Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_d.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu Lớp 2
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 PHẦN II: NỘI DUNG 1. Một số vấn đề lý luận về dạy Luyện từ và câu. Chương trình Tiếng Việt 2 với chủ trương “Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi”. Chương trình Tiếng Việt 2 không dạy lý thuyết ngôn ngữ học mà chủ yếu dạy học sinh kỹ năng sử dụng Tiếng Việt, coi trọng khả năng vận dụng Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp. Phân môn Luyện từ và câu đã thể hiện rõ tính chất này. Luyện từ và câu là tên gọi một hợp phần trong môn Tiếng Việt 2 chương trình Tiểu học gồm 31 bài dạy trong 31 tiết đã được thực hiện đại trà từ năm học 2003-2004. Hợp phần này là một hệ thống các bài tập luyện từ và luyện câu nhằm cung cấp cho học sinh tri thức sơ giản về loại câu Tiếng Việt cũng như mở rộng vốn từ cho các em. Do vậy việc xem xét hệ thống bài tập trong hợp phần này sẽ cho phép chúng ta nhận ra: + Cấu trúc tri thức Tiếng Việt cần hình thành cho người học. + Nguyên tắc phát triển tri thức và vốn từ Tiếng Việt cho người học. Nhờ vậy, chúng ta hiểu biết đầy đủ hơn về chương trình dạy Luyện từ và câu ở lớp 2, tạo cơ sở định hướng chọn lọc phương pháp, phương tiện dạy học thích hợp, thực hiện một cách hệ thống và hiệu quả các bài dạy. Đối với học sinh lớp 2, ngay từ tên gọi của phân môn: Luyện từ và câu đã thể hiện tính thực hành của chương trình. Đúng như tên gọi của phân môn, đây hoàn toàn là các bài tập thực hành, thực hành luyện cách sử dụng từ và câu. Học sinh không cần quan tâm đến các thuật ngữ có tính chuyên ngành ngôn ngữ học mà chỉ chú trọng thực hiện các bài tập thực hành. Kiến thức Tiếng Việt hình thành thông qua các bài tập thực hành. a) Cấu trúc tri thức Tiếng Việt lớp 2 phân môn Luyện từ và câu. - Mở rộng vốn từ và kiến thức về từ loại. Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 tập 1 hướng dẫn học sinh tìm các từ chỉ một loại đặc điểm, tính chất, trạng thái, hoạt động nội dung trình này cung cấp cho học sinh biểu biết ban đầu về từ loại Tiếng Việt. Tuy nhiên chưa để các em sử dụng các thuật ngữ như: danh từ, động từ, tính từ. Tri thức Tiếng Việt trong các bài tập tìm từ ngữ như thế này có tác dụng khơi gợi kinh nghiệm ngôn ngữ đã có của học sinh, giúp các em nắm bắt tri thức về từ loại Tiếng Việt trên cơ sở ý thức và hệ thống hóa vốn từ vựng mà mình có. Việc cung cấp tri thức từ loại được thực hiện tích hợp với hoạt động mở rộng vốn từ (MRVT). Bên cạnh các 2/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 bài tập tìm từ loại này xen kẽ những bài tập như MRVT theo chủ đề về họ hàng, về người thân, về đồ dùng học tập các chủ đề cụ thể và gần gũi với kinh nghiệm của học sinh. Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 hướng dẫn học sinh tìm về một chủ đề có tính khái quát (tìm từ nói về thời tiết, ngày tháng, loài chim, về cây cối, về nghề nghiệp ) đặc biệt các bài tập MRVT ở bài tập 2 này tạo điều kiện cho học sinh bước đầu rèn các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, cụ thể hóa cho những loại, đặc điểm khái quát thao tác phân loại và khái quát. Đó là những bài tập: + Tìm từ theo thuộc tính phân tầng của một loại. Ví dụ như tìm về một loài chim theo đặc điểm về hình dáng, tiếng kêu và cách kiếm ăn. Nêu từ nói về loài thú theo tính chất nguy hiểm hoặc không nguy hiểm. + Loại trừ những từ không cùng loại đã gợi. Ví dụ như tìm từ không cùng một nhóm từ, tìm từ ngữ có chứa tiếng “biển” bài 1 tuần 25. + Phân loại đối tượng sự vật (từ) theo những tiêu chí cụ thể như: xếp từ vào nhóm mùa xuân, hạ, thu, đông. + Nhóm từ theo loại đã gợi ý có kèm tranh như: xếp từ chỉ đặc điểm dựa vào tranh tiết luyện từ và câu tuần 17, nói tên các loài chim bài 1 tuần 22. - Kiến thức về câu: (Kiểu câu, thành phần câu, dấu câu) tri thức về câu được tiếp nhận tích hợp với tri thức về một từ loại qua các bài tập: hoàn thành câu bằng cách điền vào chỗ trống với một từ chỉ hoạt động, tính chất đặt câu theo tranh, đặt câu hỏi theo chủ đề, dùng những từ của một câu để viết thành nhiều câu khác nhau, dùng những từ dời xếp lại thành câu Kiến thức về câu được tiếp nhận tích hợp với kiến thức về các bộ phận của câu qua bài tập: Dựa vào một bộ phận in đậm trong câu cho sẵn tìm một bộ phận nào trong câu trả lời cho một từ để hỏi. Kiến thức về dấu câu được tiếp nhận tích hợp với kiến thức về kiểu câu qua các bài tập sử dụng dấu câu. b) Nguyên tắc phát triển tri thức và mở rộng vốn từ Tiếng Việt thể hiện qua hệ thống bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2. Ẩn sâu cấu trúc là hệ thống tri thức từ và Tiếng Việt, cũng như hệ thống các bài tập mở rộng vốn từ, chúng ta có thể nhận ra nguyên tắc phát triển tri thức và mở rộng vốn từ Tiếng Việt trong hợp phần Luyện từ và câu như sau: - Khai thác kinh nghiệm ngôn ngữ và mở rộng vốn từ của người học: Những bài tập gọi tên sự vật (vật, người, việc, đồ vật) dựa theo tranh, hay tìm từ gợi ý như từ chỉ đồ đùng học tập, từ chỉ hoạt động, từ chỉ trạng thái, chỉ đặc điểm hay những bài tập MRVT theo chủ đề quan hệ họ hàng, gia đình, 3/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 công việc trong nhà... đến những chủ đề khái quát như muông thú, cây cối, sông biển Chính là thể hiện hướng dạy học đi từ việc giúp đỡ học sinh khai thác vốn từ tiếng mẹ đẻ, đến việc hệ thống chúng dựa vào bộ nhớ của não và luôn luôn mang ra sử dụng. - Giúp người học: MRVT một cách chủ động, hệ thống. Nếu so sánh với các bài dạy Từ ngữ lớp 2 của chương trình cải cách giáo dục, chúng ta dễ nhận thấy một điểm khác biệt của bài tập MRVT theo chủ đề của Chương trình Tiểu học 2000 là không cho sẵn bảng từ với các loại từ ngữ: danh từ, động từ, tính từ, thành ngữ. Điều này cho thấy rằng số từ ngữ mà học sinh lĩnh hội trong các bài tập MRVT ở chương trình này không chỉ là những từ ngữ do giáo viên cung cấp mà quan trọng hơn là những từ ngữ tiềm tàng trong trí óc các em. Và mức độ chủ động tìm tòi, khám phá, mở rộng của người học tùy thuộc vào nghệ thuật sư phạm của từng giáo viên. - Giúp người học tiếp nhận tri thức Tiếng Việt một cách thích hợp và sử dụng một cách phù hợp tự nhiên. Các tri thức về từ loại, dấu câu về bộ phận câu và vốn từ mà học sinh lĩnh hội được trong các bài Luyện từ và câu đều được tiếp nhận qua các bài tập nhận diện kiểu câu và sử dụng câu. Cách tích hợp như thế tạo điều kiện cho người học vận dụng một cách uyển chuyển và tự nhiên những kiến thức ngông ngữ mà mình có được vào những ngữ cảnh cụ thể, nhất là trong môi trường giao tiếp xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của phân môn, thấy được những đặc thù của môn học, cùng với những thuận lợi và khó khăn cơ bản. Tôi đã mạnh dạn tiến hành một số biện pháp giúp học sinh học tập đạt hiệu quả. 2. Thực trạng giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở trường tiểu học. Mục đích và yêu cầu chung của việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy Luyện từ và câu nói riêng là rèn luyện cho học sinh sử dụng thành thạo 4 kỹ năng (Nghe – Nói - Đọc – Viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Mà phân môn Luyện từ và câu đã thể hiện rất rõ tính thực hành của chương trình Tiếng Việt 2. a. Thực trạng dạy học của giáo viên: Qua thực tiễn dạy học, dự giờ thăm lớp và trao đổi với đồng nghiệp cùng với sự hiểu biết của bản thân. Tôi nhận thấy khi dạy Luyện từ và câu giáo viên đã đạt được những yêu cầu sau: - Về mặt kiến thức: Giáo viên đã truyền thụ đúng, đủ các nội dung của bài học cho mọi đối tượng học sinh. 4/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 - Về mặt phương pháp: Giáo viên cần có sự phối hợp hài hòa về phương pháp dạy để làm rõ nội dung trọng tâm của bài. b. Thực trạng học của học sinh: Đa số học sinh nắm được yêu cầu cơ bản của từng bài tập, từng tiết học. Học sinh đã được thực hành luyện tập thông qua các bài tập thực hành, thực hành luyện sử dụng từ và câu, kỹ năng sử dụng Tiếng Việt vào trong mọi hoạt động giao tiếp phù hợp với môi trường hoạt động của lứa tuổi. Các em có nhiều hứng thú đối với môn học này. Song vẫn còn một số em còn nhút nhát, chưa tự tin vào chính mình. Kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe – Nói - Đọc – Viết) của các em còn chưa tốt. Khi thực hành các bài Luyện từ và câu còn nhiều khó khăn, bỡ ngỡ. Năm học 2015-2016 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2. Ngay từ đầu năm học, khi học được 4 tuần tôi đã bắt tay ngay vào việc tìm hiểu và điều tra khảo sát chất lượng để phân loại chất lượng học sinh. Kết quả thu được như sau: a) Về kết quả phần làm giàu vốn từ. Tìm từ Tìm từ theo Tạo từ Phân loại từ theo tranh chủ đề TSHS Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt tốt tốt tốt tốt 60 35 25 20 30 28 32 30 30 60% 40% 34% 66% 47% 53% 50% 50% b) Về kết quả phần câu và luyện câu. Hoàn thành Tạo lập câu Sử dụng Tạo lập câu Biến đổi câu câu hỏi dấu câu TSHS Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt Chưa Tốt tốt tốt tốt tốt tốt 60 25 35 15 45 10 50 20 40 10 50 42% 58% 25% 75% 17% 83% 34% 66% 17% 83% Thấy được tầm quan trọng của phân môn Luyện từ và câu và tính đặc thù của môn học, tôi đã nghiên cứu và trao đổi thảo luận với bạn bè đồng nghiệp cùng xây dựng từng hoạt động, biện pháp dạy Luyện từ và câu nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy và học tập có hiệu quả đối với học sinh giúp cho các em hứng thú trong giờ học tập và tiết học nhẹ nhàng, thoải mái tích cực và hiệu quả. Để đạt được điều này tôi đã bắt tay vào tìm hiểu nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu và đưa vào các biện pháp, phương pháp cụ thể đối với từng dạng bài. 5/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 3. Đề xuất các biện pháp dạy phân môn Luyện từ và câu theo các dạng bài tập cụ thể. 3.1. Các dạng bài tập làm giàu vốn từ: a. Tìm từ bằng cách dựa vào các tranh ảnh cho sẵn, đi từ nhận diện, gọi tên cụ thể đến phân loại khái quát. Với loại bài tập này, là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy để cung cấp vốn từ cho học sinh tôi đã thực hiện như sau: * Ví dụ 1: Tuần 1: chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi sự vật, mỗi việc được vẽ trong tranh. Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập: - Chọn tên gọi cho mỗi người, mỗi vật, mỗi việc được vẽ dưới đây: (học sinh, nhà, xe đạp, múa, trường, chạy, hoa hồng, cô giáo) M: 1. trường 5. hoa hồng 6/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 + 8 bức tranh trong sách giáo khoa vẽ người, vẽ vật hoặc việc. Bên cạnh mỗi bức tranh có số thứ tự. Em hãy chỉ tay vào các số thứ tự ấy và đọc lên (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8). + 8 bức tranh vẽ có 8 tên gắn với một vật hoặc một việc được vẽ trong tranh. Em hãy đọc tên 8 tên gọi (được đặt sẵn trong ngoặc đơn). + Em cần xem tên gọi nào là của người, vật hoặc việc. Sau đó giáo viên tiến hành đọc tên gọi của từng người, vật hoặc việc. Học sinh chỉ tay vào tranh vẽ người, vật hoặc việc đọc số thứ tự của tranh ấy lên (thí dụ: số 1; trường; số 2: học sinh ). Học sinh từng nhóm (nhóm đôi) trao đổi bài tập như một trò chơi. Học sinh đổi vai thực hiện bài tập. Học sinh phát hiện từ gắn với tranh sau đó học sinh đổi vai nói tên từ phù hợp với tranh chính là giúp học sinh đi từ cụ thể và thông qua hình thức trò chơi để củng cố, khắc sâu kiến thức chính là một hình thức giúp học sinh hiểu bài nhưng không bị gò bó, kiến thức dễ khắc sâu. Như vậy thông qua bài tập đã hình thành kỹ năng: Tìm, chọn từ thích hợp cho mỗi tranh, mỗi người, vật hoặc việc nhằm khai thác và mở rộng vốn từ cho học sinh, học sinh đã biết dựa vào các tranh ảnh cho sẵn, đi từ nhận diện đến gọi tên cho từng tranh vẽ. * Ví dụ 2: Tuần 3: - Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối, ) được vẽ dưới đây: 7/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 Sau khi tổ chức cho học sinh tìm được những từ thích hợp với từng tranh cho sẵn. Giáo viên cần củng cố cho học sinh nêu được: + Từ chỉ người: Bộ đội, công nhân. + Từ chỉ đồ vật: ô tô, máy bay + Từ chỉ con vật: Voi, trâu + Từ chỉ cây cối: Dừa, mía Tìm từ dựa vào tranh chính là nhận thức của học sinh đi từ trực quan sinh động để phát hiện từ phù hợp. Sau đó cần khái quát cho học sinh thấy rằng: những từ chỉ người, đồ vật, con vật, cây cối là những từ chỉ sự vật. Như vậy bằng cách dựa vào các tranh ảnh có sẵn, giáo viên đã giúp học sinh đi từ nhận diện từ đến gọi tên cụ thể đến phân loại và khái quát hóa vốn từ. Với cách làm này có tác dụng khơi gợi kinh nghiệm ngôn ngữ đã có của học sinh, giúp các em nắm bắt tri thức về từ loại Tiếng Việt trên cơ sở ý thức và hệ thống hóa vốn từ mà mình đã có. Học sinh có những hiểu biết ban đầu về từ loại Tiếng Việt. b. Bài tập tìm từ dựa theo một chủ đề: - Những bài tập tìm từ dựa theo một chủ đề chính là mở rộng vốn từ cho học sinh, là thể hiện hướng dạy học đi từ việc giúp học sinh khai thác vốn từ tiếng mẹ đẻ đến việc hệ thống hóa chúng, phân loại chúng đưa chúng vào bộ não. Khi thực hiện bài tập dạng này, giáo viên cần phải giúp học sinh tự mình huy động những vốn từ sẵn có, sự hiểu biết của bản thân trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, vận dụng để hoàn thành nội dung bài tập. Ví dụ: Đối với bài tập 3 – Tiết Luyện từ và câu tuần 6 (Tiếng việt 2 – trang 52). Giáo viên giúp học sinh mở rộng vốn từ: Từ ngữ về học tập. Hình ảnh minh họa: - Tìm các đồ dùng học tập ẩn trong tranh sau. Cho biết mỗi đồ vật ấy được dùng để làm gì. 8/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 Giáo viên hướng dẫn học sinh phải quan sát kỹ bức tranh, phát hiện các đồ dùng học tập ẩn rất khéo trong tranh, gọi tên và nói rõ đồ vật được dùng để làm gì. Bằng phương pháp sư phạm, giáo viên kích thích ở học sinh tính tò mò, tìm tòi sáng tạo, sự tinh nhanh học sinh sẽ phát hiện tinh không bỏ sót một đồ vật nào trong tranh bằng cách: Giáo viên tổ chức cho các nhóm học sinh quan sát tranh và thi tìm xem nhóm nào tìm được nhiều, đủ, đúng các đồ vật trong trang nhất. Sau đó gọi từng nhóm lên trình bày kết quả của nhóm mình. Giáo viên và học sinh nhận xét và tuyên dương nhóm thắng cuộc. Như vậy thông qua bài tập đã cung cấp cho học sinh những vốn từ rất gần gũi đối với các em ngay trong cuộc sống học tập. Học sinh chủ động tìm và làm giàu thêm cho “kho từ” của mình. c. Phương pháp tạo từ: Đó chính là ghép tiếng thành từ, tạo các từ có cùng một tiếng mẫu gợi ý. Loại bài tập này với mục đích là làm giầu vốn từ, làm phong phú thêm vốn từ cho học sinh. Từ đó học sinh biết vận dụng vốn từ đó vào trong cuộc sống hàng ngày của mình. Với dạng bài tập này, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi đã mở rộng vốn từ cho học sinh bằng cách như sau: Cụ thể với bài tập 1 – tiết Luyện từ và câu tuần 2 (Tiếng Việt 2 tập 1 trang 17). Giáo viên cần giúp học sinh hiểu yêu cầu bài: Tìm các từ ngữ có tiếng “học” , tiếng “tập”. Tìm được càng nhiều càng tốt. Các em có thể tìm từ có tiếng “học”, tiếng “tập” đứng trước hoặc đứng sau đều được. Sau đó mời 2 học sinh lên bảng làm: Một em tìm từ có tiếng “học” , một em tìm từ có tiếng “tập”. Học sinh khác làm vở. Giáo viên cùng với cả lớp nhận xét bài làm trên bảng, bổ sung từ ngữ. Với bài tập này, học sinh có thể đưa ra một số cụm từ chứ không phải từ. 9/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 Ví dụ: học bài, học việc, tập đi trong trường hợp này vẫn chấp nhận. Vì ở Tiểu học chưa đặt vấn đề phân biệt từ với cụm từ, đồng thời tiếng “học” và “tập” ở đây vẫn cùng nghĩa với “học” và “tập’ trong các từ “học tập”, “học hành”. Với các từ mang nghĩa khác thì không chấp nhận. Ví dụ: Tập sách, tập tễnh Với cách làm như vậy, học sinh đã tạo được rất nhiều từ, từ một tiếng theo mẫu và đã làm cho vốn từ của học sinh giàu lên một cách nhanh chóng. d. Phương pháp phân loại từ theo trường nghĩa: Đó là những bài tập dạng: + Loại trừ những từ không cùng loại đã gợi ý. + Phân loại đối tượng sự vật theo tiêu chí cụ thể (Tiếng Việt tập 2 – Tr27) + Nhóm từ theo loại từ đã gọi ý có kèm tranh (Tiếng Việt tập 2 – Tr73) Các loại bài tập này tạo điều kiện cho học sinh bước đầu rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản như phân tích, cụ thể hóa cho những loại, đặc điểm khái quát, thao tác phân loại và khái quát) Với loại bài tập này, tôi đã thực hiện như sau: Ví dụ minh họa: Xếp tên các loài chim cho trong ngoặc đơn vào nhóm thích hợp: a) Gọi tên theo hình dáng. M: chim cánh cụt b) Gọi tên theo tiếng kêu. M: tu hú c) Gọi tên theo cách kiếm ăn. M: bói cá (cú mèo, gõ kiến, chim sâu, cuốc, quạ, vàng anh) Ví dụ: Bài tập 1 – tuần 21. Để giúp học sinh xếp tên các loài chim đã cho vào nhóm thích hợp theo mẫu. Giáo viên cần cho học sinh thấy được những đặc điểm cơ bản của từng loài chim bằng cách giáo viên mô tả thêm về hình dáng, tiếng kêu, cách kiếm ăn của từng loài chim bằng cách sau khi học sinh đọc đề bài, hiểu yêu cầu của bài tôi cho chiếu video clip về tên 3 loài chim mẫu đồng thời chú ý về cách kiếm ăn, hình dáng, tiếng kêu để học sinh phát hiện, xếp vào nhóm thích hợp. Sau khi học sinh đã hoàn thành bài tập, tôi sẽ mở rộng vốn từ bằng cách cho học sinh xem video clip có thuyết minh một số loài chim khác. Từ đó học sinh sẽ có những thao tác tư duy cơ bản, sự tự phân loại theo những tiêu chí cụ thể và học sinh sẽ hoàn thành bài tập một cách có hiệu quả. Đồng thời thông qua bài tập đã mở rộng vốn hiểu biết cho các em về đặc điểm cơ bản của từng loài chim, tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. Tôi chọn hình thức cho học sinh xem video clip để học sinh thấy được hình ảnh động giúp học sinh hiểu bài có tính cụ thể. Học sinh không phải tưởng 10/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 tượng và làm bài theo cảm tính mà không có hình ảnh cụ thể. Từ hình ảnh cụ thể sẽ giúp học sinh phân loại từ đúng. Ngoài những dạy bài tập trong SGK, tôi còn sử dụng thêm các dạng bài tập khác như: e) Trò chơi ô chữ: - Đó chính là dạng bài tập từ định nghĩa tìm ra từ hoặc tìm ra hình ảnh tương ứng. Dạng bài tập này giúp các em làm giàu vốn từ, học mà chơi và thường được áp dụng vào phần củng cố của bài luyện từ và câu hoặc các tiết ôn tập về từ và câu. - Với loại bài tập này, tôi đã thực hiện như sau: Ô1: Một loại cây gồm 3 chữ cái, miền bắc gọi là mận, còn miền nam gọi là... Ô2: Một từ gồm 5 chữ cái: để hỏi về mục đích, ích lợi của một vật, người ta dùng câu hỏi nào? Ô3: Một từ gồm 5 chữ cái, người ta trồng cây cao su để làm gì? Ô4: Hãy giải câu đố sau: Ao đơn ao kép. Đứng nép bờ ao Gió thổi rào rào Mà không động đậy? Ô5: Một loại cây gồm 10 chữ cái, vừa dùng làm rau, vừa là một vị thuốc nam?. TRÒTRÒ CHƠICHƠI GIẢIGIẢI ÔÔ CHỮCHỮ 1 R O I 2 Đ Ể L À M G Ì 3 C Â Y T R E 4 L Ấ Y N H Ự A C Â Y N G Ả I C Ứ U 5 11/22
- Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học phân mônLuyện từ và câu lớp 2 Ví dụ: Tiết luyện từ và câu tuần 28 “Mở rộng vốn từ, từ ngữ về cây cối. Đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì?, dấu chấm, dấu phẩy”. Sau khi học sinh làm xong bài tập 1, 2, 3. Học sinh đã biết được các loại cây được gọi tên dựa theo lợi ích của nó, biết đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì để hỏi và đáp về lợi ích thì đến phần củng cố ta sử dụng trò chơi này. - Để chơi được trò chơi này, giáo viên chia lớp thành 2 đội chơi, giáo viên phổ biến luật chơi. Từ các câu hỏi của giáo viên đưa ra, 2 đội giành quyền giải ô chữ, nếu trả lời đúng thì ô chữ bí mật sẽ được lật ra. Từ ô chữ đó sẽ tìm ra từ hàng dọc: - Sau một thời gian quy định, đội nào tìm được nhiều từ đúng và không vi phạm luật sẽ là đội chiến thắng. - Với cách làm như vậy, nhiều học sinh được nói và giáo viên cũng hệ thống hóa được kiến thức đã học, đồng thời các em cảm thấy thoải mái nhưng lại ghi nhớ kiến thức sâu. g) Dạng bài: Chọn đáp án đúng. - Đó chính là dạng bài từ định nghĩa tìm ra đáp án đúng từ nhiều đáp án đã cho. Dạng bài tập này giúp các em từ định nghĩa tìm ra từ tương ứng và thường được áp dụng vào phần kiểm tra bài cũ hoặc củng cố kiến thức hay các tiết ôn tập. - Ví dụ: Phần củng cố bài luyện từ và câu tuần 8 “Từ chỉ hoạt động, trạng thái, dấu phẩy”. Sau khi học sinh làm xong 3 bài tập, phần củng cố tôi đưa ra các câu hỏi cùng các đáp án nhằm hệ thống hóa kiến thức các em đã học như sau: Câu 1: Trong các từ sau, từ nào là từ chỉ trạng thái. a) chạy b) trèo c) tỏa - Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt đáp án đúng thì cần có câu hỏi nhằm khắc sâu kiến thức: ? Tại sao con lại cho rằng “tỏa” là từ chỉ trạng thái mà không phải là từ chỉ hoạt động. Câu 2: Câu nào dưới đây được dùng đúng dấu phẩy? a) Bé học bài, bé làm bài nhặt rau, chơi với em đỡ mẹ. b) Bé học bài, bé làm bài nhặt rau, chơi với em đỡ mẹ. c) Bé học bài, bé làm bài, nhặt rau, chơi với em đỡ mẹ. - Sau khi học sinh trả lời được đáp án đúng, giáo viên đưa ra câu hỏi với học sinh để giúp học sinh hiểu tại sao mình lại dùng dấu phẩy như vậy là đúng. 12/22

