Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh Lớp 2

docx 23 trang Chăm Nguyễn 29/07/2026 350
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ki_nang_doc_tot_q.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc trong môn Tiếng Việt ch.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc trong môn Tiếng Việt cho học sinh Lớp 2

  1. Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát âm ra âm thanh (tiếng). Hình thức đọc này dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của người mới tập đọc: muốn hiểu đọc cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác, mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe như vậy mới dễ dàng nhớ nội dung. Chất lượng đọc thành tiếng của học sinh được đo bằng 2 mức độ sau: a. Rèn kỹ năng đọc đúng âm, vần, từ, tiếng, dấu câu dễ lẫn cho học sinh. b. Luyện đọc rõ ràng mạch lạc cho học sinh. c. Luyện đọc lưu loát cho học sinh d. Hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm. 2.2. Biện pháp 2: Rèn đọc dựa trên từng đối tượng học sinh 2.2.1. Đối với học sinh đọc chậm, phát âm chưa đúng - Giáo viên xếp học sinh ngồi đầu bàn để tiện việc rèn đọc cho học sinh. - Hướng dẫn các em đọc theo hình thức cá nhân; luyện đọc tiếng khó, từ khó nhiều lần để học sinh đọc đúng. - Hướng dẫn rèn luyện đọc nhiều lần để các em quen với mặt chữ. - Tổ chức cho học sinh khá, giỏi kèm thêm học sinh đọc chậm chưa phát âm đúng trong hoạt động đọc (hoặc trong khi đọc sách ở Thư viện). - Vận dụng phương pháp luyện đọc theo mẫu, yêu cầu học sinh nghe và nhìn; giáo viên đọc mẫu thật chuẩn, học sinh chú ý nghe và nhìn miệng giáo viên để đọc theo. 2.2.2. Đối với học sinh ngắt nghỉ hơi chưa hợp lí. - Giáo viên hướng dẫn cho học sinh đọc ngắt hơi sau dấu phẩy hoặc sau các cụm từ, nghỉ hơi sau dấu chấm. Giọng đọc rõ ràng, phát âm chuẩn. 2.2.3 Đối với học sinh đọc vẹt, chưa hiểu nội dung. - Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà, tìm hiệu nội dung của bài theo từng câu hỏi ở sách giáo khoa. - Giáo viên cần rèn cho học sinh kĩ năng đọc thầm. 2.2.4. Đối với học sinh đọc lưu loát, trôi chảy. - Bên cạnh việc rèn học sinh đọc chưa tốt, giáo viên không thể quên các em đã đọc được mà cần nâng từ mức độ đọc khá lên đọc tốt. - Ngoài việc đọc đúng, giáo viên cần phải xây dựng cho học sinh có thói đọc diễn cảm sau khi hiểu từ, hiểu nghĩa; biết lắng nghe và nhận xét ý kiến của bạn, được rèn đọc đúng và diễn cảm, tham gia các trò chơi, luyện đọc, đọc theo cách phân vai. 2.3. Biện pháp 3: Kết hợp rèn đọc ở tất cả các môn học Việc kết hợp rèn đọc đồng bộ ở tất cả các môn học là việc làm vô cùng cần thiết vì giáo viên không những tạo được sự liên kết trong dạy các môn học mà
  2. còn làm tiền đề cho các em làm quen với phương pháp dạy học tích hợp liên môn ở các cấp học tiếp theo - Khả năng áp dụng của giải pháp: Biện pháp được áp dụng linh hoạt trong quá trình học đọc của học sinh - Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp. Hiệu quả về khoa học Sáng kiến này đã chỉ ra được những giải pháp mới và áp dụng vào thực tiễn giảng dạy. Các giải pháp này đã phát huy được năng lực học tập của tất cả các đối tượng học sinh trong lớp. Nâng cao chất lượng dạy hoạt động đọc trong hoạt động đọc cho học sinh. Khắc phục được những hạn chế đã nêu trong đề tài. Hiệu quả về kinh tế - Học sinh học tập tiếp thu bài tốt, gia đình không phải cho học sinh đi học thêm ở các trung tâm góp phần giảm chi phí cho gia đình. - Phụ huynh khi thấy con em mình học tập tiến bộ nên yên tâm làm việc, góp phần tăng năng suất lao động. - Học sinh tiếp thu bài nhanh góp phần tiết kiệm thời gian. Hiệu quả về xã hội - Học sinh đọc tốt,hiểu bài nên thích học môn Tiếng việt, không còn sợ đến lớp, đến trường, sợ cô giáo. - Biện pháp giáo dục giúp giáo viên gần gũi, mến trẻ hơn. Đến lớp với tâm lí thoải mái, không còn căng thẳng. - Học sinh học tập tốt gia đình đầm ấm, cha mẹ và học sinh vui vẻ, yêu thương nhau hơn. - Những thông tin cần được bảo mật: Không có. - Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: + Trình độ chuyên môn: Giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo. + Cơ sở vật chất: Giáo viên có đủ đồ dùng, thiết bị phục vụ cho công tác dạy học. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Minh Quang, ngày 7 tháng 5 năm 2024 Người nộp đơn Lê Thị Tâm
  3. UBND HUYỆN BA VÌ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG TIỂU HỌC MINH QUANG B Độc lập - Tự do - Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ - Họ tên tác giả: Lê Thị Tâm - Tên đề tài: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động đọc trong môn Tiếng việt cho học sinh lớp 2 - Lĩnh vực: Tiếng Việt Điểm STT Tiêu chuẩn Điểm tối đa đánh giá 1 Sáng kiến có tính mới 1.1 Hoàn toàn mới, được áp dụng đầu tiên 30 1.2 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ khá 20 1.3 Có cải tiến so với giải pháp trước đây với mức độ trung bình 10 1.4 Không có tính mới hoặc sao chép từ các giải pháp đã có trước đây 0 Nhận xét: 2 Sáng kiến có tính áp dụng 2.1 Có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn ngành hoặc rộng hơn 30 2.2 Có khả năng áp dụng trong đơn vị và có thể nhân ra một số đơn vị 20 có cùng điều kiện 2.3 Có khả năng áp dụng trong đơn vị 10 2.4 Không có khả năng áp dụng trong đơn vị 0 Nhận xét: 3 Sáng kiến có tính hiệu quả 3.1 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội, có tính lan tỏa 30 3.2 Có hiệu quả, đem lại lợi ích kinh tế - xã hội 20 3.3 Có hiệu quả, lợi ích phù hợp với mức độ phù hợp tại đơn vị 10 3.4 Không có hiệu quả cụ thể 0 Nhận xét: 4 Điểm trình bày 4.1 Trình bày khoa học, hợp lý 10 4.2 Trình bày chưa khoa học, chưa hợp lý 5 Nhận xét: Tổng cộng: Đánh giá: □Đạt (>70 điểm)□Không đạt CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CƠ SỞ
  4. MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................1 1. Tính cấp thiết của vấn đề ....................................................................................1 2. Mục tiêu nghiên cứu............................................................................................1 3. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................2 PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN..........................................................2 1. Hiện trạng vấn đề nghiên cứu..............................................................................2 2. Các giải pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc cho học sinh lớp 2................5 2.1. Giải pháp 1: Rèn kỹ năng đọc thành tiếng .......................................................5 2.2. Giải pháp 2: Rèn đọc dựa trên từng đối tượng học sinh ..................................9 2.3. Giải pháp 3: Kết hợp rèn đọc ở tất cả các môn học .......................................11 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp sáng kiến tại đơn vị ...................................11 4. Hiệu quả của sáng kiến......................................................................................12 4.1. Hiệu quả về khoa học.....................................................................................12 4.2. Hiệu quả về kinh tế ........................................................................................12 4.3. Hiệu quả về xã hội..........................................................................................12 5. Tính khả thi .......................................................................................................12 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến ................................................................12 7. Kinh phí thực hiện đề tài sáng kiến...................................................................13 PHẦN III: KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT............................................................13 1. Kiến nghị ...........................................................................................................13 2. Đề xuất ..............................................................................................................13 MỘT SỐ TIẾT LUYỆN ĐỌC CỦA CÁC CON
  5. 1 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của vấn đề. Trong chương trình giáo dục Tiểu học, môn Tiếng Việt là một môn đặc biệt quan trọng, nó có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện qua bốn kỹ năng: “Nghe - Nói - Đọc - Viết”. Các kĩ năng này tạo cơ sở cho việc học tập và giao tiếp. Trong môn Tiếng Việt, hoạt động đọc có một ý nghĩa rất to lớn. Nó trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được mọi ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là một công cụ để học tập các môn học khác. Việc dạy hoạt động đọc được coi là phương tiện để nắm kiến thức, là công cụ giao tiếp và tư duy, để giáo dục tình cảm và đạo đức cho các em. Có thể nói đọc là loại bài tập thực hành kỹ năng. Do đó đòi hỏi giáo viên phải vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức dạy học cho phù hợp. Giáo viên cần coi trọng việc luyện đọc cho học sinh, giúp học sinh từ chỗ đọc chậm, ngắc ngứ, lí nhí... tiến tới đọc thông thạo, lưu loát, ngắt nghỉ hơi hợp lý Các em biết đọc thầm, đọc nhanh, đọc diễn cảm, các em sử dụng được ngôn ngữ nói và viết trong học tập và giao tiếp: nói và viết phải rõ ràng, đủ ý, nghe phải hiểu được văn bản. Trên cơ sở đó các em yêu thích thơ văn, nhớ và học thuộc lòng được các bài thơ, kể lại được các câu chuyện có trong sách giáo khoa lớp 2. Vậy làm thế nào để nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh? Làm thế nào để nâng cao chất lượng của hoạt động đọc? Giúp các em thuận lợi hơn trong quá trình học tập môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Đó là điều khiến tôi rất trăn trở và trong quá trình công tác tôi đã dành nhiều thời gian nghiên cứu kỹ nội dung, chương trình sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, các phương pháp dạy học mới. Không ngừng học hỏi đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng. Đây chính là lí do mà tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc trong môn Tiếng việt cho học sinh lớp 2”. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu lí luận và thực tiễn, từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp khắc phục những vướng mắc, khó khăn cho giáo viên, học sinh trong quá trình dạy và hoạt động đọc. Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy của hoạt động này.
  6. 2 3. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Với đề tài này việc nghiên cứu phải tiến hành ở nhiều trường Tiểu học với nhiều lớp khác nhau, nhưng vì điều kiện hạn chế tôi chỉ nghiên cứu đề tài này ở một khía cạnh nhỏ: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc cho học sinh lớp 2. Tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này trong năm học 2023 –2024 tại lớp 2B – Trường Tiểu học Minh Quang B (lớp tôi chủ nhiệm). - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc cho học sinh lớp 2. - Khách thể nghiên cứu: 28 học sinh lớp 2B Trường TH Minh Quang B - năm học 2023 – 2024. PHẦN II: NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng vấn đề nghiên cứu 1.1 Hiện trạng việc đọc của học sinh Khi nhận lớp, tôi thấy chất lượng đọc của học sinh chưa cao. Khi gặp tiếng có phụ âm “l” thì các em đọc thành “n” và ngược lại. Một số em lại đọc vần “uyên” là “uên” hay “anh” thành “ăn”, “sởi” là “sọi”... chính vì sự hạn chế đó dẫn đến kết quả học tập của các em chưa cao. Đề nâng cao chất lượng học tập của học sinh và hoàn thành nhiệm vụ được giao tôi đã tìm hiểu và nắm được tình hình học sinh lớp ngay khi được phân công bằng cách xem sổ chủ nhiệm năm học trước đồng thời trao đổi với giáo viên chủ nhiệm cũ để nắm rõ hơn. Trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm hiểu những nguyên nhân các em thường hay mắc phải khi đọc, từ đó đặt ra mục tiêu là phải hình thành và giúp các em có kĩ năng đọc tốt. Sau đây là một số những lỗi mà học sinh lớp tôi thường hay mắc phải khi đọc: a. Lỗi phát âm - Tiếng có phụ âm đầu: Học sinh rất hay đọc nhầm các tiếng có phụ âm đầu như: l- n; ch -tr; d -r - gi Ví dụ: “long lanh” thì đọc là “nong nanh” - Các lỗi về vần: Ví dụ: “khuỷu tay” thì đọc là “khyủ tay” “xe buýt" thì đọc là “xe být” - Các lỗi về thanh: Các em còn đọc nhầm lẫn giữa thanh ngã và thanh hỏi Ví dụ: “nghỉ ngơi” thì đọc là “nghị ngơi”.
  7. 3 b. Học sinh đọc ê a, ngắc ngứ chưa lưu loát Trong quá trình dạy học sinh đọc tôi thấy các em mắc lỗi này khá nhiều. Các em đọc vấp và ngắc ngứ c. Học sinh đọc thiếu từ hoặc thêm từ không có trong văn bản Ví dụ 1: Bài “Một giờ học” - SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 1 trang 27 có câu: “Thầy giáo nói: Chúng ta cần học cách giao tiếp tự tin. Vì thế hôm nay chúng ta sẽ tập nói trước lớp về bất cứ điều gì mình thích.” Rất nhiều học sinh đọc như sau: “Thầy giáo nói: Chúng ta cần phải học cách giao tiếp tự tin. Vì thế hôm nay chúng ta sẽ tập nói trước lớp về bất cứ điều gì mình thích.” Học sinh đã tự thêm từ “phải” vào câu văn. d. Học sinh ngắt, nghỉ hơi khi đọc câu. Một số học sinh chưa ngắt hơi sau những tiếng có dấu phẩy (,) hay chưa biết cách ngắt hơi khi đọc những câu văn dài. Ví dụ: Trong bài “Cầu thủ dự bị” - SGK Tiếng Việt lớp 2 tập 1 trang 31 học sinh đọc câu ngắt, nghỉ hơi sai như sau: “Nhưng / thấy gấu con có vẻ chậm chạp và đá bóng/ không tốt nên chưa đội nào muốn nhận cậu.// e. Học sinh đọc vẹt, không hiểu văn bản Chúng ta đều biết đọc vẹt là cách nói ẩn dụ, ví cách đọc của học sinh với con vẹt - bắt chước nói nhại lại nhưng không hiểu gì. Trong lớp tôi có khá nhiều học sinh đọc như vậy. Học sinh đọc rất trôi chảy nhưng không hiểu là mình đọc gì, không nắm chắc nội dung bài, đọc một cách máy móc thụ động. g. Học sinh đọc đúng văn bản mà chưa hay Một số em chưa biết nhấn giọng ở những từ ngữ gợi tả, gợi cảm. Ngoài ra học sinh còn chưa xác định đúng giọng đọc trong bài. Bên cạnh đó còn nhiều học sinh đọc bài với tốc độ chưa phù hợp, có em đọc quá nhanh nhưng có em lại đọc quá chậm. 1.2. Số liệu điều tra trước khi thực hiện đề tài Tôi đã tiến hành khảo sát học sinh trong hai tuần đầu nhận lớp bằng cách cho các em đọc trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 và một số bài văn bài thơ hay trong các sách tham khảo như: Đề 1: Đọc bài tập đọc “Niềm vui của Bi và Bống” tuần 2 (Tiếng Việt 2 tập 1) Đề 2: Đọc bài tập đọc “Em có xinh không?” tuần 2 (Tiếng Việt 2 tập 1) Bảng thống kê số học sinh phát âm đúng, sai đối với từng lỗi cụ thể như sau: (Minh chứng kèm theo: Bảng 1)
  8. 4 1.3. Nhược điểm dẫn đến học sinh mắc những lỗi sai trên a. Về phía giáo viên Trong thực tế giảng dạy hoạt động đọc ở lớp 2 hiện nay tôi nhận thấy hầu hết giáo viên đã dạy đúng chương trình và sách giáo khoa, học sinh nắm chắc nội dung bài được rèn đọc tốt hơn. Bên cạnh đó còn có giáo viên gặp nhiều lúng túng khi dạy phân môn này như: - Còn giảng giải quá nhiều, lúng túng trong phần tìm hiểu bài. - Một số giáo viên giảng thấy lúc nào cũng cảm thấy là chưa đủ để học sinh hiểu mà quên rằng đây là hoạt động đọc chứ không phải là giảng văn của Trung học cơ sở. - Phần đọc trong nhóm còn hình thức, chưa đưa ra nhiều hình thức để gây hứng thú học tập cho học sinh, chưa có hệ thống câu hỏi logic phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh mà còn sử dụng một số câu hỏi có tính khái quát cao. - Phần luyện đọc, nhiều giáo viên cho là dễ nhưng thực chất đây là phần khó nhất, phần trọng tâm của bài. Ở khâu này giáo viên ít mắc lỗi về thao tác kĩ thuật nhưng lại không biết cách tổ chức như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của mỗi học sinh, chưa chú ý đến tốc độ đọc, cách phát âm, cách ngắt nghỉ hơi nhấn giọng của các em. Việc phân bố thời gian luyện đọc ít dẫn đến tiết học buồn tẻ, đơn điệu. Thời gian luyện đọc ít dẫn đến hiệu quả giờ dạy đạt không cao, không sửa chữa được lỗi phát âm sai chủ yếu cho học sinh. - Giáo viên ít chú ý đến đối tượng học sinh yếu, giáo viên còn áp đặt mà coi nhẹ việc phát triển tư duy, chưa dẫn dắt để học sinh thâm nhập, tự khám phá về cái hay, cái đẹp trong bài văn, bài thơ. - Phần luyện đọc chủ yếu là quan tâm đến đọc đúng câu, đúng tiếng, từ, đọc trôi chảy. Khi nhận xét giáo viên chỉ đánh giá chung, ít chú ý đến việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu và thể hiện cách đọc bài văn, bài thơ này cần đọc như thế nào? tại sao phải đọc như vậy? hoặc giáo viên chưa hướng dẫn học sinh tìm hiểu giá trị nghệ thuật của bài để khi đọc thể hiện được hết nội dung bài đọc muốn truyền tải đến người học. Chính vì những thiếu sót trên mà giờ học chưa đạt kết quả cao, học sinh đọc chưa được tốt. Muốn đạt hiệu quả cao cho kỹ năng đọc thì khả năng rèn luyện kỹ năng đọc cho học sinh là cốt lõi vấn đề. b. Về phía học sinh - Học sinh ít đọc sách, chưa có thói quen say mê đọc sách. Nếu có đọc thì học sinh cũng chưa biết cách đọc, chỉ đọc qua loa, đại khái, đọc cho có cho xong mà không chịu tìm hiểu.
  9. 5 - Đa số học sinh đọc chưa lưu loát, còn đánh vần, chưa ý thức được thói quen tập trung chú ý khi đọc thầm. - Học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp. Khả năng ngôn ngữ của các em còn yếu, tư duy của các em chưa cao. Các em thường phát âm lẫn các phụ âm đầu, vần, thanh. c. Về phía phụ huynh Phụ huynh chưa quan tâm đến việc đọc của con. Phụ huynh nghĩ rằng việc dạy đọc cho con là việc của giáo viên. Phụ huynh chỉ quan tâm xem con có làm toán có tốt không, làm văn đã hay chưa? 2. Các giải pháp rèn kĩ năng đọc tốt qua hoạt động Đọc cho học sinh lớp 2 Từ thực trạng và nguyên nhân nêu trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu và áp dụng các giải pháp như sau: 2.1. Giải pháp 1: Rèn kỹ năng đọc thành tiếng Dạy đọc tức là dạy cho học sinh biết đọc. Coi việc rèn kỹ năng đọc là nhiệm vụ trọng tâm của bài dạy. Mà đọc chính là một hoạt động tiếp nhận thông tin bằng chữ viết. Giáo viên cần coi trọng việc rèn đọc cho học sinh và cần phải chú ý đến cả hai hình thức đọc chủ yếu đó là đọc thành tiếng và đọc thầm. Đọc thành tiếng là hình thức đọc phát âm ra âm thanh (tiếng). Hình thức đọc này dựa trên sự nghiên cứu về quá trình đọc của người mới tập đọc: muốn hiểu đọc cần phải phối hợp các hoạt động thị giác và thính giác, mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe như vậy mới dễ dàng nhớ nội dung. Chất lượng đọc thành tiếng của học sinh được đo bằng 2 mức độ sau: 2.1.1. Rèn kỹ năng đọc đúng âm, vần, từ, tiếng, dấu câu dễ lẫn cho học sinh Khi hướng dẫn học sinh đọc, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh đọc đúng các phụ âm đầu, các dấu dễ phát âm sai. Đối với học sinh tiểu học nói chung và đối với học sinh lớp tôi nói riêng, các em thường phát âm sai l/ n, s/ x, tr/ ch, dấu ngã/ dấu hỏi, dấu ngã/ dấu sắc. Bởi vậy mà trong các hoạt động đọc tôi thường chú ý sửa ngay cho học sinh cách phát âm bằng cách yêu cầu các em phát âm lại, luyện đọc nhiều lần hoặc phân tích chính tả. Ví dụ: Trong bài tập đọc “Yêu lắm trường ơi” ở tuần 7 (Tiếng Việt 2 - tập 1) có các từ học sinh đọc sai l/n: bạn nào, lời cô, ở lớp, tay lá... mà phải sửa cho học sinh ngay sau khi các em đọc sai, yêu cầu các em đọc lại nhiêu lần hoặc giáo viên đọc mẫu cho học sinh nhắc lại hoặc cho học sinh phân tích: nào (n + ao+ thanh huyền); lời (l+ ơi+ thanh huyền) lớp (l + ơp + thanh sắc); lá (l + a+ thanh sắc) ......
  10. 6 Ngoài ra tôi còn cho học sinh luyện đọc các âm, vần, các dấu mà học sinh dễ phát âm sai ở các tiết học chính tả và các tiết học khác như các từ: lên núi, lá non, lúc này, nắng lửa...Đây là các từ dễ lẫn đứng cạnh nhau đòi hỏi học sinh phải chú ý cách đọc mẫu của giáo viên sau đó đọc lại nhiều lần cho đúng. Tuy nhiên các em học sinh Tiểu học rất hay quên, nhất là các em học sinh lớp 2 còn rất nhỏ nên tôi phải thường xuyên nhắc nhở các em cần lưu ý các từ dễ đọc sai để phải là việc làm thường xuyên và đồng bộ ở tất cả các tiết học nhất là ở trong các hoạt động đọc. 2.1.2. Luyện đọc rõ ràng, mạch lạc cho học sinh Đọc rõ ràng, mạch lạc là đọc rõ tiếng, rõ từ, cụm từ, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng dấu câu, nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm, đọc đúng ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể...Cần đọc với cường độ vừa phải (không đọc quá to mà cũng không đọc quá nhỏ), tốc độ đọc vừa phải (không đọc ê a, ngắc ngứ). Nhất là khi học sinh ngắt, nghỉ câu không đúng sẽ dẫn đến việc người nghe hiểu sai nghĩa hoặc khi đọc không nhấn giọng ở một số từ biểu cảm làm cho câu văn trở nên đơn điệu, không có hồn. Bởi vậy trong các giờ tập đọc giáo viên cần thật sự chú ý đến việc luyện đọc rõ ràng, mạch lạc cho học sinh. Ví dụ 1: Trong bài tập đọc: “Cây xấu hổ” ở tuần 4(Tiếng Việt 2 – tập 1). Ở đoạn 2 tôi hướng dẫn học sinh ngắt, nghỉ hơi, nhấn giọng bằng ký hiệu như sau: “Nhưng những cây cỏ xung quanh vẫn cứ xôn xao.// Thì ra,/ vừa có một con chim xanh biếc,/ toàn thân lóng lánh như tự toả sáng không biết từ đâu bay tới.// Chim đậu một thoáng trên cành thanh mai rồi lại vội bay đi.//Các cây cỏ xuýt xoa:// biết bao nhiêu con chim đã bay qua đây, chưa có con nào đẹp đến thế.” Đối với các bài thơ thường ít có dấu câu, học sinh sẽ dễ ngắt nhịp sai. Vì thế tôi hướng dẫn cụ thể cho học sinh ngắt nhịp đối với từng bài thơ, khổ thơ. Ví dụ 2: Bài thơ “Gọi bạn” ở tuần 10 (Tiếng Việt 2 – tập 1) học sinh hay đọc sai ở đoạn 1 như sau: Tự xa xưa thủa nào/ Trong rừng xanh sâu thẳm/ Đôi bạn sống bên nhau/ Bê vàng và dê trắng. // Khi đó giáo viên cần phải hướng dẫn các em đọc theo cách ngắt, nghỉ hơi đúng và nhấn giọng ở một số từ gợi tả. Tự xa xưa/ thủa nào/ Trong rừng xanh /sâu thẳm/
  11. 7 Đôi bạn sống bên nhau/ Bê vàng và dê trắng. // 2.1.3. Luyện đọc lưu loát cho học sinh Để học sinh đọc tốt các em cần phải đọc lưu loát, tốc độ đọc vừa phải, âm lượng đọc đủ nghe. Trong khi đọc nếu học sinh đọc chậm quá, đọc ấp úng, ê a, không rõ ràng, rành mạch hay đọc liến thoáng, đọc nhanh quá làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đày đủ nội dung của bài. Vì vậy với trách nhiệm là một người giáo viên, một người chủ nhiệm lớp tôi luôn nhắc nhở các em đọc kỹ bài ở nhà. Hay trong các giờ truy bài tổ chức cho học sinh đọc lại bài cá nhân, hoặc theo nhóm để học sinh thông thạo văn bản giúp học sinh đọc lưu loát. Hướng dẫn cho các em làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Ngoài ra để rèn đọc lưu loát cho học sinh giáo viên cần cho các em đọc nối tiếp câu, đoạn trên lớp. Giáo viên phải dự tính được thời gian đọc của văn bản đọc, phải điều chỉnh tốc độ đọc của học sinh cho phù hợp. Theo chuẩn kiến thức đối với môn tập đọc lớp 2 tốc độ đọc cần đạt giữa học kì 1 là khoảng 55 tiếng/ phút; cuối học kì 1 là 60 tiếng/ phút; giữa học kì 2 là 65 tiếng/ phút; cuối học kì 2 (cuối năm học) là 70 tiếng/ phút. Ví dụ: Trong bài tập đọc “Giọt nước và biển lớn” tuần 21 (Tiếng Việt 2 – tập 2). Tuy nhiên tốc độ đọc còn phụ thuộc vào độ khó hay dễ của văn bản đọc. Đây là bài thơ ngắn và tương đối là dễ đọc nên các em chỉ đọc trong khoảng thời gian là hơn 1 phút. 2.1.4. Hướng dẫn học sinh luyện đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng một cách rõ ràng, chính xác. Học sinh phải thể hiện kỹ năng làm chủ ngữ điệu, chỗ ngắt hơi, nghỉ hơi, khi cao giọng, khi thấp giọng, khi thì gấp gáp, khi thì chậm rãi...nhằm truyền cảm được nội dung bài đọc đến với người nghe. Như vậy đọc diễn cảm chỉ thực hiện được trên cơ sở đã đạt được các yêu cầu về đọc hiểu văn bản, đọc đúng, đọc rõ ràng và đọc lưu loát (trôi chảy) và đảm bảo yêu cầu diễn cảm. Để học sinh có thể đọc diễn cảm có kết quả thì giáo viên cần phải nắm được đặc điểm, tâm lý của học sinh Tiểu học. Giáo viên cần đọc mẫu thật hay và hấp dẫn, đồng thời hướng dẫn học sinh để tìm ra được nội dung bài học cũng như lời của các nhân vật để nhấn nhá giọng được hay hơn và lôi cuốn học sinh khi đọc và có hứng thú khi đọc. Giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng ngữ điệu khi đọc. Ngữ điệu khi đọc bao gồm các yếu tố: ngắt, nghỉ giọng đọc đúng lúc, đúng chỗ, bộc lộ được ý tứ, nội