn kĩ năng nói thành câu: Muốn viết thành câu thì cần rèn các em thói thành câu. Khi nói thành câu thì người nghe mới hiểu được người nói đó muốn nói gì. Vì vậy, tôi chú trọng việc rèn học sinh trả lời thành câu. Ở lớp 2 chưa nêu khái niệm câu và thành phần của câu nhưng thông qua hướng dẫn HS thực hành và sửa lỗi câu cho các em, GV cần giúp HS cảm nhận được thế nào là câu và thế nào chưa phải là câu để các em viết đúng và biết sửa lỗi. Nếu các em trả lời chưa thành câu thì giáo viên cần sửa ngay, yêu cầu các em nói lại cho thành câu. Ví dụ: Bài đọc: Tôi là học sinh lớp 2, khi trả lời câu hỏi: Bạn ấy nhận ra mình thay đổi như thế nào khi lên lớp 2? Nếu HS trả lời là: ”lớn bổng lên” thì giáo viên cần cho các bạn nhận xét câu trả lời của bạn và sửa lại cho bạn. Giáo viên cần giải thích cho học sinh hiểu: Nếu em nói như vậy thì người nghe chưa hiểu Ai lớn bổng lên? Em trả lời như vậy là chưa thành câu, em cần trả lời : ”Bạn ấy nhận ra mình lớn bổng lên.”. Còn khi trả lời với cô, em cần thêm từ: ”ạ” để thể hiện lễ phép. Hoặc khi học bài: Cây xấu hổ. Giáo viên hướng dẫn học sinh nói tiếp lời của cây xấu hổ để thành câu: Mình rất tiếc (...). Giáo viên cần chú trọng rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu. Trong các giờ đọc, ở phần giải nghĩa từ, khi học sinh đã hiểu được nghĩa của từ, giáo viên cần cho học sinh đặt câu với từ đó. Qua cách làm đó, học sinh sẽ hiểu thế nào là câu và sẽ có kĩ năng viết câu. * Rèn kĩ năng viết thành câu: Để có kĩ năng viết câu, giáo viên cần đưa ra các dạng bài tập khác nhau để học sinh thực hành viết câu: + Dạng 1: Điền thêm từ để thành câu: Ví dụ: Chọn từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống để thành câu: a) Chú chim ... b) Ông mặt trời ... c) ... treo trên tường nhà em rất đẹp. d) An luôn với các bạn e) Mấy ... thi nhau ca hát trên cành. + Dạng 2: Sắp xếp các từ ngữ cho trước để thành câu hoàn chỉnh Ví dụ: Sắp xếp các từ ngữ dưới đây thành câu hoàn chỉnh: a) chú gấu bông/ mềm mại/ rất. b) những miếng ghép/ sặc sỡ/ có nhiều màu sắc/ lê-gô
- 6/18 c) nhà cửa/ giúp/ mẹ/ quét dọn/ Hùng + Dạng 3: Lựa chọn từ ngữ thích hợp cho câu Để có đoạn văn hay, các em phải có vốn từ ngữ phong phú. Mà vốn từ đó, có em tích lũy khá nhiều nhưng chưa biết vận dụng, có em thì có rất ít hoặc có em lại chưa hề có. Bởi vậy, luyện tập thực hành sẽ giúp các em có kĩ năng sử dụng từ, viết câu. Giáo viên trau dồi vốn từ cho các em bằng cách đưa ra các dạng bài tập để các em thực hành. Ví dụ: Chọn các từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ chấm để hoàn thành đoạn văn sau: Chiều qua, em đã giúp mẹ nhặt rau để chuẩn bị (bữa sáng/bữa trưa/ bữa tối). Đầu tiên em ngắt từng ngọn rau muống ra khỏi (phần thân/ phần gốc/ phần lá). Em chú ý nhặt phần non của rau để ăn cho ngon. Cuối cùng là đem rau đi (cất gọn/ rửa sạch/ nấu chín) với nước rồi vẩy cho ráo nước. Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện tượng xung quanh để ghi nhận lại hình ảnh, từ ngữ và sử dụng khi cần thiết. Giáo viên có thể cho các em chơi trò chơi thi đua tìm từ ngữ các em sẽ rất hứng thú và tìm được rất nhiều từ. Ví dụ: Tìm từ chỉ đặc điểm của hoa phượng, học sinh sẽ tìm được các từ: đỏ rực, đỏ thắm, đỏ tươi, hoặc hoa phượng màu vàng rực, vàng tươi, - Trong các tiết Đọc, giáo viên chú trọng việc tìm các từ ngữ, hình ảnh mà em thích trong bài đọc. Ngoài ra, giáo viên khuyến khích học sinh đọc thêm các văn bản đọc ngoài sách giáo khoa. Việc đọc giúp các em học được những câu văn hay những từ ngữ gợi tả, gợi cảm để vận dụng viết văn. - Để mở rộng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần hướng dẫn các em lựa chọn các từ cũng nghĩa hoặc từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Ví dụ: Tìm các từ tả ánh nắng mặt trời mùa hè? Giáo viên cho học sinh thảo luận và để các em tìm như: chói chang, gay gắt, Hoặc tả mặt trời học sinh tìm được các từ: đỏ rực, như mâm lửa khổng lồ, như quả cầu lửa, Hoặc viết về buổi sáng ta có thể dùng các từ ngữ: bình minh, sớm mai, bình minh. * Rèn kĩ năng viết câu sáng tạo: Khi các em đã biết viết câu thành thạo thì cần rèn viết câu sáng tạo. Để có câu văn hay, giáo viên cần hướng dẫn học sinh dùng từ chính xác, biết sử dụng
- 7/18 các từ ngữ có hình ảnh, gợi tả, gợi cảm, từ gợi cảm xúc để viết câu. Việc nhận biết các từ ngữ chỉ sự vật, chỉ hoạt động, chỉ đặc điểm; phân biệt được câu giới thiệu, câu nêu hoạt động và câu nêu đặc điểm cũng sẽ giúp cho học sinh viết câu văn hay hơn. Với cùng một nội dung thông báo song với mỗi cách viết lại có một cách diễn tả khác nhau. Ví dụ: Đặt câu nêu đặc điểm mái tóc của bà em. Nếu học sinh đặt câu: - Mái tóc bà em đã bạc. GV có thể gọi mở: Mái tóc bà bạc như thế nào? em có thể dùng từ nào để miêu tả mái tóc bạc? (bạc phơ, hoa râm, bạc trắng như cước, ...) Giáo viên sẽ cho học sinh nhận xét: Nếu ta thay từ ”bạc” bằng các từ trên thì câu nào sẽ hay hơn Vì sao? Học sinh chắc chắn sẽ chọn các từ trên vì câu văn đã miêu tả mái tóc bạc của bà rõ nét hơn. GV cho các bài tập vận dụng để rèn cách viết câu văn hay: Ví dụ: Thay các từ gạch chân sau bằng các từ hay hơn: + Chiếc ô tô chạy rất nhanh. + Búp bê mặc chiếc váy rất đẹp. Học sinh có thể thay từ rất nhanh bằng từ bon bon, ; thay từ mặc bằng từ khoác, diện; thay từ rất bằng từ tuyệt . + Chiếc ô tô chạy bon bon. + Búp bê diện chiếc váy tuyệt đẹp! Với cách làm đó, học sinh có thể viết được các câu văn khác, gợi tả, gợi cảm chẳng hạn: + Búp bê có mái tóc vàng óng. + Gấu bông to khoác trên mình chiếc áo màu trắng tinh. + Chiếc mũi hếch lên trông dễ thương làm sao! + Chúng em đứng lên chào cô rồi ùa ra sân như đàn chim sổ lồng. Để giúp học sinh viết được câu văn hay, giáo viên cần chú trọng khai thác kĩ nội dung đọc hiểu qua văn bản: Ví dụ bài 8: Lũy tre + GV đặt câu hỏi: Em thấy bài thơ tả lũy tre có câu thơ nào hay? Vì sao em thấy hay? + Cho HS thảo luận nhóm 4, đọc, tìm và nêu cảm nhận của mình. + Cho HS nối tiếp nhau chia sẻ trước lớp. Qua đó luyện kĩ năng nói cho HS. ”Tre bần thần nhớ gió.” Câu thơ giàu cảm xúc vì tác giả đã sử dụng từ chỉ cảm xúc bần thần, nhớ để diễn tả lũy tre những ngày không có gió. Câu thơ cho ta thấy tre cũng giống con người. Giáo viên cần nhấn mạnh cách dùng
- 8/18 những từ tả cảm xúc của người để nói về sự vật đã góp phần làm nên cái hay của bài thơ. Từ đó học sinh có thể viết được những câu sáng tạo. Kết luận: Có kĩ năng sử dụng từ các em sẽ viết được câu đúng ngữ pháp, diễn đạt giữa các ý trong câu logic, câu có hình ảnh. Đó là tiền đề giúp các em viết đoạn văn hay. Giải pháp 3: Rèn kĩ năng sử dụng các kiểu câu: Để viết được đoạn văn hay, học sinh cần hiểu và biết vận dụng các kiểu câu giới thiệu, câu nêu đặc điểm, câu nêu hoạt động một cách hợp lí. Ví dụ: Đặt 1 câu giới thiệu đồ chơi mà em yêu thích. Giáo viên cho học sinh nối tiếp nói câu giới thiệu, chẳng hạn: 1. Chiếc ô tô là món đồ chơi mẹ tặng em nhân dịp sinh nhật lần thứ sáu. 2. Chiếc ô tô chạy rất nhanh. 3. Em rất thích chiếc ô tô này. GV gọi HS khác nhận xét câu của các bạn vừa đặt. Các em sẽ nhận ra câu 1 là giới thiệu, câu 2 là câu nêu hoạt động, câu 3 là câu nêu đặc điểm. Hướng dẫn các em ghi nhớ: + Câu giới thiệu: dùng để giới thiệu, nhận xét về con người, sự vật, sự việc nào đó. Vế 1 trong câu trả lời cho câu hỏi Ai? –cái gì? Con gì?. Vế 2 trong câu thường có từ “là” + từ chỉ sự vật. (Vế 2 trả lời cho câu hỏi là gì?) + Câu nêu hoạt động: dùng để kể về hành động, hoạt động của con người, sự vật, sự việc. Vế 1 trong câu trả lời cho câu hỏi Ai? –cái gì? Con gì?. Vế 2 trong câu thường trả lời cho câu hỏi làm gì? (là từ chỉ hoạt động). + Câu nêu đặc điểm: dùng để miêu tả đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái của người, vật . Vế 1 trong câu trả lời cho câu hỏi Ai? –cái gì? Con gì?. Vế 2 trong câu trả lời cho câu hỏi thế nào? (là các từ chỉ đặc điểm, tính chất hoặc trạng thái). Tôi thường cho các bài tập lựa chọn để học sinh vận dụng kiến thức đã học vào tình huống thực tế, khắc sâu kiến thức đã học. Ví dụ: Chọn câu giới thiệu chú gấu bông trong các câu sau đây: a) Chú gấu bông đẹp quá! b) Chú gấu giúp em ngủ ngon hơn. c) Nhân dịp sinh nhật, bố mẹ tặng em một chú gấu bông. d) Bộ lông chú mịn như nhung. Hoặc: Chọn câu miêu tả các bộ phận của chiếc xe đồ chơi: a) Bà đã tặng em chiếc ô tô cần cẩu này. b) Chiếc ô tô trông rất chắc chắn.
- 9/18 c) Chiếc ô tô cần cẩu có nhiều bộ phận: đầu xe, thân xe, bánh xe và cần cẩu. d) Em rất thích chiếc ô tô này. Khi đã nhận biết được các kiểu câu, giáo viên cần hướng dẫn để các em biết vận dụng khi viết đoạn văn. Chẳng hạn: Mở đầu dạng bài giới thiệu một đồ vật hoặc tả một đồ vật ta thường dùng câu giới thiệu. Các câu tiếp theo của đoạn văn ta thường dùng câu nêu đặc điểm, câu nêu hoạt động. Có như vậy các câu trong đoạn văn mới logic. Giải pháp 4: Rèn kĩ năng sử dụng các dấu câu Dấu câu là phương tiện ngữ pháp dùng trong chữ viết. Tác dụng của nó là làm rõ trên mặt chữ viết một cấu tạo ngữ pháp, bằng cách chỉ ranh giới giữa các câu, giữa các thành phần của câu. Dấu câu tiếng Việt không chỉ là một phương tiện ngữ pháp mà còn là một công cụ để biểu thị sắc thái tế nhị về nghĩa của câu, tư tưởng, cảm xúc và thái độ của người viết. Dấu câu được sử dụng đúng cách giúp người đọc hiểu rõ và nhanh chóng bài viết. Ngược lại, việc không sử dụng hoặc sử dụng sai dấu câu có thể gây hiểu lầm và làm sai ngữ pháp, ngữ nghĩa. Vì vậy, luật dấu câu cần được áp dụng một cách nghiêm túc. Ở lớp 2 các em được học các dấu câu cơ bản như: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm hỏi, dấu chấm than. Nhưng khi chuyển sang ngôn ngữ viết các em thường quên viết dấu câu. Sách giáo khoa tiếng Việt lớp 2 không có nội dung riêng đề cập đến cách sử dụng các dấu câu. Vì vậy, giáo viên cần khai thác tác dụng của dấu câu và cách sử dụng dấu câu thông qua các văn bản đọc. Có như vậy mới giúp học sinh hiểu và biết sử dụng dấu câu thích hợp. Với học sinh lớp 2, giáo viên cần giúp học sinh ghi nhớ: + Dấu chấm đặt ở cuối câu kể, báo hiệu câu đã kết thúc, giúp người đọc biết câu chuyện chuyển sang một vấn đề khác. Sau dấu chấm ta phải viết hoa chữ cái đầu tiên của câu tiếp theo. Ví dụ: Đặt câu với từ: mềm mại, đỏ thắm - Chú gấu có bộ lông mềm mại. - Hoa phượng nở đỏ rực. Ví dụ: Kể các đồ dùng học tập của em. Nếu học sinh viết: Đồ dùng học tập của em gồm bút mực bút chì tẩy thước. GV cần cho học sinh đọc lại câu đó và hướng dẫn: trong câu này ta cần dùng dấu phẩy để ngăn cách tên các đồ dùng học tập và cần viết như sau: Đồ dùng học tập của em gồm bút mực, bút chì, tẩy, thước. Yêu cầu HS cần ghi nhớ: + Dấu phẩy dùng để tách các bộ phận cùng loại trong câu, hoặc tách bộ phận phụ với nòng cốt câu, tách các vế trong câu ghép (với HS lớp 2, nội
- 10/18 dung này GV cần nói rõ: tách phộ phận đứng ở đầu câu, trả lời cho câu hỏi: Ở đâu? Bao giờ?...). Dấu phẩy được đặt xen kẽ trong câu, một câu có thể sử dụng một hoặc nhiều dấu phẩy. Dấu phẩy giúp cho các ý, các phần trong câu được phân cách rõ ràng. Ví dụ: - Trên cành cây, chim hót líu lo. - Đằng đông, ông mặt trời nhô lên đỏ rực. + Câu hỏi dùng để hỏi về những thông tin chúng ta chưa biết, cuối câu hỏi đặt dấu chấm hỏi (?). Cuối câu thường có từ: chưa, nào, gì, .... Ví dụ: - Bạn tên là gì? - Bạn học trường nào? - Cháu ăn cơm chưa? + Dấu chấm than dùng để kết thúc những câu bộc lộ thái độ, cảm xúc và câu thể hiện lời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị. Ngoài ra dấu chấm than còn sử dụng để: kết thúc câu gọi hoặc câu đáp, tỏ thái độ mỉa mai hay ngạc nhiên đối với sự kiện vừa nêu, cuối câu thường có từ: nhé, lắm, quá, Ví dụ: - Con thích lắm! - Mai ơi, tớ rất quý cậu! - Con ơi, rót nước giúp mẹ nhé! Biết sử dụng dấu câu cũng sẽ giúp các em viết đoạn văn hay hơn, các câu rõ nghĩa hơn. Giải pháp 5: Rèn kĩ năng diễn đạt đoạn văn Để chủ động hơn khi tập viết các đoạn văn kể, miêu tả ngắn, giáo viên cần hướng dẫn các em trình tự các bước khi viết một đoạn văn: - Viết câu mở đầu: Giới thiệu đối tượng cần viết (có thể diễn đạt bằng một câu). - Phát triển đoạn văn: Kể về đối tượng: có thể dựa theo gợi ý, mỗi gợi ý có thể diễn đạt bằng một hoặc hai câu tùy theo năng lực học sinh. - Câu kết thúc: có thể viết một câu thường là nói về tình cảm, suy nghĩ, mong ước của em về đối tượng được nêu trong bài hoặc nêu ý nghĩa, ích lợi đối tượng đó với cuộc sống, với con người. Giáo viên cho các bài tập để học sinh vận dụng trình tự các bước làm trên sắp xếp các câu phù hợp để thành một đoạn văn. Ví dụ: Hãy sắp xếp các câu văn dưới đây thành một đoạn văn tả con gấu bông: + Chú gấu bông của em có bộ lông màu nâu nhạt.
- 11/18 + Điều đặc biệt của chú là khi ấn vào nút ở sau lưng, bài hát Chúc mừng sinh nhật sẽ vang lên. + Em rất thích chú gấu bông mà bố tặng cho em. + Em sẽ giữ gìn chú thật cẩn thận. + Vào dịp sinh nhật 6 tuổi, bố tặng em một con gấu bông dễ thương. Ví dụ 2: Hãy sắp xếp các câu văn dưới đây cho hợp lí thành một đoạn văn. + Thấy cô giáo và các bạn, Hà vui lắm. + Cô giáo ân cần hỏi thăm Hà, các bạn thì kể cho Hà nghe những chuyện trên lớp. + Biết Hà bị ốm, cô giáo và các bạn lớp 2A đến thăm em. + Dù đang mệt nhưng Hà vẫn ngồi dậy nói chuyện với mọi người. Khi các em hiểu trình tự các bước khi viết một đoạn văn, biết sắp xếp các câu văn theo trình tự hợp lí đó cũng chính là cẩm nang giúp các em vận dụng viết đoạn văn. Giải pháp 6: Rèn kĩ năng viết đoạn văn: Những hiểu biết, trải nghiệm được tích lũy, những kiến thức tiếng Việt được trang bị là công cụ giúp học sinh viết đoạn văn ở cuối mỗi bài lớn. Để giúp các em có kĩ năng viết đoạn văn ngắn, giáo viên cần giúp học sinh biết được quy trình viết bằng cách: - Yêu cầu học sinh đọc kĩ đề bài và xác định nội dung bằng cách trả lời câu hỏi: viết về cái gì? - Nêu được cấu trúc viết dạng bài đó như thế nào? - Cho học sinh làm việc cá nhân rồi trao đổi, chia sẻ giữa các thành viên trong nhóm, chia sẻ trước lớp, sau đó học sinh thực hành viết dựa trên thông tin và ý tưởng được chuẩn bị. Trước khi viết giáo viên cho học sinh lập dàn ý bằng cách hướng dẫn các em điền những thông tin, ý tưởng đã được chuẩn bị (làm việc cá nhân, làm việc nhóm) vào mẫu cho sẵn. Học sinh chỉ cần viết ra dưới hình thức các từ ngữ ngắn gọn, chưa phải viết thành câu. Ví dụ : Dàn ý: Giới thiệu một món đồ chơi. + Tên gọi của món đồ chơi: búp bê, ô tô, + Miêu tả đôi nét về món đồ chơi: hình dáng, màu sắc, + Cảm nhận về món đồ chơi: thích thú, trân trọng, Ví dụ : Dàn ý: Kể về một giờ ra chơi: + Địa điểm: Sân trường, trong lớp, + Các hoạt động: đá cầu, nhảy dây, đọc sách, + Cảm nhận sau mỗi giờ ra chơi: vui vẻ, thích thú, sảng khoái,
- 12/18 Ví dụ : Dàn ý: Công việc em đã làm cùng người thân: + Thời gian: cuối tuần, Tết, + Địa điểm: Trong nhà, chợ hoa, vườn cây, + Công việc: nấu cơm, dọn dẹp, mua sắm, + Công việc diễn ra như thế nào: dùng các từ: đầu tiên, tiếp theo, cuối cùng, + Cảm nhận sau khi làm xong: vui vẻ, hạnh phúc, - Từ dàn ý đã lập, các em thực hành viết nháp; dựa vào hỗ trợ của giáo viên, chỉnh sửa được lỗi dấu kết thúc câu, cách viết hoa, cách dùng từ ngữ. Sau đó học sinh viết đoạn văn trọn vẹn. - Hoặc ở mỗi dạng bài, giáo viên có thể lập sơ đồ tư duy để giúp học sinh nhớ được các bước làm. Qua đó các em biết liên kết, xâu chuỗi các câu trong đoạn văn, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách logic. Ví dụ: Tuần 14: Viết 3 – 4 câu kể một việc người thân đã làm cho em. + GV hướng dẫn HS đọc đề bài, xác định bài yêu cầu viết cái gì? (kể về 1 sự việc.) + Hướng dẫn HS cấu trúc viết đoạn văn kể về người thân. Tên người thân của em Việc thứ nhất Việc người thân Kể về người thân của em đã làm cho em Việc thứ hai Tình cảm của em với người thân. + Hướng dẫn HS làm việc theo nhóm để kể về một việc người thân đã làm cho em (luyện nói). Sau đó yêu cầu học sinh nói trước lớp để các bạn và cô giáo nhận xét, sửa chữa một các lỗi (nếu có) để các em rút kinh nghiệm trước khi viết vào vở, tạo cơ hội cho các em khác học tập. + Yêu cầu HS thực hành viết vở, GV quan sát, hỗ trợ HS gặp khó khăn, phát hiện kịp thời những lỗi để các em sửa chữa. + GV gọi HS đọc bài làm của mình. Cả lớp nhận xét, góp ý bổ sung về câu, từ, cách diễn đạt + GV hướng nhận xét, hướng dẫn cách nói về tình cảm của em:
- 13/18 Chẳng hạn: Em rất yêu mẹ của em./ Mỗi khi mẹ vắng nhà, em rất nhớ mẹ./ Em mong hè đến nhanh để về quê với ông bà. / - Giáo viên cần hướng dẫn học sinh liên kết các câu văn bằng những từ ngữ như: và, thì, vậy là, Đối với dạng bài kể, thuật lại một sự việc đã chứng kiến hoặc tham gia có thể dùng các từ: đầu tiên, sau đó, tiếp theo, cuối cùng để liên kết các câu trong đoạn văn. Tránh lặp lại từ nhiều lần bằng cách thay những từ có nghĩa tương tự. Với mỗi nội dung cần viết, giáo viên cần hướng dẫn kĩ để học sinh biết được cách làm. Nhờ đó, các em có kĩ năng viết đoạn văn, có nhiều bài viết sáng tạo. Việc rèn cho học sinh viết đoạn văn cần tạo điều kiện phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải làm sao mỗi đoạn văn là một cơ hội sáng tạo cho học sinh thâm nhập quan sát, phân tích từ thực tế, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chuẩn bị thật tốt các tiết học trước khi lên lớp. (Xem thêm minh chứng 2: Một số đoạn văn của học sinh) Giải pháp 7: Phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, sáng tạo Để giờ học đạt hiệu quả cao, giáo viên cần đa dạng các hình thức tổ chức dạy học và vận dụng phù hợp từng bài học. Trong một tiết học có thể bài tập này tổ chức theo nhóm hoặc cá nhân, bài tập khác tổ chức dưới dạng trò chơi, giải đố ... Giáo viên cần khuyến khích học sinh tham gia vào những hoạt động có tính tương tác và coi đó là một cách thức quan trọng để thúc đẩy việc học và trưởng thành. Hoạt động tương tác chủ yếu với học sinh lớp 2 là trao đổi nhóm, cùng tham gia hoàn thành một nhiệm vụ nó giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, tư duy và các kĩ năng xã hội một cách hiệu quả. Trong khi học sinh làm việc nhóm, giáo viên cần quan sát và dành thời làm việc với những học sinh hay nhóm học sinh cần hỗ trợ. Trong dạy học môn Tiếng Việt, giáo viên cần sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với nội dung mỗi bài dạy, mỗi tiết học để phát triển năng lực học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh. Giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học Tiếng Việt như: phương pháp quan sát, phương pháp kể chuyện, phương pháp đàm thoại, trò chơi, thảo luận nhóm .... Trong đó kĩ năng quan sát rất cần thiết khi viết văn. Quan sát trên lớp theo gợi ý, hướng dẫn của giáo viên hoặc tự quan sát khi chuẩn bị bài ở nhà. Giáo viên cần khai thác kĩ tranh ảnh, hình ảnh, tập trung quan sát đặc điểm nổi bật của đối tượng, mục đích là giúp học sinh tránh được liệt kê. Bên cạnh đó, giáo viên

