Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện đọc khi dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

doc 28 trang Chăm Nguyễn 12/08/2026 190
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện đọc khi dạy môn Tiếng Việt Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_luyen_doc_khi_day_mon.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp luyện đọc khi dạy môn Tiếng Việt Lớp 2

  1. 1 CHƯƠNG 1 PHẦN MỞ ĐẦU Trong học tập môn Tiếng Việt thì kỹ năng đọc là rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ cho học sinh. Đọc là công cụ để các em học tập, giao tiếp, khơi dậy hành động, nuôi dưỡng tâm hồn qua những tác phẩm văn học. Tập đọc là một phân môn thuộc môn Tiếng Việt, có vai trò rất quan trọng giúp học sinh hình thành kỹ năng đọc văn bản. Chính vì thế việc phát huy các phương pháp dạy học tích cực giúp học sinh hình thành kỹ năng đọc một cách tốt nhất, chính là nhiệm vụ quan trọng của giáo viên trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Đối với học sinh lớp 2 các em còn nhỏ nên phát âm chưa chính xác, đọc còn nhỏ, chưa rõ ràng, tốc độ đọc còn chậm, đọc được nhưng chưa hiểu nội dung, chưa trả lời được các câu hỏi về nội dung vừa đọc, viết chưa đúng quy trình, chưa liền mạch, còn sai độ cao, độ rộng và mắc nhiều lỗi chính tả, một số em viết đẹp nhưng tốc độ viết còn chậm chính vì vậy việc dạy và học môn Tiếng Việt càng mang tính quan trọng hơn. Quan trọng hơn năm học 2021-2022 là năm học đầu tiên giáo viên cũng như học sinh lớp 2 được làm quen với chương trình mới, làm quen với sách giáo khoa mới nên còn nhiều bỡ ngỡ trong việc hình thành phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh lớp 2. Do đó, việc giúp các em học sinh lớp 2 học tốt môn Tiếng Việt là rất cần thiết. Là giáo viên dạy lớp 2, trong quá trình thực dạy, nắm bắt được nhiệm vụ cũng như thực trạng của việc học môn Tiếng Việt theo chương trình mới, cụ thể là bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống. Năm học 2021 – 2022 tôi mạnh dạn đưa và thực hiện giải pháp trong việc dạy học Tiếng Việt đó là: "Một số biện pháp luyện đọc khi dạy môn Tiếng Việt lớp 2”.
  2. 2 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN: - Thời gian: Từ ngày 06 tháng 09 năm 2021 đến ngày 20 tháng 04 năm 2022. - Địa điểm thực hiện: Lớp 2A. Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Trà Thanh. 2.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG: Năm học 2021 – 2022 bản thân tôi được Ban giám hiệu nhà trường tin tưởng phân công chủ nhiệm lớp 2A. Số liệu tổ chức của lớp tôi quản lý như sau: - Tổng số học sinh: 24 em. - Học sinh nữ: 9 em. - Học sinh có hoàn cảnh khó khăn: 20 em. Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy, giáo viên chưa chú trọng rèn đọc cho học sinh qua các hình thức đa dạng khác nhau. Nội dung dạy đọc chủ yếu tập trung trong phân môn Tập đọc, chưa có những phương pháp tích cực trong dạy học để phát huy khả năng của học sinh. Hơn nữa giáo viên chưa thật sự đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Trong quá trình quan sát học sinh tôi nhận thấy kỹ năng đọc của các em còn tồn tại một số vấn đề sau: - Học sinh chưa biết nhấn giọng khi đọc. - Giọng đọc còn yếu, chưa rõ ràng, chưa truyền cảm theo các nội dung văn bản. - Ngắt giọng không chính xác ở các câu văn dài, có cấu tạo ngữ pháp phức tạp. - Chưa biết điều tiết nhịp thở khi đọc. - Còn đọc sai chính tả, sai dấu câu
  3. 3 Để có những con số cụ thể về chất lượng đọc của học sinh trước khi áp dụng sáng kiến tôi đã tiến hành tìm hiểu sau một thời gian triển khai sáng kiến và có những số liệu so sánh cụ thể như sau: Bảng so sánh kết quả đầu năm trước khi thực hiện biện pháp Đầu năm học Tổng Số học Số học Nội dung Tỉ lệ Tỉ lệ số sinh đạt sinh chưa % % được đạt Đọc liền mạch, đảm bảo theo nội 8 33,3 16 66,7 dung đọc. Hiểu nghĩa của từ ngữ, nội dung chính của từng đoạn, nội dung của 8 33,3 16 66,7 24 bài. Bước đầu biết nhận xét về hình ảnh, 10 41,7 14 58,3 nhân vật, chi tiết trong bài đọc Đọc đúng ngữ điệu, diễn cảm 8 33,3 16 66,7 Biết nghỉ ngơi ở chỗ có dấu câu 8 33,3 16 66,7 Tốc độ khoảng 35 tiếng/1 phút 7 29,1 17 70,9 Trả lời được câu hỏi về nội dung bài 7 29,1 17 70,9 tập đó 2.2.1. Kết quả đạt được: - Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên quan tâm đến công tác dạy học cho học sinh. - Các em học sinh có ý thức học tập rất tốt. Chất lượng học tập của một số em tương đối tốt. - Giáo viên lớp 2 đa số nhiệt tình trong giảng dạy, tâm huyết, chịu khó học hỏi kinh nghiệm.
  4. 4 - Học sinh được trang bị đầy đủ đồ dùng học tập theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. - Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đến dạy học, sự phối hợp của phụ huynh với công tác giáo dục là rất tốt. 2.2.2. Những mặt hạn chế: - Học sinh chưa có nhiều hứng thú trong việc tìm hiểu thêm kiến thức tại nhà, chất lượng học tập giữa các học sinh không đồng đều. - Giáo viên chưa có nhiều phương pháp lồng ghép giáo dục hiệu quả trong các giờ học cho học sinh. - Phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục cho học sinh tại nhà. 2.2.3. Nguyên nhận đạt được và nguyên nhân hạn chế: 2.2.3.1. Nguyên nhân đạt được: * Về phía giáo viên: - Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sát, luôn quan tâm và tạo điều kiện đến việc dạy và học của giáo viên – học sinh. - Bản thân tôi may mắn được nhận công tác về Trường PTDTBT Tiểu học Trà Thanh. Là trường có nhiều thành tích cao trong nhiều mặt hoạt động và dẫn đầu trong các phong trào thi đua. - Giáo viên mạnh dạn thay đổi phương pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế của lớp, của từng học sinh. - Giáo viên giảng dạy nhiệt tình, có uy tín, có trách nhiệm cao. * Về phía học sinh: - Học sinh được chính quyền và nhà trường tạo mọi điều kiện để các em được hưởng các quyền lợi chính đáng. - Học sinh đa số ngoan, tích cực, biết lắng nghe thầy cô giáo, biết phấn đấu trong học tập. - Các em được cha mẹ trang bị đầy đủ sách vở và đồ dùng học tập phục vụ cho việc học tập.
  5. 5 2.2.3.2. Nguyên nhân hạn chế: * Về phía giáo viên: - Giáo viên chưa thực sự nhiệt tình trong công tác giảng dạy. - Một số giáo viên chưa đầu tư thời gian để hiểu được dụng ý của sách giáo khoa, chưa nắm bắt được phương pháp dạy học theo tinh thần đổi mới. * Về phía học sinh: - Tất cả các em đều là con em đồng bào dân tộc Co và sống ở vùng miền núi nên khả năng trau dồi Tiếng Việt của các em còn rất hạn chế . - Nhiều em có bố mẹ đi làm ăn xa, phải sống với ông bà nên việc tự học khi ở nhà hầu như không được chú trọng. - Học sinh không được bố mẹ thường xuyên chỉ bảo ở nhà nên thích tự làm theo ý mình, nhiều em thiếu kỹ năng tập trung. * Về phía phụ huynh: Người dân nơi đây hầu hết là đồng bào Co, đời sống nhân dân trong vùng còn rất nhiều khó khăn, sống chủ yếu dựa vào làm nông. Vì vậy mà có nhiều phụ huynh bỏ con em đi làm ăn xa, các em phải ở nhà với ông bà, nhiều em thậm chí là ở với anh chị hoặc em. Khi đó, việc giáo dục các em được giao hoàn toàn cho giáo viên. Phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến việc học của các em, chưa tạo điều kiện cho các em học tập như: dụng cụ học tập không đầy đủ, góc học tập ở nhà chưa hợp lý. Họ coi việc giáo dục học sinh là trách nhiệm của nhà trường, của các thầy các cô chứ bản thân không hề nghĩ cho tương lai của con em mình.
  6. 6 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 3.1. CĂN CỨ THỰC HIỆN: - Năm học 2021 – 2022 là một năm học đặc biệt diễn ra trong thời điểm dịch Covid 19 đã tạm lắng. Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học Trà Thanh đã thực hiện nghiêm túc các hoạt động về công tác phòng, chống dịch; tăng cường thực hiện kế hoạch năm học, triển khai dạy học tập trung, kiểm tra, đánh giá; tổ chức hoạt động dạy và học, tuyển sinh trong tinh hình mới. Có thể khẳng định, mặc dù chịu tác động sâu rộng của dịch Covid-19, nhưng nhà trường luôn cố gắng hoàn thành các nhiệm vụ, vừa tham gia tích cực trong phòng, chống dịch bảo đảm an toàn cho học sinh, giáo viên, vừa hoàn thành kế hoạch năm học, bảo đảm chất lượng giáo dục Nhà trường cũng xác định, năm học 2021 - 2022 sẽ chuyển đổi trạng thái hoạt động của đơn vị thích ứng với dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp và có thể kéo dài, gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý giáo dục, tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá. Chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch năm học 2021 - 2022 linh hoạt, phù hợp với tình hình dịch tại địa phương. - Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 (thuộc bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) biên soạn theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống được biên soạn cho tất cả học sinh phổ thông trên mọi miền của đất nước, giúp các em hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực cần có đối với người công dân Việt Nam trong thế kỉ XXI). Với thông điệp “Kết nối tri thức với cuộc sống”, bộ sách giáo khoa này được biên soạn theo mô hình hiện đại, chú trọng vai trò của kiến thức, nhưng kiến thức cần được “kết nối với cuộc sống”, bảo đảm: phù hợp với người học; cập nhật những thành tựu khoa học hiện đại, phù hợp nền tảng văn hóa và thực tiễn Việt Nam; giúp người học vận dụng để giải quyết những vấn đề của
  7. 7 đời sống: đời sống cá nhân và xã hội, đời sống tinh thần (đạo đức, giá trị nhân văn) và vật chất (kĩ năng, nghề nghiệp). Bộ Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 Kết nối tri thức với cuộc sống gồm tập 1 và tập 2. Tổng chủ biên: Bùi Mạnh Hùng; Đồng Chủ biên: Bùi Mạnh Hùng - Trần Thị Hiền Lương. Tiếng Việt 2 được chia thành 2 tập tương ứng với 2 học kì. Cấu trúc bài học chặt chẽ, rõ ràng, mạch lạc giúp dễ dạy, dễ học. Lấy điểm nhìn từ người học để xây dựng hệ thống chủ điểm (mở dần từ bản thân, gia đình, nhà trường, đến thiên nhiên, đất nước, con người v.v...). Nội dung các chủ điểm vừa mang tính truyền thống, thể hiện đậm nét văn hóa Việt Nam vừa đáp ứng nhu cầu giáo dục con người hiện đại trong bối cảnh hội nhập. Hệ thống văn bản đọc cân đối hài hoà về các kiểu loại, thể loại. Ngữ liệu tập đọc được chọn lựa kĩ càng, giàu tính nhân văn, trong sáng, thanh thoát, phù hợp với tâm lí lứa tuổi. Các mạch nội dung Đọc, Viết, Nói – Nghe, Luyện tập từ ngữ, câu, đoạn... đều kết nối với văn bản đọc một cách tự nhiên, hợp lí. Cách thiết kế tích hợp các cấu phần của một bài học giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ một cách tự nhiên và hiệu quả.
  8. 8 Trang sách thiết kế hiện đại, in 4 màu. Hình ảnh minh hoạ sinh động, bắt mắt, tạo hứng thú cho người dạy, người học. Bằng cách thiết kế bài học như vậy, sách giúp học sinh không chỉ được phát triển nhanh kĩ năng giao tiếp mà còn có cơ hội phát triển khả năng quan sát, tưởng tượng, suy luận Bộ sách khơi gợi hứng thú của người học qua những ngữ liệu đặc sắc, cách khai thác ngữ liệu sáng tạo và những hình ảnh sắc nét, sinh động. 3.2. NỘI DUNG GIẢI PHÁP VÀ CÁCH THỨC THỰC HIỆN: 3.2.1. Nội dung giải pháp: Trong hệ thống giáo dục phổ thông nói chung và ở bậc tiểu học nói riêng, Tiếng Việt là một môn học đặc biệt quan trọng, chiếm một vị trí chủ yếu trong chương trình. Nó vừa là môn học cung cấp cho học sinh một khối lượng kiến thức cơ bản nhằm đáp ứng được những mục tiêu, nhiệm vụ của từng bài học, vừa là công cụ để học tập tất cả các môn học khác. Ở nước ta, môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng, là một môn học chính , trong đó không thể không kể đến phân môn Tập đọc. Hiện nay ở một số điểm trường tiểu học việc rèn kỹ năng đọc đạt kết quả chưa cao, có thể có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân lớn nhất là phương pháp rèn đọc chưa được coi trọng, thực tế nếu không có kỹ năng đọc tốt thì học sinh không có điền kiện học các môn khác, không thể tiếp thu nền văn minh. Chính vì vậy, việc dạy đọc cho học sinh có ý nghĩa quan trọng. Thông qua môn học này góp phần đắc lực phục vụ mục tiêu đào tạo con người, con người phát triển toàn diện, có đủ đức, đủ tài tiếp cận nền khoa học kỹ thuật tiên tiến để đưa nước nhà tiến nhanh, tiến xa hơn nữa. Đối với học sinh dân tộc thiểu số thì việc rèn các kĩ năng đọc cho các em lại càng quan trọng hơn hết. Ngoài việc sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp, sau việc các em được rèn luyện kĩ hơn các kĩ năng đọc sẽ giúp các em sử dụng thành thạo tiếng Việt khi giao tiếp với thầy cô giáo, bạn bè và tất cả mọi người xung quanh. Chính vì những điều trên đã thúc đẩy bản thân tôi đi vào việc nghiên cứu đưa ra những giải pháp thiết thực, phù hợp với trình độ của học sinh dân tộc thiểu số. Cụ thể các giải pháp sau: - Giải pháp 1: Gây hứng thú trong giờ học. - Giải pháp 2: Phân loại học sinh theo trình độ đọc. - Giải pháp 3: Luyện phát âm đúng cho học sinh. - Giải pháp 4: Luyện đọc đúng trọng tâm.
  9. 9 - Giải pháp 5: Luyện đọc ngắt giọng đúng chỗ. - Giải pháp 6: Hình thành kỹ năng đọc cho học sinh qua một số phương pháp luyện đọc trong hoạt động học. - Giải pháp7: Rèn một số kỹ năng nói cần thiết cần giáo dục cho học sinh trong các hoạt động đóng vai cũng như trong thực tiễn học tập và sinh hoạt để các em đọc tốt hơn. 3.2.2. Cách thức thực hiện các giải pháp: 3.2.2.1. Gây hứng thú trong giờ học: Muốn rèn đọc tốt thì việc gây hứng thú trong tiết học là quan trọng nhất. Nhất là đối với các em học sinh nhút nhát, đọc kém, phải kích thích cho các em thích đọc. Các em thấy tiết học như một sân chơi, các em được tâm sự, được nghe, được học hỏi, được bộc lộ không gò bó, nặng nề. Việc gây hứng thú trong tiết học chính là việc đọc mẫu của giáo viên. Giáo viên phải đọc mẫu thật diễn cảm, thật có hồn trong lời đọc để lột tả được cái hay, cái đẹp của văn bản từ đó cuốn hút học sinh nghe để các em thấy được cái hay riêng trong mỗi bài văn, câu chuyện, các em sẽ thích đọc ngay, thích khám phá và thích đọc giống cô giáo. Một việc khác cũng gây hứng thú tiết học, đó là việc tổ chức tiết học dưới nhiều hình thức, phương pháp mới. Việc này đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững phương pháp, nhạy bén và sáng tạo, sử dụng linh hoạt các hình thức cho phù hợp với học sinh lớp mình. Như là: hình thức nhóm, hình thức thi đọc, hình thức đọc phân vai, tất cả tạo nên một không khí vui nhộn trong giờ học: học nhưng mà chơi. Ngoài ra tôi còn rèn đọc trong tất cả các tiết học khác, để học sinh được đọc, được nói, phù hợp với chất giọng các văn bản khác nhau. 3.2.2.2. Phân loại học sinh theo trình độ đọc: Ở rèn đọc, dựa vào việc tìm hiểu kết quả học tập của năm trước và qua kiểm tra khả năng đọc thực tế của các em, giáo viên có thể phân loại học sinh thành 3 nhóm như sau: Nhóm 1: Đọc chưa tốt (nhầm lẫn các âm từ: l thành n và ngược lại .) Nhóm 2: Đọc bình thường
  10. 10 Nhóm 3: Đọc tốt Cách rèn 3 nhóm đọc như sau: a. Đối với học sinh đọc chưa tốt: Hầu hết các em đọc chưa tốt nằm ở nhóm học sinh chưa hoàn thành, các em rất ngại đọc, thiếu tự tin, chưa có kỹ năng đọc nối tiếp, đọc theo nhóm. Tôi luôn động viên các em đọc tốt từng câu của mỗi bài, sau đó nâng lên đọc đoạn. Mặt khác khi đọc trong nhóm để các em khá kém cặp các em thấy tự tin hơn. Ngoài ra giáo viên cũng có thể kết hợp với phụ huynh mua cho các quyển truyện tranh thiếu nhi để các em đọc sẽ thấy thích hợp hơn. Học sinh kèm bạn đọc chậm trong tiết phụ đạo b. Đối với học sinh đọc bình thường: Tâm lý các em này ngại thể hiện, các em nghĩ biết đọc là được. Giáo viên cần khuyến khích như khen thưởng hoặc tuyên dương để các em mạnh dạn hơn. Ngoài ra cho các em tham gia đóng vai nhân vật trong giờ tập đọc hoặc kể chuyện để lôi cuốn các em thích đọc. c. Đối với học sinh đọc tốt: Tâm lý các em thích bộc lộ tự tin. Giáo viên cần đòi hỏi các em ở mức độ cao hơn như là đọc diễn cảm, đọc theo phân vai. Lấy các em làm nhân tố tích cực từ đó phát triển thêm các em khác.
  11. 11 Qua 6 tuần đầu thực hiện chương trình với việc làm trên, tôi thấy giờ tập đọc rất nhẹ nhàng, thoải mái. Các em rất thích học giờ này. Học sinh luyện đọc theo nhóm và đọc cá nhân 3.2.2.3. Luyện phát âm đúng cho học sinh: Đây là loại dễ thực hiện nhưng ít xuất hiện trong sách giáo khoa nên ít được giáo viên sử dụng. Hình thức có thể là tìm (gạch dưới, đóng khung, liệt kê) những từ ngữ khó đọc trong bài. Cách thực hiện : Để đổi mới cho phù hợp với tình hình năng lực thực tế học sinh của lớp, ta không nên chọn và ghi sẵn các từ ngữ khó cho học sinh luyện đọc. Và sau khi cho học sinh thực hiện, Giáo viên không đọc mẫu, yêu cầu học sinh đọc từ ngữ, câu có chứa tiếng học sinh hay mắc lỗi rồi giáo viên mới chữa, hoặc giáo viên đọc mẫu những từ ngữ, câu có chứa tiếng trong đó có âm vần học sinh hay đọc lẫn rồi yêu cầu học sinh đọc theo. Ví dụ: Ngay từ đầu kỳ I các em mới ở lớp 1 chuyển sang phần đọc còn yếu cụ thể như BÀI 9: CÔ GIÁO LỚP EM khi đọc các em hay mắc các lỗi sau: