Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp dạy đọc cho học sinh Lớp 2 tại trường TH &THCS Võ Thị Sáu
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp dạy đọc cho học sinh Lớp 2 tại trường TH &THCS Võ Thị Sáu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_day_doc_cho_hoc_sinh_lop.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp dạy đọc cho học sinh Lớp 2 tại trường TH &THCS Võ Thị Sáu
- Chuẩn bị đọc bài * Đối với giáo viên: - Cùng với phương pháp dạy học mới nói chung, phương pháp dạy Đọc nói riêng, kết hợp với kinh nghiệm giảng dạy và sự học hỏi, giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi nhận thấy rằng để thành công một tiết dạy đọc, truyền thụ một cách khoa học giáo viên cần chuẩn bị những việc sau: - Soạn bài cụ thể, chi tiết rõ hoạt động của thầy, của trò. Xây dựng các phương pháp giảng dạy, kết hợp giữa các phương pháp giảng dạy và phương tiện dạy học một cách linh hoạt để giờ dạy diễn ra nhẹ nhàng và đạt hiệu quả. - Nắm chắc yêu cầu về rèn đọc ở từng bài, dựa theo từng thể loại. Đọc kỹ bài tập đọc sắp dạy, dự kiến các tình huống học sinh sẽ mắc phải và cách sửa những tình huống đó. - Tìm hiểu kỹ nội dung bài để hiểu các biện pháp nghệ thuật, cú pháp tác giả dùng. - Nắm vững hệ thống câu hỏi trong bài tập Biện pháp thứ 3: Rèn tốc độ đọc to, đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm. + Rèn đọc to Việc rèn cường độ giọng đọc, đọc to học sinh đã được làm quen từ lớp 1. Khi dạy đọc ở lớp 2 tôi chú trọng cường độ giọng đọc, tốc độ đọc, đọc to ngay từ khâu đọc vỡ bài. Bằng nhiều hình thức khuyến khích (khen, biểu dương, cổ vũ ) tổ chức thi đua cá nhân, tạo cho học sinh tâm thế, sự hưng phấn, tự tin khi đọc bài. Học sinh lớp tôi đã đọc to, rõ ràng, đủ lớn cho cả lớp nghe. VD : Lớp tôi có em A Minh Trí , Hồ Khải Đăng, , đọc rất nhỏ và đọc còn chậm. Khi đọc tôi hướng dẫn cách nâng cao giọng lên cao tôi không đứng sát bên các em mà khuyến khích các em tự tin đọc lớn tiếng để các bạn trong lớp nghe được. 3
- Để giúp học sinh đọc tốt tôi luôn luôn chú ý rèn luyện kỹ năng đọc, viết nói và nghe cho các em bởi vì đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ đề chính xác.Việc đọc thông, viết thạo, viết đúng chính tả đối với các em học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng là rất cần thiết, rất quan trọng. Chỉ khi các em đọc đúng chính tả các em mới hiểu được nội dung của một đoạn văn hay một bài toán. Ngay từ đầu năm học, tôi cho các em tiếp tục với hoạt động luyện đọc một cách thường xuyên và liên tục. Đọc nối tiếp đoạn lần 2 giải nghĩa từ, rồi thi đọc nối tiếp giữa các nhóm Việc luyện đọc từng đoạn trong nhóm như trên tạo điều kiện cho nhiều học sinh được thực hành đọc. Nhưng trước khi đọc diễn cảm thì các em phải luyện đọc đúng phụ âm, thanh điệu, từ, ngữ điệu... a) Đọc đúng các phụ âm đầu. * Ví dụ: Các em hay đọc sai tiếng có âm tr thành ch hay s đọc thành x. “Trái đất này là của chúng mình .......biển”. Các em đọc: Trái thành chái hay sóng đọc là xóng. Khi nhận thấy các học sinh trong lớp thường hay mắc lỗi phát âm phụ âm đầu là ch/tr, x/s như em Tích, em Kim Anh, em A Du tôi đã ghi những từ có các phụ âm này lên bảng, giúp các em phân biệt hai phụ âm này. Đồng thời đọc mẫu để các em có hình mẫu âm thanh, thường xuyên nhắc nhở học sinh khi đọc bài, tạo cho các em ý thức phân biệt, từ đó mà không còn đọc sai. b) Đọc đúng thanh điệu. Học sinh ở trường chúng tôi hay mắc các lỗi về thanh điệu như: thanh nặng và thanh huyền, thanh huyền và thanh sắc các em rất hay đọc Ví dụ“Mùa Vàng”. Họ phải cày bừa, gieo hạt và ươm mầm. Rồi mưa nắng, hạn hán, họ phải chăm sóc vườn cây, ruộng đồng. Ví dụ 1: Các em đọc sai thanh nặng và thanh huyền; hạn hán hàn hán Ví dụ 2 Các em đọc sai thanh huyền và thanh sắc: ruộng đồng ruộng đống c) Ngắt hơi, nghỉ hơi đúng, đọc đúng ngữ điệu câu. Để đọc đúng cần dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi rèn đọc học sinh tôi lưu ý các em cách để đọc đúng nhịp: 4
- + Không tách một từ ra làm hai: VD: Không ngắt hơi Mỗi sớm mai thức /dậy. Hoặc: Xôn xao ngoài lũy/ tre. + Không đọc tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm: VD: Không đọc Lũy / tre xanh rì rào Ngọn/ tre cong gọng vó + Không tách động từ, hệ từ “là” với danh từ đi sau nó: Ví dụ: Phải đọc là: - Ngôi nhà giống bài thơ sắp làm xong Là bức tranh / còn nguyên màu vôi gạch. - Không gian / là nẻo đường xa Thời gian vô tận mở ra sắc màu. * Lưu ý học sinh dựa vào quan hệ ngữ pháp để xác định cách ngắt nhịp cho đúng. Ví dụ: Phải ngắt nhịp Bỗng / gà lên tiếng gáy Xôn xao/ ngoài lũy tre Đêm/ chuyển dần về sáng Mầm măng/ đợi nắng về. Không ngắt: Bỗng gà lên / tiếng gáy Xôn xao ngoài lũy/ tre Đêm chuyển dần/ về sáng Mầm măng đợi nắng/ về. 5
- Ví dụ: Phải ngắt nhịp Bỗng / gà lên tiếng gáy Xôn xao / ngoài lũy tre Đêm / chuyển dần về sáng Mầm măng/ đợi nắng về. Không ngắt: Bỗng gà lên / tiếng gáy Xôn xao ngoài lũy / tre Đêm chuyển dần / về sáng Mầm măng đợi nắng / về + Đọc hiểu Tôi hướng dẫn các em hiểu nội dung và phát hiện tính nghệ thuật của bài tập đọc. Tôi thường sử dụng phương pháp đàm thoại, hỏi đáp kết hợp nêu vấn đề, dẫn dắt, gợi mở, sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh hiểu nghĩa của từ và nội dung của đoạn, bài. Tôi hướng dẫn các em đọc thầm kết hợp với đọc thành tiếng một đoạn hoặc cả bài và trả lời câu hỏi. Để giúp các em hiểu được nội dung bài, tôi thường xuyên xem xét hệ thống câu hỏi, sao cho phù hợp với nhận thức của học sinh. Ví dụ đối vơi học sinh trung bình với câu hỏi có nhiều ý tôi thường tách nhỏ hoặc dùng những câu gợi ý thêm. Trong quá trình hướng dẫn học sinh hiểu bài tập đọc, tôi thường chú ý sửa cho học sinh đọc đúng tiếng, từ; ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, để các em chuyển sang phần luyện đọc diễn cảm được tốt hơn. + Đọc diễn cảm Khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, tôi hướng dẫn các em luyện tập từng bước theo yêu cầu từ thấp đến cao: - Biết nhấn giọng các từ ngữ quan trọng trong câu (từ ngữ gợi tả, gợi cảm, ). - Biết thể hiện ngữ điệu (sự thay đổi về tốc độ, cao độ, cường độ, ) phù hợp với từng loại câu (câu kể, câu hỏi, câu cảm, câu khiến). - Biết đọc phân biệt lời kể của tác giả với lời nhân vật. - Biết đọc phân biệt lời của các nhân vật sao cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và 6
- tính cách của từng nhân vật. Lưu ý - Biết thể hiện ngữ điệu phù hợp với tình huống miêu tả hay thái độ, cảm xúc của tác giả. + Đối với loại hình văn bản phi nghệ thuật: Tôi hướng dẫn học sinh xác định ngữ điệu đọc sao cho phù hợp với mục đích thông báo, làm rõ những thông tin cơ bản giúp người nghe tiếp nhận được những vấn đề quan trọng hay nổi bật trong văn bản. + Đối những văn bản có từ hai nhân vật trở lên tôi tổ chức cho học sinh thể hiện giọng đọc theo nhân vật của văn bản hoặc cho học sinh đọc phân vai.Cụ thể các em phải phân biệt được lời của tác giả và lời của nhân vật. - Cho học sinh đọc bài và tìm trong bài có mấy nhân vật. - Tôi giúp học sinh chỉ ra tính cách từng nhân vật và xác định giọng đọc phù hợp với từng nhân vật. - Tôi thực hiện đọc mẫu lời các nhân vật bằng giọng đọc của mình hoặc có thể gọi học sinh có năng lực đọc tốt thể hiện. - Học sinh luyện tập nhiều lần theo hướng dẫn của tôi. + Tôi luôn tạo điều kiện cho từng học sinh được thực hành luyện đọc diễn cảm (cá nhân, cặp, nhóm) để rút kinh nghiệm. + Luyện đọc diễn cảm các câu tiêu biểu trong bài, cách luyện đọc này tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều được đọc. + Muốn học sinh đọc hay, đọc đúng, đọc diễn cảm thì trước hết tôi phải đọc mẫu thật tốt để ảnh hưởng tới học sinh, nhằm gây hứng thú cho học sinh trong tiết học: * Đọc mẫu đòi hỏi giáo viên phải đọc đúng, rõ ràng, ngữ điệu đọc phù hợp. Đó là việc thể hiện giọng đọc, ngắt giọng biểu cảm, thể hiện tốc độ, cường độ, cao độ để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả đã gửi gắm trong bài văn, đồng thời thể hiện sự thông hiểu, cảm thụ của người đọc đối với tác phẩm. * Trước tiên tôi đọc mẫu nhằm minh hoạ, gợi ý hoặc “tạo tình huống” cho học sinh nhận xét, giải thích tự tìm ra cách đọc. Ví dụ: Nghe và phát hiện cách đọc của cô: ngừng nghỉ, ngắt nhịp ở chỗ nào? Nhấn giọng, kéo dài ở những từ ngữ nào?... Mỗi cá nhân có cảm thụ riêng, từ đó có cách đọc diễn cảm bộc lộ sự sáng tạo của mình.Tôi tổ chức cho học sinh thi đọc diễn cảm trước 7
- lớp để các em học tập lẫn nhau và được giáo viên động viên hay uốn nắn. + Để kích thích hứng thú luyện đọc của học sinh, tôi tổ chức các trò chơi học tập cho học sinh. Thông qua các trò chơi sẽ kích thích hứng thú đọc, rèn tư duy linh hoạt và tự tin. Trò chơi học tập thường được tổ chức khi luyện đọc hoặc đọc diễn cảm. Ví dụ: Thi đọc nối tiếp từng đoạn (theo nhóm, tổ), thi đọc theo vai. + Mặt khác, tôi chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của học sinh để kịp thời động viên, khen ngợi, khuyến khích và có biện pháp giúp đỡ để tạo hứng thú trong học tập cho các em. Tránh những lời nhận xét làm cho học sinh thiếu tự tin khi thể hiện giọng đọc ở lần sau. Cần thân mật, gần gũi để các em thấy thoải mái, tự tin và thích thú khi tham gia luyện đọc diễn cảm. Tổ chức cho học sinh đàm thoại để tìm hiểu ý đồ của tác giả và tìm cách đọc, đọc phân vai với các văn bản truyện có nhiều lời thoại. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm đoạn bài “Mùa vàng” “Thu về, những quả hồng đỏ mọng, những hạt dẻ nâu bóng, những quả na mở mắt, thơm dìu dịu. Biển lúa vàng ươm. Gió nổi lên và sóng lúa vàng dập dờn trải tới chân trời”. Tôi làm như sau: * Cho học sinh trong nhóm thảo luận các câu hỏi về nội dung của đoạn: - Nội dung của đoạn văn là gì? - Mùa thu có gì ? - Để điễn tả được đặc điểm của mùa thu ta nên đọc bài như thế nào? Qua thảo luận trả lời câu hỏi, các em biết được cách đọc, nhấn giọng vào các từ ngữ chỉ đặc điểm những loài cây, loài quả, sự vật khi mùa thu về (đỏ mọng, nâu bóng, mở mắt, thơm dìu dịu, vàng ươm, gió nổi lên, dập dờn....”.) sau đó các em đọc diễn cảm trong nhóm. Đối với những bài mà nội dung và cách đọc của từng đoạn trong bài có sự khác biệt. Tôi giúp học sinh hệ thống lại bài bằng cách lập dàn ý cho bài đọc. Dựa vào dàn ý các em tìm ra những điểm cần lưu ý để lựa chọn cách đọc cho phù hợp. Một điều rất quan trọng, nó tác động trực tiếp tới thính giác của các em đó là việc đọc mẫu của giáo viên. Giọng đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích, là hình mẫu kỹ năng mà học sinh 8
- cần đạt được. Chính vì thế tôi luôn chú trọng việc rèn đọc của bản thân để đem đến cho các em một hình mẫu chuẩn: đọc đúng, rõ ràng, trôi chảy, đọc đủ lớn, nhanh vừa phải và diễn cảm. Việc chuẩn bị bài chu đáo, tìm hiểu cảm nhận nội dung của bài đọc, đọc niều lần trước khi đến lớp đã tạo ra cho tôi sự tự tin trong mỗi giờ tập đọc. Trước khi đọc mẫu tôi luôn chú trọng ổn định trật tự, tạo cho học sinh tâm thế nghe và yêu cầu học sinh đọc thầm theo. Khi đọc tôi chú ý bao quát cả lớp, đọc đủ lớn cho tất cả các em đều nghe được. Tôi cũng chú trọng phát triển những em có khả năng đọc tốt và tận dụng giọng đọc của các em làm giọng đọc mẫu. Việc làm đó rất có hiệu quả, nó kích thích học sinh thi đua với nhau rèn đọc tốt, đọc hay. Học sinh có giọng đọc mẫu Biện pháp thứ tư : Tăng cường thực hành Đọc và rèn chính tả Thứ nhất tôi tổ chức trò chơi thi đọc trong các tiết luyện tập buổi chiều, bản thân tôi sẽ ghi tên các đoạn trong các bài Đọc đã học vào phiếu. Trong các đoạn đó chỉ chênh lệch nhau về số lượng một đến 2 từ. Dao động từ 65 đến 70 tiếng, trong thời gian từ 30 đến 40 giây cho là đạt. Hình thức chơi: Học sinh lên bóc thăm ngẫu nhiên trúng đoạn văn của bài nào thì đọc bài đó. Ai đọc nhanh to rõ, diễn cảm ngắt nghỉ hơi đúng, ít thời gian là người chiến thắng, phần thưởng là 1chiếc bút từ phong trào kế hoạch nhỏ của 9
- lớp do trưởng ban lao động cấp. Học sinh lên bóc thăm Thứ hai tôi sẽ cho những em đọc còn chậm đọc qua đọc lại 1 đoạn mà các em vừa bóc thăm. Bạn đọc tốt sẽ giúp tôi lắng nghe và giúp các bạn chỉnh sửa lỗi chính tả. Mặt khác tôi còn tổ chức dạy học theo nhóm để các em có thể giúp đỡ nhau trong việc đọc, bạn đọc tốt hơn giúp đỡ bạn đọc chậm và nhỏ, chưa rõ lời. Tiếp đó tôi rèn nghe viết chính tả và tăng cường làm bài tập phân biệt vần, âm, phụ âm. Ví dụ : ăc/ăt,c/k, g/gh, x/s,,....Mỗi lần nghe viết tôi chỉ đọc 2 đến 3 câu. Thực hiện trong giờ truy bài và cuối giờ học . Biện pháp thứ năm : Phối hợp cùng gia đình học sinh Mối quan hệ giữa cha mẹ học sinh và giáo viên có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi lẽ giữa cô và cha mẹ học sinh có nhiều điều cần trao đổi thông tin với nhau nhằm giúp các em học tập tốt hơn.Ví dụ: Trong lớp tôi em A Minh Trí, em Y Hoài Bảo Anh, 10
- Hồ Khải Đăng,A Y Ngọc Lan học rất chậm, các kỹ năng đọc, kỹ năng viết,kỹ năng viết chính tả, kỹ năng tính toán, kỹ năng tiếp thu bài....của em rất chậm, chính vì vậy tôi thường xuyên trao đổi với cha mẹ các em để tiếp thu bài học tốt hơn Ảnh cô và mẹ của học sinh đang trao đổi Tôi in ra các một số đoạn văn mỗi đoạn khoảng hai đến ba câu. Nhiều nhất là 4 câu trong bài đã học và thêm hai đoạn ngoài bài đã học vào giấy A4 để về nhà cha mẹ giúp em thêm để em đọc được đoạn văn tốt hơn. Biện pháp thứ sáu : Ứng dụng công nghệ thông tin vào giờ học Bản thân tôi nhận thấy công nghệ thông tin giúp bài giảng thêm sinh động, cung cấp được nhiều thông tin cho học sinh, gây được hứng thú của các em, đồng thời giúp các em tiếp nhận tri thức hiện đại.Tôi đã chuẩn bị bộ bài giảng môn Tiếng Việt có nhiều tranh ảnh, trò chơi , bài hát cuối hoặc giữa tiết trong tất cả các tiết hình thành kỹ năng đọc trong phân môn Đọc để giờ học thêm sinh động, mới lạ. Bên cạnh đó, tôi thường xuyên lên mạng internet để tìm kiếm những thông tin phù hợp với giảng dạy. 1.2 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết Năm học 2021-2022 bản thân tôi chủ nhiệm lớp 2B các em đều nhận thức khá tốt, song bên cạnh đó các em vẫn còn nhiều yếu điểm trong kĩ năng đọc. + Một số học sinh chưa phát âm chuẩn xác, khiến học sinh gặp nhiều khó khăn trong việc luyện phát âm và viết đúng chính tả. + Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập sáng tạo vì luôn 11
- luôn bị lệ thuộc vào người khác. + Học sinh học tập thường ít hứng thú, năng lực cá nhân của số đông học sinh không có điều kiện bộc lộ và phát triển đầy đủ. + Phát triển ngôn ngữ của các em còn hạn chế, rất khó khăn trong học Tiếng Việt. Thực trạng nêu trên đã kéo dài và cản trở mạnh mẽ đến việc đào tạo những người lao động mới, năng động, tự tin, sáng tạo, cản trở những cải tiến mới về phương pháp dạy học và những sáng tạo của giáo viên Tiểu học có tâm huyết với nghề nghiệp. 1.3 Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại: Chưa 1.4 Khả năng áp dụng của sáng kiến: Áp dụng cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học và áp dụng được tất cả các lớp1 và 2 trong toàn huyện, tỉnh. 1.5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Đối với nhà trường: Thứ nhất bổ sung công nghệ thông tin, cần đầu tư tranh ảnh, dùng đồ dùng thiết bị, vật thực để minh hoạ cho môn Tiếng Việt để giúp giáo viên có phương tiện dạy học tốt hơn. - Đối với giáo viên: Chúng ta cần phải thực sự quan tâm yêu thương, gần gũi và tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong các buổi học để giúp các em ham học học, và yêu thích môn học. - Đối với phụ huynh học sinh : Cần quan tâm, đôn đốc, nhắc nhở học sinh đi học chuyên cần cũng như quan tâm đến việc nhắc nhở các em tự học ở nhà. - Về phía học sinh: Có đầy đủ đồ dung học tập. Có ý thức tự giác trong học tập - Dạy đọc cho học sinh lớp 2 không thể nóng vội mà phải hết sức bình tĩnh, nhẹ nhàng, tỷ mỉ, nhưng cũng rất cương quyết để hình thành cho các em một phương pháp tư duy học tập đó là tư duy khoa học, tư duy sáng tạo, tư duy lô gíc. Hy vọng rằng với một chút kinh nghiệm trên đây sẽ mang lại đôi điều bổ ích cho mỗi giáo viên chúng ta. Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm của bản thân tôi tự đúc kết trong suốt thời gian qua bản thân tôi đã nghiên cứu, vận dụng vào thực tế giảng dạy và chất lượng học tập của học sinh đã nâng lên rõ rệt. Các em đã thực sự phấn khởi, tự tin khi học Tiếng Việt. Đối với tôi, cách dạy trên đã góp phần không nhỏ vào việc dạy học và giáo dục 12
- các em những mầm non tương lai của đất nước. Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này sẽ không tránh khỏi những mặt hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của cấp trên và đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện và đạt kết quả cao hơn, đồng thời được áp dụng rộng rãi trong việc dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học. 1.6 Hiệu quả sáng kiến mang lại: Với những biện pháp và cách thực hiện như đã nêu trên, trong thời gian dạy học vừa qua, tôi nhận thấy học sinh có nhiều tiến bộ, Bài đọc của các em có những chuyển biến theo hướng tích cực. Đặc biệt trong các biện pháp mà tôi đã thực hiện có tác dụng giúp các em những kĩ năng học đọc tốt hơn. Sau đây là bảng so sánh đối chiếu chất lượng trước và sau khi áp dụng các biện pháp. Bảng theo dõi chất lượng về bộ môn khi áp dụng biện pháp Thời điểm Tổng HS Đọc to, rõ Đọc đúng,chưa Đọc chậm Đọc nhỏ, ràng, chính ngắt nghỉ hơi đọc sai, từng xác tiếng Đầu kì 1 15 0 1 em 8 em 6 em Cuối học kì 1 15 2em 8 em 4em 1em 2. Những thông tin cần được bảo mật - nếu có: Không 3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu - nếu có: Chưa 4. Hồ sơ kèm theo: Không 13

