Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn viết Lớp 2

doc 22 trang Chăm Nguyễn 25/03/2026 200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn viết Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn viết Lớp 2

  1. PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Phân môn chính tả trong nhà trường tiểu học giúp học sinh tiểu học hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả. Nói rộng hơn là năng lực và thói quen viết đúng Tiếng Việt. Vì vậy, phân môn chính tả có vị trí quan trọng trong nội dung chương trình môn Tiếng Việt ở phổ thông, nhất là ở tiểu học. Người ta nói: “ nét chữ là nết người” cũng đúng. Con chữ phần nào thể hiện tính nết của người viết: Cẩn thận hay cẩu thả, chăm chỉ hay lười biếng Vì vậy rèn luyện kĩ năng chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ rèn cho các em được một kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phát triển tư duy mà còn giúp từng em mở rộng hiểu biết về cuộc sống, góp phần hình thành nhân các con người mới – con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giống như các phân môn khác trong môn Tiếng Việt, tính chất của phân môn chính tả là tính thực hành. Bởi lẽ chỉ có thể rèn luyện các kĩ xảo chính tả cho học sinh thông qua việc thực hành luyện tập, trong phân môn này các quy tắc chính tả, các đơn vị kiến thức mang tính chất lí thuyết không được bố trí trong tiết dạy riêng mà dạy lồng trong hệ thống bài tập chính tả. Và lí do nữa là năm học 2021 -2022 do tình hình dịch bệnh covid-19 kéo dài các em phải học trực tuyến ở nhà nên chữ viết của các em hầu hết là chưa đẹp . Để khắc phục được những tồn tại trên tôi quyết định chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn viết lớp 2”. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài này góp phần giúp học sinh lớp 2 nói riêng và học sinh tiểu học nói chung, bước đầu hình thành kỹ năng viết đúng chính tả trong giờ học chính tả và trong quá trình học tập, sử dụng chữ viết Tiếng Việt trong giao tiếp. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 3.1 Đối tượng nghiên cứu. - Học sinh lớp 2D do tôi chủ nhiệm tại trường Tiểu học Dương Liễu A . 3.2 Phạm vi nghiên cứu. - Chương trình và nội dung phân môn chính tả lớp 2. - Sách giáo viên môn Tiếng Việt 2. - Chuyên đề Giáo dục tiểu học. - Nghiên cứu các tài liệu về “Phương pháp dạy học môn chính tả ở tiểu học”. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Phát hiện và chỉ ra những lỗi mang tính phổ biến của học sinh ( học sinh lớp 2D trường Tiểu học Dương Liễu A ), tìm ra nguyên nhân của những lỗi đó.
  2. - Nêu một số hướng khắc phục đã và đang áp dụng trong việc giảng dạy và bước đầu có hiệu quả, đồng thời đưa ra các đề xuất. 5. Phương pháp nghiên cứu Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: - Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Nghiên cứu một số tài liệu có liên quan để tìm ra các nguyên nhân phạm lỗi của học sinh và các biện pháp giúp học sinh sửa lỗi chính tả. - Phương pháp phân tích ngôn ngữ. Phương pháp phân tích ngôn ngữ được sử dụng để phân tích các lỗi chính tả của học sinh, phân tích nguyên nhân phạm lỗi. - Phương pháp so sánh. Phương pháp này dùng để so sánh các loại lỗi, tình hình phạm lỗi của học sinh, - Phương pháp thống kê toán học Kết quả thống kê, phân loại sẽ được trình bày tổ hợp ở bảng thống kê.
  3. PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1 Cơ sở lí luận: 1.1 Cơ sở lý luận. Các lĩnh vực ngôn ngữ như ngôn ngữ học, ngữ pháp học, phong cách học đều có những đóng góp về mặt lý luận để các nhà khoa học giáo dục biên soạn chương trình học Tiếng Việt cho từng cấp học. Ở phân môn chính tả, các lĩnh vực của ngôn ngữ học đều có sự đóng góp để hình thành cơ sở khoa học. Chẳng hạn như ngữ pháp văn bản giúp cho việc xác định rõ nghĩa của từ trong văn bản, xác định rõ các âm tiết của từ đó mà viết đúng chính tả. Riêng lĩnh vực ngữ âm học là cơ sở lý luận gắn bó mật thiết với vấn đề chính tả. Chữ viết của tiếng Việt là chữ viết ghi âm cho nên nguyên tắc chính tả tiếng Việt chủ yếu là nguyên tắc ngữ âm học. Ngoài ra, chính tả tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc nữa như nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt, . Những nguyên tắc này có lúc không đồng nhất với nguyên tắc ngữ âm học, do vậy chính tả tiếng Việt cũng còn có những trường hợp bất nhất. Cụ thể trong tiếng Việt cách phát âm ở những vùng miền có khác nhau ( phương ngữ ). Bên cạnh đó lại có trường hợp từ mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn. Ví dụ: Chòng chành - tròng trành ; lỡ làng - nhỡ nhàng ; Lăm le - nhăm nhe ; sum sê - xum xuê ; . Hoặc có khi một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết. i: trong lí luận, mĩ thuật, Trước những bất minh trên, việc xác định trọng điểm chính tả cần cho dạy học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng hệ thống âm chuẩn toàn dân, mặt khác phải tham khảo biến thể phát âm địa phương, đồng thời phải dùng nghĩa để sử dụng dựa vào các văn cảnh. 1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài Dân tộc Việt Nam trải qua bốn nghìn năm văn hiến, đã tích lũy được một kho tàng tập quán văn học và văn hóa rất đa dạng, phong phú. Chữ viết ( theo mẫu tự La tinh) của dân tộc ta tuy mới hình thành hơn một trăm năm nay, nhưng đã thành trụ cột then chốt của nền văn hóa nước nhà. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cả trong lời nói, lẫn chữ viết là việc làm hết sức cần thiết của tất cả mọi người dân Việt Nam. Thế nhưng hiện nay việc viết sai chính tả xuất hiện ngày càng nhiều, không chỉ là học sinh Tiểu học, học sinh Trung học, sinh viên, đôi khi có cả một số giáo viên và những người thành đạt. Thông thường môn chính tả mới có yêu cầu về viết đúng, viết đẹp. Còn lại một số môn học khác, giáo viên thường bỏ qua việc soát lỗi, thậm chí chỉ yêu cầu học sinh học thuộc,
  4. tính toán đúng. Hơn nữa bài vở thì nhiều, thời gian hạn hẹp, áp lực công việc khá lớn và giáo viên chưa quan tâm đúng mức, nên việc sửa lỗi chính tả cũng chưa toàn tâm, toàn ý, chưa có hiệu quả. Mặt khác một bộ phận không nhỏ học sinh còn ham chơi lười học, không chịu suy nghĩ, tư duy trong việc nói và viết một cách chuẩn mực tiếng Việt ( vì có bài mẫu, sách mẫu, học thêm, ). Từ những vấn đề nêu trên để hạn chế việc học sinh viết sai chính tả, tôi đã đi sâu về bộ môn này, nghiên cứu, suy nghĩ để tìm ra giải pháp giúp các em viết đúng chính tả. “Nét chữ là nết người” viết đúng chính tả thể hiện ý thức của người học sinh trong học tập đối với chữ viết - một thứ chữ gắn liền với nền văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện lòng tự tôn dân tộc đối với tiếng Việt. 2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu: Đầu năm học, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2D. Sau khi khảo sát chất lượng, để nắm bắt tình hình học tập của các em, tôi đã lập bảng thống kê về môn chính tả trong đầu năm học 2021 – 2022 như sau: ( minh chứng kèm theo trang 19) Đầu năm học 2021 – 2022 chỉ có 67,5% học sinh khá giỏi phân môn chính tả và còn 32,5% học sinh chính tả trung bình, yếu. Như vậy tỉ lệ học sinh trung bình, yếu còn rất cao. Qua trao đổi, dự giờ các bạn đồng nghiệp cùng khối; thông qua việc nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt và kết quả khảo sát của học sinh, tôi nhận thấy tình trạng dạy và học chính tả hiện nay hiệu quả đạt chưa cao nguyên nhân là do: - Về phía giáo viên đứng lớp: Trong giảng dạy giáo viên chưa thể hiện hết sự tận tụy trong nghề nghệp. Giáo viên chỉ cần dạy đủ chương trình chứ không tận tình chỉ dẫn. - Về phía học sinh + Một số học sinh đọc chậm, đọc ngắc ngứ, cách phát âm không chuẩn. Nói - đọc như thế nào thì viết như thế đó; học sinh phân biệt chưa rõ cách đọc nhất là “ l ” và “ n ” , “ tr ” và “ ch ”, “ s ” và “ x ”, “ gi - d - r ”, thường hay lẫn lộn về sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã. + Một số học sinh ráp âm, ráp vần để tạo thành tiếng chưa thành thạo, nhất là đối với một số tiếng khó viết, ít gặp. Ví dụ: lấp loáng, suy thoái, gọn ghẽ, khoét, ngọ nguậy, ngoằn ngoèo, . + Phần lớn bị ảnh hưởng bởi môi trường sống nên các em chưa thật chú tâm đến học tập, tiếp thu kiến thức chậm, khó nhớ mau quên. Những kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết còn nhiều hạn chế. Trong quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh thường mắc phải nhóm sai loại chính tả như sau: Nhóm một: Sai về nguyên tắc chính tả hiện hành:
  5. Là loại lỗi do người viết không nắm được các đặc điểm và nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong tiếng Việt. * Đặc điểm chính tả tiếng Việt : - Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính : các âm tiết được tách bạch rõ ràng trong khi nói, vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau. Ví dụ : Ai về thăm mẹ quê ta (6 âm tiết) Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm ( 8 âm tiết) - Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết. + Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo như sau : THANH ĐIỆU Phụ âm đầu VẦN Âm đệm Âm chính Âm cuối Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được trong cấu tạo của bất kỳ âm tiết nào. + Cách xác định ký hiệu ghi âm chính trong chữ : Muốn xác định ký hiệu ghi âm chính trong chữ, ta đặt chữ vào mô hình cấu tạo vần. Ví dụ: VÂN Thanh Tiếng Phụ âm Âm đệm Âm chính Âm cuối điệu đầu Em e m ngang yêu yê u ngang màu m a u huyền tím t i m sắc Hoa h o a ngang cà c a huyền hoa h o a huyền sim S i m ngang + Khi viết một tiếng, dấu thanh luôn được đặt ở âm chính: dấu nặng đặt bên dưới âm chính, các dấu khác được đặt ở phía trên âm chính. Ví dụ: hình, phận, rộng, đúng, tìm, tạo,
  6. + Khi viết các tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở chữ cái đầu ghi nguyên âm. Ví dụ: mía, nghĩa, giữa, của, múa, lửa, + Những tiếng có nguyên âm đôi mà có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở chữ cái thứ hai ghi nguyên âm đôi. Ví dụ: biển, người, quốc, nước, luận, hoàng, *. Quy tắc viết hoa hiện hành : - Tình trạng viết hoa trong chính tả hiện hành: + Đánh dấu sự bắt đầu một câu. + Ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức ... + Biểu thị sự tôn kính : Bác Hồ, Người ... - Quy định về cách viết hoa tên riêng (của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & đào tạo ban hành). đang áp dụng trong nhà trường: + Đối với tên người và tên địa lý : viết hoa chữ cái đầu tất cả các âm tiết, không dùng gạch nối. Ví dụ : Trần Quốc Toản, Hà Nội, Hải Phòng. + Đối với tên người và tên địa lý nước ngoài : viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó. Các tiếng trong một bộ phận của tên riêng được ngăn cách bằng dấu gạch nối. Ví dụ: Tên người: Ma-ri-ô, Giu-li-ét-ta, Ét-mân Hin-la-ro, Tên địa lí: I-ta-li-a, Hi-ma-lay-a, Niu-di-lân, + Đối với tên tổ chức, cơ quan, đơn vị được viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó. Ví dụ : Trường Tiểu học Dương Liễu. Nhà xuất bản Giáo dục. Nhóm 2: Sai cách phát âm chuẩn * Lỗi viết sai thanh điệu: Tiếng Việt có 6 thanh ( ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng ) thì nhiều học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi và thanh ngã. * Lỗi viết sai phụ âm đầu: Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây: + c / k: Céo co + g / gh: Con ghà , gê gớm + ng/ ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề + ch / tr: Cây che, chiến chanh + s / x: Cây xả , xa mạc + r / d / gi: dò dỉ, giành thắng lợi,... + l / n: nên xuống, trả nời, lông lổi, nóng nòng... - Nguyên nhân chủ yếu viết sai:
  7. + Lỗi khi viết về thanh điệu: Thực tế qua ngôn ngữ nói, có một số học sinh nhầm lẫn giữa thanh sắc và thanh ngã. + Lỗi khi viết phụ âm đầu: Có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, d/gi, s/x, l/n. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “cờ ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu, âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh ) dù có những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn do không nhớ các quy định. - Về phía phụ huynh học sinh: + Trong lớp khoảng 90% cha mẹ học sinh đều làm nghề nông, không có thời gian kèm cặp và quan tâm đến việc học tập của con cái, gia đình chưa xác định đúng vai trò của việc học, gia đình cho con mình đi học miễn sao cho con em biết đọc và viết được là đủ rồi Từ thực trạng vừa nêu trên tôi nhận thấy cần phải có những giải pháp cụ thể phù hợp với lớp nhằm giúp học sinh lớp 2 của tôi nói riêng và học sinh tiểu học nói chung học tốt phân môn chính tả. 3. Một số giải pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả ở Tiểu học Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy chính tả, tôi nhận thấy rằng nếu chỉ dùng sách giáo khoa, thì chưa đáp ứng đầy đủ với các yêu cầu dạy học cho học sinh yếu chính tả ở tiểu học. Vì vậy, để khắc phục lỗ chính tả mà học sinh mắc phải, tôi đã nghiên cứu và vận dụng một số biện pháp để giúp các em nắm được các quy tắc chính tả, các mẹo luật chính tả phù hợp với trình độ tiếp thu của các em hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả, bỏ thói quen phát âm sai dẫn đến việc viết sai. Sau đây là một vài biện pháp mà tôi đã áp dụng trong những năm trực tiếp giảng dạy như sau: 3. 1. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh 3.1.1. Chuẩn bị của giáo viên Trước khi dạy một bài chính tả mới, tôi cần nắm vững kiến thức thuộc nội dung bài dạy và có phương pháp dạy phù hợp để cung cấp kiến thức cho học sinh nhằm giúp học sinh dễ ghi nhớ mà viết đúng chính tả. Ngoài việc tôi cần đọc kỹ bài chính tả nhiều lần, tôi còn phải dự kiến các từ khó nếu học sinh chưa phát hiện ra khi chuẩn bị bài ở nhà. Tôi còn chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho phần bài viết và bài tập thực hành 3.1.2. Chuẩn bị của học sinh Tôi yêu cầu từ đầu năm mỗi học sinh trong lớp đều có 2 quyển vở học chính tả, một quyển vở ở lớp và một quyển vở ở nhà, bảng con, phấn
  8. Ngày hôm sau viết chính tả bài “Phần thưởng”. Trước đó tôi dặn học sinh về nhà viết trước bài đó vào vở chuẩn bị ở nhà, sau đó đọc bài từ 4-5 lần và tìm các từ khó trong bài viết, dùng bút chì gạch chân các từ khó viết vào bảng con. Làm như vậy nhằm giúp học sinh đọc hiểu nội dung bài chính tả, rèn luyện chữ viết và giúp học sinh viết chính tả nhanh và ít sai hơn. 3.2. Phát huy tính tích cực chủ động trong học tập phân môn chính tả của học sinh 3. 2.1. Tăng cường việc tri giác chữ viết bằng thị giác cho học sinh Muốn ngăn ngừa lỗi chính tả cho học sinh tôi giúp các em ghi nhớ chữ viết gắn liền với nghĩa của từ: Từ có vấn đề chính tả, cách tốt nhất là cung cấp cho học sinh từ trong ngữ cảnh. Mỗi tiết học có thể cung cấp cho học sinh nhiều từ trong một hoặc nhiều ngữ cảnh. Ngữ cảnh có ý nghĩa đặc biệt, giúp học sinh nắm được nghĩa của từ dễ dàng, nhẹ nhàng làm điểm tựa cho trí nhớ. Khi cần sử dụng từ, nếu còn phân vân về chữ viết, các em sẽ liên tưởng đến ngữ cảnh và suy luận ra cách viết chữ. Trong một tiết dạy chính tả tôi tạo điều kiện cho học sinh trở đi trở lại với từ cần ghi nhớ nhiều lần. Lần 1: Vào bài học tôi yêu cầu học sinh đọc thầm bằng mắt, ngữ cảnh để hiểu nghĩa từ và nhớ ngữ cảnh. Lần 2: Tôi yêu cầu học sinh lựa chọn các từ trong ngữ cảnh vừa cung cấp để điền vào một ngữ cảnh khác Lần 3: Tôi cho học sinh đặt câu với từ vừa học, tìm từ láy, từ ghép với tiếng có vấn đề chính tả Chưa kể việc học sinh thực hiện bài tập về nhà và kiểm tra bài cũ ở buổi học sau. Trong một tiết, học sinh đã được mắt nhìn tay viết chữ có vấn đề chính tả nhiều lần. Ví dụ: Bài viết “Cái trống trường em”(Tiếng Việt 2 – tập 1) a. Chọn s hoặc x thay cho ô vuông Học sinh điền: xanh, sáng b. Chọn dấu hỏi hoặc dấu ngã: Học sinh chọn: của, những, cửa, mở, mỗi Những thao tác trên tôi đã cho các em thực hiện điền từ, đặt câu, tạo từ đều được thực hiện bằng mắt và tay giảm nói và đọc 3.2.2. Tăng cường thao tác phân tích chữ viết ở học sinh Lỗi chính tả có thể xảy ra ở âm và vần trong tiếng việt. Vì vậy, tôi cho học sinh phân tích chữ viết để có tác dụng ghi nhớ chữ viết, khắc sâu cách viết đi liền với nghĩa từ mà nó biểu đạt. Việc phân tích chữ viết này là phải để cho học sinh làm. Khi tiến hành phân tích chữ viết tôi buộc học sinh phải quan sát chữ viết một cách tường tận buộc học sinh phải viết ra chữ, thao tác nhiều, chữ và
  9. nghĩa sẽ gắn chặt vào trí nhớ, chắc chắn lỗi viết của học sinh sẽ giảm. Tôi đưa ra một biểu bảng giáo viên làm mẫu một từ, còn lại tôi lần lượt cho học sinh trung bình yếu làm tiếp. Với phương pháp này, tôi yêu cầu mỗi học sinh tự tìm từ khó rồi phân tích theo mẫu cho sẵn. Như vậy mỗi học sinh có thể tự tìm và phân tích được nhiều từ Ví dụ: Dạy bài “ Bạn của Nai Nhỏ ” Từ hoặc cụm từ Chữ Phụ âm đầu vần Dấu thanh cánh diều cánh c anh sắc diều d iêu huyền 3.2.3. Tăng cường yêu cầu học sinh tự chữa lỗi chính tả Khi chấm bài viết, tôi chỉ cho học sinh thấy lỗi mà mình thường mắc. Tôi yêu cầu những em thường mắc lỗi chính tả trả lời câu hỏi: - Trong bài chính tả vừa qua em thường mắc các lỗi nào? - Những lỗi đó ở bộ phận nào của tiếng? - Khi học sinh đã có biết được lỗi của mình thường mắc, nếu gặp những chữ có “vấn đề chính tả” của mình thì các em sẽ thận trọng hơn khi viết chữ. Trong lúc soát lại bài viết, tôi đưa ra mẫu đúng, yêu cầu học sinh phân tích chữ viết các em sẽ thấy được lỗi của mình và tự viết lại các lỗ sai vào một quyển vở sửa lỗi. Tôi kiểm tra việc chữa lỗi của học sinh. Qua đó hình thành bản năng tự kiểm tra soát lỗi và có ý thức tự sửa. Giáo viên có thể cho học sinh phát hiện các lỗi chính tả qua các dạng bài tập khác nhau. Ví dụ: Chép một đoạn bài có viết sai chính tả, yêu cầu học sinh viết lại cho đúng. Từ các cách nêu trên giúp học sinh quen dần với cách phát hiện ra lỗi và tự sửa lỗi, dần dần học sinh sẽ nhớ cách viết đúng, thấy được các từ sai để tránh. 3.3. Tạo hứng thú học tập cho học sinh Trong giờ học chính tả, để học sinh hứng thú học tập khi học sinh phát biểu đúng, làm đúng các bài tập khó, tôi cần động viên, khuyến khích khen thưởng kịp thời. Phần luyện tập trong viết chính tả cũng rất quan trọng, để học sinh làm tốt phần luyện tập tôi cần sử dụng những phương pháp dạy học thích hợp gây hứng thú học tập cho học sinh. Tuỳ theo nội dung phần bài tập, tôi có thể cho học sinh làm việc cá nhân, theo cặp nhóm (tổ) nhằm tránh sự nhàm chán cho học sinh khi học phân môn chính tả. Ví dụ:
  10. Cuối tiết học tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: thi tìm nhanh các từ láy âm đầu l Tôi hướng dẫn học sinh chơi trò chơi tiếp sức, trước tiên học sinh nêu yêu cầu bài tập, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bải tập. Sau đó, tôi chia lớp thành 3 dãy (mỗi dãy chọn ra 5 em). Tôi chia bảng làm 3 cột, mời 3 dãy thi đua lên bảng tìm và viết đúng những từ mà các em đã chọn. Mỗi em viết một từ rồi chuyền phấn cho bạn. Hết thời gian qui định, các nhóm ngừng viết. - Cả lớp cùng nhận xét, tuyên dương dãy làm đúng và nhanh. Tạo hứng thú học tập cho học sinh nhằm giúp học sinh ham thích học chính tả, học sinh không những đọc đúng, viết đúng chính tả và còn mở rộng được một số từ ngữ, mở rộng hiểu biết về cuộc sống. 3.4. Thống nhất giữa học sinh với giáo viên trong cách đọc, cách phát âm; Rèn chính tả qua các môn học khác 3.4.1 Thống nhất giữa giáo viên và học sinh trong cách đọc và cách phát âm. Trong tiết viết, ngoài các cách ghi nhớ bằng nghĩa từ, từ trong ngữ cảnh mà cách đọc của giáo viên cũng là một phần rất quan trọng. Do đó tôi thống nhất với học sinh để phân biệt và nhận biết các từ có phụ âm đầu là ch/ tr, x/s, r/d/gi hoặc những tiếng có thanh hỏi và thanh ngã. Ví dụ: Ch: đọc bình thường Tr: đọc đưa lưỡi lên vòm miệng X: đọc bình thường S: đọc cong lưỡi lên R: đọc cong lưỡi lên D: đọc bình thường Gi: đọc xì hơi ra Bên cạnh việc thống nhất cách đọc với học sinh tôi còn kết hợp cho học sinh thực hành với bài tập rèn luyện kĩ năng viết chính tả để học sinh lĩnh hội ngay và ghi nhớ. Khi học sinh điền xong, tôi yêu cầu học sinh phát âm đúng như hướng thống nhất. Ví dụ: Điền vào chỗ trống s hoặc x: ( sa, xa)? .....xôi, ....xuống (sá,xá)? Phố ....,đường.... Điền r/ d/gi vào chỗ trống: - Hôm nay là ngày ...ỗ cụ tổ năm đời của thần, nhưng thần không có mặt ở nhà để cúng ...ỗ
  11. - Dạo này công việc ồn ập quá - Dừng có ại ột nghe theo những lời đồn nhãm Với phương pháp dạy viết này, học sinh lĩnh hội chính xác, phát âm đúng và nhớ lâu hơn. 3.4.2. Học sinh viết đúng chính tả qua các môn học khác Đọc đúng sẽ giúp học sinh viết đúng chính tả. Chính vì vậy, để khắc phục tình trạng học sinh viết sai chình tả, người giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đồng thời cần hướng dẫn học sinh phát âm chuẩn để phân biệt các thanh, âm đàu, âm cuối qua các môn, phân môn khác như: tập đọc, tập làm văn, luyện từ và câu, toán, đạo đức Tôi rèn luyện cho học sinh học tốt ở phân môn Tập đọc, tập trung sửa sai các âm,vần khó hoặc dễ lẫn lộn do cách phát âm của địa phương. Ví dụ: ch/tr, s/x, l/n, r/d/gi Trong Tiếng Việt phân môn Tập đọc tạo nền móng vững chắc cho phân môn chính tả. Ngoài ra khi dạy phân môn Tập làm văn tiết tả bài viết, tôi cũng cần hướng dẫn cho các em soát lỗi, chữa từ, câu rất tỉ mỉ để các em thấy được chỗ sai, rút kinh nghiệm và có hướng viết chính tả tốt hơn. 3.5. Sử dụng các mẹo luật, quy tắc chính tả. Đối với học sinh tiểu học phương án này tương đối có hiệu quả nhất, bởi vì tư duy “máy móc”, trí nhớ “máy móc” của các em chiếm ưu thế là thích ứng cho việc xây dựng các mẹo luật vừa dễ nhớ vừa áp dụng lúc viết. - Khi dạy bài chính tả phân biệt c/k/q, g/gh, gh/ngh. Học sinh tự tìm ra các từ có âm đầu là c/k/q, g/gh, gh/ngh, từ các ví dụ cụ thể mà học sinh nắm lại các quy tắc chính tả. Chữ cái c: Luôn đứng trước các vần bắt đàu bằng các nguyên âm: a, ă, o, ô, u, ư... Ví dụ: Cần cù, cặm cụi, cũng... Chữ cái k: Luôn đứng trước các vần bắt đàu bằng các nguyên âm: e, ê, i... Ví dụ: kính, kể, kèo... Chữ cái q: Luôn kết hợp với u tạo thành qu ( đọc là quờ ). Qu luôn đứng trước hầu hết các nguyên âm ( trừ các nguyên âm o, u, ư ). Ví dụ: Quan trọng, quanh quẩn Chữ ng, g: Ghép được o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư và không ghép được e, ê, i (không có nghĩa) Ví dụ: ngơ ngác, ngủ. Chữ ngh, gh: Chỉ ghép được nguyên âm e, ê, i. Ví dụ: nghỉ ngơi, ghi nhớ.