SKKN Một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho học sinh Lớp 2A1, Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc trong dạy học trực tuyến

docx 27 trang Chăm Nguyễn 29/05/2026 40
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho học sinh Lớp 2A1, Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc trong dạy học trực tuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_ho_tro_ren_doc_cho_hoc_sinh_lop_2a1_tr.docx
  • pdfSKKN Một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho học sinh Lớp 2A1, Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc trong dạy.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho học sinh Lớp 2A1, Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc trong dạy học trực tuyến

  1. 1 A.MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Cơ sở lí luận Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 có các mạch nội dung môn Tiếng Việt được xây dựng tương ứng với các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe, trong đó kĩ năng đọc là kĩ năng rất quan trọng. Kĩ năng này được rèn luyện tốt sẽ giúp HS nắm được nghĩa của từ, hiểu được nội dung văn bản không chỉ ở môn Tiếng Việt mà còn vận dụng vào hiểu nội dung các môn học khác. Mặt khác, ở lớp 2, nếu được luyện đọc thành thạo sẽ tạo nên nền tảng, tiền đề tốt cho các em khi lên các lớp trên. Từ đó, khơi dậy trong các em niềm đam mê, sự tích cực, ham học tập. Đất nước ngày càng phát triển, xã hội ngày càng văn minh đòi hỏi con người phải tiến lên kịp thời đại. Con người cần phải hiểu biết, giao tiếp rộng hơn... phát triển toàn diện hơn. Dạy học Tiếng Việt ở trường Tiểu học nói chung, dạy Đọc nói riêng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự hình thành và phát triển nhân cách của HS. Nếu nói “Tiểu học là bậc học nền tảng” thì dạy Đọc có vị trí then chốt, quyết định đến sự thành công của nhiều môn học khác. Bởi lẽ “đọc” là một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của mỗi người đi học. Trẻ có biết đọc thì mới học được các môn học khác. Cho nên ngay từ những ngày đầu tiên đến trường trẻ đã cần được “học đọc”, sau đó trẻ phải “đọc” để “học”. Đọc trở thành nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu của mỗi người đi học. Nhờ đọc mà mỗi người có thể bày tỏ ý kiến của mình, có điều kiện tự học, tìm hiểu thế giới xung quanh và hiểu biết các môn học khác. Như vậy, có thể khẳng định rằng “đọc” là cầu nối của mọi tri thức, mọi môn học. Học tập đọc không những giúp học sinh có kĩ năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, trau dồi ngôn ngữ, bồi dưỡng vốn kiến thức về đời sống, là công cụ để học tốt các môn học khác, mà học tập đọc còn góp phần giáo dục đạo đức, tính cách, tình cảm, mĩ cảm cho học sinh. Nội dung trong các tiết dạy đọc mang tính chất tổng hợp. Thông qua các tiết học này, học sinh sẽ được hình thành và phát triển kĩ năng đọc, một trong bốn kĩ năng quan trọng cần rèn (nghe, nói, đọc, viết) của năng lực thực tiễn hoạt động ngôn ngữ. Kĩ năng đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng đọc bộ phận: đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức (đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Đọc chính là học, học nữa, học mãi, đọc để tự học, học cả đời. Bởi vậy dạy cho học sinh biết đọc, đọc đúng, đọc hiểu và đọc hay là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
  2. 2 1.2. Cơ sở thực tiễn Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy kĩ năng đọc của học sinh còn nhiều hạn chế, có em còn chưa có kĩ năng đọc đúng chứ chưa nói đến đọc hay. Vì vậy, việc rèn đọc đúng là một yêu cầu cơ bản hàng đầu của việc dạy đọc ở lớp 2. Khi đã đọc đúng một cách có định hướng thì rèn đọc hay cũng rất quan trọng. Bởi lẽ chúng ta đều thấy rằng: Đọc văn bản phải đọc đúng thì mới hiểu văn bản muốn nói gì với ta. Và khi đọc văn bản, không chỉ để hiểu mà còn để cảm nhận, chia sẻ, bộc lộ những cảm xúc của bản thân, từ đó mà các em “tự lớn lên”. Tuy nhiên, với thực tế hiện nay, việc dạy đọc ở trường Tiểu học, nhất là khi dịch Covid- 19 bùng phát, HS học trực tuyến, việc dạy đọc đạt kết quả chưa như mong muốn. Bởi lẽ: - Thời gian dành cho tiết đọc khi dạy học trực tuyến không nhiều như thời gian của tiết Đọc khi dạy học trực tiếp, đường truyền mạng đôi lúc chưa tốt, khả năng sử dụng CNTT trong dạy học trực tuyến của GVchưa linh hoạt làm ảnh hưởng tới việc tổ chức luyện đọc cho HS. - Còn nhiều em chưa phân biệt được cách đọc thơ, cách đọc văn xuôi. - HS đọc nhưng không biết diễn tả đúng ngữ điệu của từng kiểu câu. - Các em chưa biết thay đổi giọng theo tính cách của nhân vật, đặc biệt là chỗ ngắt, nghỉ, nhấn giọng ở những từ gợi tả, gợi cảm Từ những vướng mắc, hạn chế về cách đọc dẫn đến tình trạng các em rụt rè, thiếu tự tin khi đọc. Vậy làm thế nào để chất lượng đọc của khi tham gia học trực tuyến đạt hiệu quả? Làm thế nào để học sinh thích đọc? Những suy nghĩ, trăn trở đó đã thôi thúc tôi mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho học sinh lớp 2A1, Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc trong dạy học trực tuyến.” 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở lí luận và đánh giá thực trạng rèn đọc, đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc cho học sinh lớp 2A1, trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc trong dạy học trực tuyến. 3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3.1. Khách thể nghiên cứu: Áp dụng một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho HS lớp 2A1 trong quá trình dạy học trực tuyến ở trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp hỗ trợ rèn đọc cho HS lớp 2A1 trong quá trình dạy học trực tuyến ở trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc.
  3. 3 4. Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu áp dụng cho HS lớp 2A1, tại trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc, trong thời gian: Tháng 9/2021 - Tháng 3/2022 - Tiếng Việt là môn học bồi dưỡng cho các em tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam trong thời đại mới. Việc vận dụng phương pháp dạy học tích cực, ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong giảng dạy sẽ giúp học sinh tự tin tự giải quyết các vấn đề của bài học, nhất là trong khi dạy học trực tuyến. - Hình thành cho HS thói quen tự giác học tập, tạo môi trường học tập thân thiện, cởi mở. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu và hình thức dạy học - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: nghiên cứu giáo trình, các tài liệu sách báo, phân tích tổng hợp thông tin để rút ra kết luận khoa học cần thiết. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng linh hoạt nhiều phương pháp, hình thức nhằm phát huy tính tích cực chủ động của HS: + Phương pháp trực quan - Hình thức dạy học cá nhân + Phương pháp phân tích mẫu - Hình thức dạy học nhóm + Phương pháp quan sát sư phạm - Hình thức trò chơi + Phương pháp nêu vấn đề - Hình thức thi đua + Phương pháp tổng kết kinh nghiệm + Phương pháp thực nghiệm sư phạm Qua nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề ra một số biện pháp rèn đọc nhằm nâng cao chất lượng đọc trong quá trình dạy học trực tuyến, tiến hành thử nghiệm và rút ra kết luận về hiệu quả các biện pháp qua một số tiết dạy cụ thể ở lớp 2A1, Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc.
  4. 4 B. NỘI DUNG Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN 1.Cơ sở lý luận 1.1 Hệ thống ngữ âm chuẩn của Tiếng Việt: Tiếng Việt là ngôn ngữ chung của toàn dân tộc Việt Nam. Nhưng cũng như các ngôn ngữ khác, do sự phát triển theo chiều dài lịch sử từ xưa đến nay, ngữ âm Tiếng Việt không phải là hoàn toàn thống nhất từ Bắc chí Nam. Hiện nay, Tiếng Việt có ba phương ngữ: miền Bắc (ở Bắc Bộ và Thanh Hoá), miền Trung (từ Nghệ An đến Huế) và miền Nam (từ Quảng Nam trở vào). Trong nhiều phương ngữ đó lại có nhiều thổ ngữ khác nhau: trong phương ngữ Miền Bắc có thổ ngữ Hà Nội, thổ ngữ Hải Phòng , trong phương ngữ miền Trung có thổ ngữ Huế trong phương ngữ miền Nam có thổ ngữ Quảng Nam, thổ ngữ Bình Định . Bức tranh thổ ngữ Tiếng Việt thực ra còn phức tạp hơn nhiều. Trong thổ ngữ còn có những thổ ngữ nhỏ, những đảo ngữ mà danh giới của chúng đan xen nhau đến nay chưa xác định đầy đủ. Mặc dù vậy nhưng Tiếng Việt vẫn là ngôn ngữ thống nhất của toàn dân. Bởi vì trong các phương ngữ thổ ngữ ta vẫn tìm thấy những nét cơ bản chung làm cho người ba vùng có thể giao tiếp với nhau dễ dàng bằng khẩu ngữ. Tuy nhiên, những khác biệt ngữ âm, từ vựng giữa các phương ngữ thổ ngữ có thể đưa tới hiểu lầm bất lợi trong giao tiếp. Huống chi trong quan hệ quốc tế, cần phải giới thiệu một thứ Tiếng Việt tiêu biểu. Vì vậy, vấn đề cần đặt ra là làm sao xây dựng một hệ thống ngữ âm tiêu biểu làm chuẩn cho Tiếng Việt. - Quan niệm về hệ thống ngữ âm chuẩn Tiếng Việt: Từ trước đến nay đã có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề chính âm Tiếng Việt. Những ý kiến này mặc dù có những điểm khác nhau, song ở mức độ nào đấy đều tán thành hệ thống ngữ âm chuẩn như sau: + Số lượng thành phần vị âm trong kết cấu âm tiết ở dạng đầy đủ nhất là 4 (chưa kể thanh điệu ). + Số lượng thanh điệu là 6. + Có hệ thống phụ âm đầu, phụ âm cuối . 1.2. Cơ chế phát âm: Đặc điểm cơ bản của cơ chế phát âm là tiếng động. Song trong khi phát âm một số phụ âm, dây thanh cũng hoạt động và cung cấp thêm tiếng thanh. Tuỳ theo tỉ lệ tiếng động và tiếng thanh mà người ta chia phụ âm thành các loại khác nhau. Phụ âm vô thanh chỉ được cấu tạo bằng tiếng động mà
  5. 5 thôi ( ví dụ: /p/, /t/, /d/ củaTiếng Việt). Loại phụ âm này gọi là phụ âm ồn, đối lập với loại thứ ba vốn có đặc trưng cấu tạo này mà tỷ lệ tiếng thanh lớn hơn tiếng động gọi là phụ âm vang ( ví dụ: /m/, /n/ trong Tiếng Việt). - Khoang miệng và khoang mũi là hai cộng minh trường tiếp theo của bộ máy phát âm. Khoang miệng và khoang mũi ngăn cách bởi một vách ngăn gọi là ngạc. Những bộ phận của khoang miệng và khoang mũi đều có ảnh hưởng đến cấu tạo âm thanh. - Các bộ phận của bộ máy phát âm của con người chia làm hai loại. + Loại hoạt động được: lưỡi con, nắp họng, lưỡi, môi. + Loại không hoạt động được: răng, lợi, ngạc. Khoang miệng và khoang mũi nhờ sự cộng hưởng của lưỡi và môi có thể thay đổi thể tích bất kì lúc nào, nhờ đó tạo nên những âm có âm sắc khác nhau. 1.3. Ý nghĩa của dạy đọc: Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có vai trò đặc biệt trong việc hình thành năng lực trong hoạt động ngôn ngữ cho HS. Năng lực này được thể hiện trong bốn hoạt động tương ứng bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết. Như vậy, đọc là một dạng hoạt động của ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng chữ viết sang lời nói. Dạy đọc là dạy cách đọc văn bản từ đọc đúng, đọc nhanh, đọc hiểu đến đọc hay. Tâm lý học cho thấy rằng muốn có kĩ năng, kĩ xảo con người phải trải qua luyện tập, thực hành và càng phải luyện tập, thực hành những gì đã học. Dựa vào đặc điểm tâm lý HSlớp 2, tư duy cụ thể vẫn còn chiếm ưu thế, tư duy trừu tượng chưa phát triển mạnh, khả năng tập trung còn yếu nên trong quá trình học, giáo viên cần phải luôn luôn chuyển đổi hoạt động để các em đỡ mệt mỏi, học theo tinh thần: “ học mà chơi, chơi mà học” từ đó duy trì hứng thú cho HS.Vì vậy, việc dạy đọc có ý nghĩa rất lớn lao. Đọc trở thành một nhu cầu, đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với trẻ ngay từ khi đi học. Đầu tiên, trẻ phải học đọc, sau đó biết đọc để học. Đọc tốt sẽ là một công cụ hữu hiệu để các em học tập tốt ở các môn học khác. Việc rèn đọc trong quá trình dạy học trực tuyến cũng không nằm ngoài ý nghĩa này. 1.4. Nhiệm vụ của dạy đọc ở lớp 2: Dạy đọc ở lớp 2 tiếp nối những nhiệm vụ đã đặt ra từ lớp 1 song mức độ yêu cầu có cao hơn do việc dạy học gắn với hệ thống văn bản đề cập đến những vấn đề rộng rãi và sâu sắc hơn, độ dài của văn bản cũng lớn hơn. Nhiệm vụ cụ thể của dạy đọc ở lớp 2 là:
  6. 6 a. Phát triển kĩ năng đọc và nghe cho HS, hai kĩ năng này phải được hình thành, phát triển ngay trong khi học trực tuyến. b. Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của HS về cuộc sống. c. Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng. 1.5. Cơ sở của việc dạy đọc: Dạy đọc là dạy thực hành. Nhiệm vụ quan trọng của nó là hình thành năng lực đọc cho HS. Năng lực đó thể hiện ở bốn yêu cầu: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý thức (đọc hiểu) và đọc hay. Đọc là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ quan thị giác. Đọc bao gồm các yếu tố như tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đã đọc được. Các nhà nghiên cứu đã chia việc hình thành kĩ năng đọc ra làm ba giai đoạn: Phân tích, tổng hợp và tự động hoá. 2.Cơ sở thực tiễn Trong quá trình thực hiện dạy học trực tuyến rèn đọc, gặp những thuận lợi: Nội dung môn Tiếng Việt lớp2 của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 có các bài đọc được bố trí theo chủ điểm, tuần. Mỗi tuần có 4 tiết dạy đọc và 1 tiết đọc mở rộng. Nội dung đọc hay và phong phú.(xem Phụ lục) Hiện nay, nhà trường rất quan tâm đến đổi mới hình thức, phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho GV đi sâu vào tìm hiểu, nâng cao cách dạy các dạng bài đọc. Phòng Giáo dục và Nhà trường đã tổ chức các lớp tập huấn CNTT, các mô hình bồi dưỡng CNTT GV của GV được triển khai mạnh mẽ để GV chúng tôi học tập lẫn nhau. Nhờ đó trình độ sử dụng CNTT trong dạy trực tuyến được nâng lên rõ rệt. Bản thân mỗi GV cũng đều có năng lực và tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao chất lượng dạy học trực tuyến. Bên cạnh đó chúng tôi gặp không ít khó khăn: HS năm lớp Một cũng đã phải học trực tuyến, các con nhỏ tuổi nên sử dụng các thiết bị gặp khó khăn hoặc một số gia đình chưa có điều kiện để mua thiết bị học trực tuyến đầy đủ hoặc một số em phải ở quê học tại địa phương nên chất lượng đọc của HS so với các năm trước chưa cao. Cả GV và HS năm nay được làm quen với nội dung sách lớp 2 Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 rất hay nhưng mới nên còn bỡ ngỡ.
  7. 7 Chƣơng II THỰC TRẠNG CỦA VIỆC RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN Ở LỚP 2 TRƢỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN BẮC 1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên - Kinh tế xã hội của phƣờng Thanh Xuân Bắc Thanh Xuân Bắc là phường trực thuộc quận Thanh Xuân, Hà Nội. Phường có diện tích là 23.114 ha, dân số đông lên đến hơn 11 nghìn người. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong phường khá cao. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo tốt. Nơi đây là quê hương của danh nhân văn hóa Đặng Trần Côn. 2. Khái quát về trƣờng Tiểu học Thanh Xuân Bắc Trường Tiểu học Thanh Xuân Bắc được thành lập vào tháng 5 năm 2018. Trường được xây dựng rất khang trang, hiện đại và sạch đẹp. Trường có 30 lớp với tổng số 1339 học sinh và 49 cán bộ giáo viên, nhân viên. Tuy mới thành lập, nhà trường đã có các phong trào diễn ra sôi nổi và đạt hiệu quả cao như Thể dục thể thao, Giai điệu tuổi hồng, Vẽ tranh,..Cán bộ quản lý và giáo viên, nhân viên tâm huyết, tài năng. 3. Thực trạng về việc dạyđọc cho học sinh lớp 2 trong dạy học trực tuyến 3.1. Thực trạng về đội ngũ giáo viên của khối 2 * Về số lượng: Gồm 7 giáo viên chủ nhiệm lớp. * Về trình độ chuyên môn: 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn. * Về chất lượng giảng dạy: Trong năm học vừa qua các đồng chí GV trong tổ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Có 1 đồng chí đạt danh hiệu GV giỏi cấp quận, 1 đồng chí đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. * Về công tác viết SKKN: Nhiều sáng kiến được phổ biến tới tập thể giáo viên qua các chuyên đề, các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên học tập và đã có nhiều kết quả. 3.2. Thực trạng về việc về việc dạyđọc cho học sinh lớp 2 trong dạy học trực tuyến 3.2.1. Thuận lợi Phường Thanh Xuân Bắc có bề dày lịch sử văn hóa, truyền thống hiếu học. * Về phía nhà trường
  8. 8 Ban Giám hiệu nhà trường có những giải pháp chỉ đạo việc dạy và học đọc có hiệu quả khi dạy trực tuyến. Tổ chuyên môn thường xuyên trao đổi về việc dạy đọc, đặc biệt là dạy đọc trong khi dạy trực tuyến và đã xây dựng chuyên đề để tổ rút kinh nghiệm và học tập. * Về phía học sinh Học sinh phần lớn người địa phương, sống trong mối quan hệ họ hàng thân thiết, gắn bó, ngoan ngoãn, kính thầy yêu bạn. 3.2.2. Khó khăn • Về phía giáo viên GV ngại khó vì dạy trực tuyến tiết đọc phải đầu tư nhiều về tư liệu và tình huống, phải thực hiện linh hoạt các hình thức và phương pháp dạy học đa dạng thì mới thu hút được HS. Dạy đọc trực tuyến phụ thuộc vào các thiết bị, đường truyền mạng nên khó hơn so với dạy đọc trực tiếp. Mặt khác, GV chưa phát huy hết vai trò là người dẫn dắt, gợi mở trí tò mò, khả năng sáng tạo, tích cực chủ động ở HS nên dễ gây ra nhàm chán, mất hứng thú khi học đọc trực tuyến. • Về phía học sinh Năm học 2021 - 2022, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2A1 có 48 HS phải học trực tuyến nhiều tháng. Nhìn chung, các em tiếp thu bài khá tốt. Tuy vậy, kĩ năng đọc của các em không đồng đều.Trong giờ học, chỉ những HS nhanh nhẹn mới có thể đọc tốt, trả lời đúng các câu hỏi, còn một số HS thì cảm thấy lo sợ, thụ động, khi được gọi tên các em không đọc, không trả lời được. Mặt khác, việc đọc của các em chưa có phương pháp hợp lí, khoa học. Qua khảo sát thăm dò ý kiến GV lớp 2, thực trạng HS đọc như sau: - 80% GV cho rằng dạy đọc ở lớp 2 khó khăn là do vốn sống và kiến thức của HS còn hạn chế, nhất là hướng dẫn cho các em cách biểu lộ cảm xúc, thái độ qua lời nói. HS ngại đọc, ít chú ý vào bài học khi dạy trực tuyến. • Về phía phụ huynh học sinh Một số phụ huynh do bận rộn công tác, tham gia phòng chống dịch Covid-19, đặc biệt là bác sĩ, công an, dân phòng không có điều kiện thường xuyên quan tâm và hướng dẫn cho con đọc đúng khi luyện đọc ở nhà trong giai đoạn học trực tuyến để phòng dịch Covid-19. Đường truyền mạng Internet và thiết bị học trực tuyến của HS ở một số gia đình chưa được quan tâm đúng mức. Những khó khăn trên đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả dạy đọc trong khi dạy học trực tuyến.
  9. 9 Đánh giá chất lượng đọc của học sinh lớp 2A1 đầu năm học 2021- 2022: Số học sinh Đọc tốt Đọc chƣa tốt 48 18≈ 37,5% 30≈ 62,5% Qua bảng thống kê trên, rất dễ nhận thấy số học sinh đọc tốt và số học sinh đọc chưa tốt đạt tỉ lệ khá cao (62,5%). Kết quả học tập này có thể được nâng cao nếu giáo viên áp dụng những biện pháp hợp lí trong quá trình giảng dạy. Mong muốn HS của mình ham thích đọc, có khả năng đọc tốt luôn nung nấu trong tôi. Sau đây, tôi xin đưa ra một số biện pháp hỗ trợ mà tôi đã thực hiện khi dạy HS lớp 2 rèn đọc trong dạy học trực tuyến môn Tiếng Việt.
  10. 10 Chƣơng III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỖ TRỢ RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2A1, TRƢỜNG TIỂU HỌC THANH XUÂN BẮC TRONG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN 1. Biện pháp 1: Điều tra nguyên nhân học sinh đọc chƣa tốt Qua thực tế của các lớp mình đã và đang chủ nhiệm, tôi nhận thấy tình trạng HS đọc chưa tốt xuất phát từ một số nguyên nhân sau: - Năm học trước, HS học hết giai đoạn làm quen với chữ cái, vần thì dịch Covid-19 bùng phát nên toàn bộ phần đọc văn bản các em phải học qua hình thức trực tuyến nên gặp khó khăn. Thực hiện các công văn chỉ đạo của các cấp thực hiện nhiệm vụ kép vừa dạy học vừa phòng dịch bệnh Covid-19 với phương châm Ngừng đến trường nhưng không ngừng học: Công văn 3226/SGDĐT-VP ngày 13/9/2021 về việc giới thiệu các giải pháp hỗ trợ hoạt động dạy và học qua mạng; Chỉ thị 22/CT-UBND ngày 20/9/2021 về việc điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn Thành phố trong tình hình mới. HS tạm ngừng đến trường nhưng vẫn học bằng hình thức trực tuyến. - Bệnh tật, sức khỏe kém, nghỉ học thường xuyên, suy giảm sự chú ý, mất tập trung của trẻ vào bài học làm cho việc học bị gián đoạn, khiến cho trẻ bị hổng kiến thức. - Một số em nhận biết chữ rất chậm do kém phát triển trí tuệ, giảm trí nhớ hoặc có cấu tạo của bộ phận phát âm gặp khó khăn. - Hoàn cảnh kinh tế của gia đình khó khăn, không hạnh phúc, cha mẹ không quan tâm đến việc học tập của con. GV phải nắm bắt được đặc điểm nhận thức của từng đối tượng học sinh trong lớp để khích lệ, động viên nhằm phát huy những mặt tích cực và uốn sửa, hỗ trợ đúng lúc, kịp thời những hạn chế của các em. Người dạy phải linh hoạt, chủ động khi lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức tiết dạy đọc trực tuyến sao cho các em luôn cảm giác thoải mái, thích thú, thích được tham gia học tập một cách tự giác, không gò ép. 2. Biện pháp 2: Phân loại đối tƣợng học sinh Bước vào những ngày đầu năm học, tôi luôn quan tâm kiểm tra việc đọc và nhận biết các âm trong bảng chữ cái để có biện pháp giúp đỡ cho từng HS. Trong mỗi buổi học, tôi tranh thủ thời gian truy bài đầu giờ để kiểm tra việc đọc của HS, từ đó nắm được cách đọc phát âm của từng em và có biện pháp sửa chữa kịp thời khi HS đọc, phát âm chưa đúng. Tôi cũng thường
  11. 11 xuyên gọi HS trả bài cũ trong các tiết học để nắm được việc tiếp thu bài và nhớ âm chữ cái, cách phát âm của từng em đúng hay sai, từ đó có hướng giải quyết uốn nắn, sửa sai kịp thời. Chẳng hạn, cần phân loại đối tượng HS như sau: Trước hết, GV phân ra từng nhóm đối tượng HS, nhóm nào thường mắc những lỗi nào thì tìm ra phương pháp khác phục cho HS sửa lỗi đó. Khi đọc những từ có liên quan đến những lỗi mà nhóm HS hay mắc phải, cần yêu cầu những em đó lên đọc thường xuyên. Có như vậy, các em mới phát hiện ra lỗi sai để kịp thời giúp HS khắc phục. * Lỗi chính tả về dấu thanh : + Đọc lẫn lộn giữa các tiếng có thanh ngã với các tiếng có thanh sắc. + Đọc lẫn lộn giữa các tiếng có thanh hỏi với các tiếng có thanh nặng. * Lỗi phụ âm đầu: Đọc lẫn lộn giữa “ n” và “l”; * Lỗi chính tả phần vần: Đọc lẫn lộn giữa các vần: iu/ ưu, anh/ ang, ươu/ iêu, inh/ ưn. Để rèn cho HS thói quen đọc tốt, tôi luôn chú ý hướng dẫn các em tư thế cầm sách khi đứng đọc, ngồi đọc. Khi đọc phải to rõ ràng, đủ cho cả lớp nghe, phát âm chính xác. Khen ngợi động viên kịp thời những em đọc tốt, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài. Đồng thời tôi cũng thường xuyên gọi những em đọc chưa tốt, hay đọc sai và còn nhút nhát thiếu tự tin. Tôi khuyến khích cả lớp lắng nghe bạn đọc để có những nhận xét sát thực về việc đọc của bạn mình xem bạn đọc đúng chưa, em có nghe rõ bạn đọc không, bạn đọc sai tiếng nào, từ đó mỗi HS tự biết điều chỉnh những hạn chế bản thân để cố gắng đọc tốt. Tôi cho các em tự phát hiện những tiếng từ khó và tăng cường luyện đọc nhiều lần theo hình thức cá nhân, nối tiếp để các em ghi nhớ bài học. Hướng dẫn HS đọc đủ số tiếng, không thêm hay bớt tiếng hoặc dấu thanh, đọc theo trỏ chuột của giáo viên (theo thứ tự và không theo thứ tự) Rèn cho HS các hình thức đọc thầm, đọc hiểu và đọc thành tiếng: + Đọc thầm: HS nhìn liếc mắt đọc và phân tích cấu tạo vần, tiếng, từ đọc trong trí nhớ. Tôi yêu cầu những em đã đọc xong trước thì giơ tay để giáo viên kiểm tra tốc độ đọc của HS. + Đọc hiểu: Hướng dẫn HS kỹ năng nhận biết từ mới, từ khó bằng cách chia một số từ đó thành hai cột đảo lộn trật tự để các em đọc ghép lại thành từ có nghĩa.