SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng đọc thông qua việc dạy Tập đọc cho học sinh Lớp 2 theo Chương trình GDPT 2018

doc 19 trang Chăm Nguyễn 19/07/2026 360
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng đọc thông qua việc dạy Tập đọc cho học sinh Lớp 2 theo Chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_nang_cao_hieu_qua_ren_ky_nang_doc_thon.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn kỹ năng đọc thông qua việc dạy Tập đọc cho học sinh Lớp 2 theo Chương trình GDPT 2018

  1. phân môn có vị trí đặc biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kĩ năng đọc, một kĩ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc Tiểu học. Kĩ năng đọc được tạo nên từ các kĩ năng, cũng là các yêu cầu về chất lượng của “đọc” đó là: đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc), đọc diễn cảm. Các kĩ năng này được hình thành trong hai hình thức đọc là: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ trợ cùng nhau. Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực đến những kĩ năng khác. Hoạt động đọc giúp con người thu nhận được lượng thông tin nhiều nhất, nhanh nhất, dễ dàng, thông dụng và tiện lợi nhất để không ngừng bổ sung và nâng cao vốn hiểu biết, vốn sống của mình. Trong nhà trường, thông qua hoạt động đọc giúp học sinh được mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về đất nước, về cuộc sống con người, về văn hóa, văn minh, phong tục, tập quán của dân tộc trên đất nước mình và trên thế giới. Đọc các tác phẩm văn học, học sinh được bồi dưỡng về năng lực thẩm mĩ, trau dồi kĩ năng sử dụng ngôn từ, mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống. Nếu kĩ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc, hiểu được các lệnh các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác, ở lớp 2 các em được tập đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn, các em sẽ ham học, tích cực trong các hoạt động học tập. Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 Tập một có 33 bài học, được sắp xếp theo 4 chủ điểm và học trong 16 tuần, mỗi tuần 2 bài. Ngoài ra, có 1 tuần ôn giữa học kì và 1 tuần ôn tập, đánh giá cuối học kì. Tập hai có 30 bài học, được sắp xếp theo 5 chủ điểm và học trong 15 tuần, mỗi tuần 2 bài. Ngoài ra, có 1 tuần ôn giữa học kì và 1 tuần ôn tập, đánh giá cuối học kì. Các bài đọc được thiết kế theo cách tạo cơ hội cho HS tăng cường tham gia vào các hoạt động giao tiếp tự nhiên. Các nội dung được chọn lọc theo hướng tinh giản ở mức hợp lí, chú trọng dạy học tích hợp và dạy học phân hoá. Dạy Đọc có 3 phần: Khởi động trước khi đọc, Đọc VB, và Hoạt động sau khi đọc (Trả lời câu hỏi và Luyện tập theo văn bản đọc). Hệ thống câu hỏi đọc hiểu được thiết kế đa dạng. Ngoài câu hỏi tự luận theo cách truyền thống, còn có câu hỏi trắc nghiệm khách quan (áp dụng chủ yếu cho những câu hỏi có thể khó
  2. nếu HS phải trả lời theo hình thức tự luận) và câu hỏi được thiết kế kèm tranh minh hoạ, HS vừa phải hiểu VB vừa phải hiểu nội dung tranh để trả lời. Sau khi đọc VB, ngoài hoạt động chính là trả lời câu hỏi, HS còn có thể luyện từ, luyện câu và thực hành một số nghi thức lời nói được quy định trong chương trình. Đối với VB đọc là thơ thì sau khi đọc VB còn có hoạt động học thuộc lòng một hai khổ thơ. Tiết Đọc trong môn Tiếng Việt còn có nhiệm vụ đó là: Làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức vừa học cho học sinh, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh, giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh. Xuất phát từ mục đích đó mà trong từng môn học, tiết học, cần phải biết vận dụng, kết hợp, đưa vào phương pháp dạy học sao cho phù hợp. Đây là vấn đề thiết thực hưởng ứng cuộc vận động sâu rộng trong toàn ngành về đổi mới phương pháp dạy học ở các trường Tiểu học. Trong giai đoạn hiện nay, đọc là một kỹ năng quan trọng đối với tất cả học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng. Đặc biệt, học sinh lớp 2 đang là những đối tượng trực tiếp theo học Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018, một chương trình học có những thay đổi tích cực và được thiết kế theo hướng mở. Vì vậy, dạy đọc có ý nghĩa rất quan trọng. Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở. Làm thế nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Yêu cầu cần đạt mà Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng tới? Bản thân tôi luôn cố gắng để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh của lớp mình. Trong quá trình thực hiện tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau: a. Thuận lợi: - Ngay từ đầu năm học, được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo về chuyên môn. Ban giám hiệu chỉ đạo xây dựng chuyên đề để Giáo viên nắm vững phương pháp, quy trình dạy Đọc theo hướng đổi mới. - Giáo viên có đầy đủ SGK, sách giáo viên, tài liệu tham khảo, đặc biệt có những bài giảng điện tử, các video dành cho môn Tiếng việt gây hứng thú cho học sinh và giáo viên không mất thời gian, kinh phí chuẩn bị. - Bản thân luôn chủ động trong việc lựa chọn các phương pháp, hình thức dạy học phù hợp đối với học sinh, giảng dạy nhiệt tình, có ý thức trách nhiệm với học sinh. - Học sinh đa số là con em thuộc địa bàn dân cư gần trường, dễ liên lạc và phối hợp cùng phụ huynh giáo dục con em. - Học sinh ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô giáo, một số em tiếp thu nhanh, có sự chủ động trong học tập và ý thức giúp đỡ bạn học tập.
  3. - Phần lớn phụ huynh học sinh quan tâm đến việc học của con em. b. Khó khăn: - Do ảnh hưởng phương ngữ một số em, cách phát âm tùy tiện theo thói quen nói tiếng địa phương... - Một số em còn nói ngọng, phát âm chưa chuẩn và chưa thực sự chú ý đến lời nói trong giao tiếp hàng ngày. - Để hiểu được thực tế việc đọc của các em đang ở mức độ nào, các em còn vướng mắc ở đâu, tôi đã khảo sát kỹ năng đọc của học sinh kết quả khảo sát chất lượng đầu năm học như sau: + Lớp 2D sĩ số: 46 học sinh Kết quả khảo sát chất lượng đọc đầu năm: Sĩ số HS Khả năng Số học sinh Đọc hay, lưu loát 16 em 46 Đọc đúng 20 em Đọc ê a 07 em Đọc đánh vần từng chữ 03 em Thực tế tôi nhận thấy rằng có một số học sinh phát âm sai, phổ biến là sai các phụ âm đầu vần và dấu thanh. Trong đó phổ biến là các phụ âm đầu như: l/n và các dấu thanh hỏi, ngã. Ngoài ra, các em đọc còn đều đều, chưa biết thể hiện lên giọng hoặc hạ giọng, nhiều em khi còn kéo dài giọng mỗi khi đọc. Cụ thể, các lỗi học sinh thường mắc là: - Đọc sai phụ âm đầu: Ví dụ: l/n: nắng/lắng; nép/lép. - Đọc nhầm, lẫn lộn các dấu thanh: Ví dụ: thanh hỏi/ thanh ngã: những/nhửng; bỡ ngỡ/bở ngở - Đọc bớt tiếng hoặc thêm tiếng. - Đọc không biết ngắt giọng, nhấn giọng phù hợp. - Đọc phân vai còn lúng túng. - Đọc mà không hiểu nội dung. 2. Các biện pháp thực hiện: 2.1. Biện pháp 1: Khảo sát phân loại học sinh để xác định biện pháp rèn luyện phù hợp Việc trước tiên, ngay đầu năm học, tôi gặp gỡ với giáo viên chủ nhiệm năm lớp 1 trao đổi để nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý và khả năng đọc của từng em. Tiếp đó, tôi tiến hành kiểm tra các em về đọc thành tiếng và đọc hiểu kiến
  4. thức trong bài để nắm rõ từng đối tượng, từng nhóm học sinh. Từ đó, tôi phân loại học sinh, xác định biện pháp rèn luyện cho riêng từng em, từng nhóm. Cụ thể: Nhóm thứ nhất: Gồm những em đọc to, rõ ràng, lưu loát. Những em này thường rất tự tin, mạnh dạn trình bày trước lớp, tích cực giúp bạn nên trong mỗi giờ học, tôi thường giao nhiệm vụ cao hơn như đọc diễn cảm hay đọc phân vai. Tôi lấy các em đó làm nhân tố điển hình để nêu gương cho các bạn trong lớp. Nhóm thứ hai: Gồm những em chưa thực hiện được xuất sắc các kỹ năng, năng lực, phẩm chất như các em của nhóm một. Có thể các em đọc to nhưng chưa lưu loát, hoặc đọc trôi chảy nhưng còn nhỏ . Cũng có thể kỹ năng đọc tốt nhưng thường nhút nhát hoặc ngại thể hiện nơi đông người.... Do đó, giáo viên cần có sự khích lệ và khen ngợi để các em bạo dạn thoát ra khỏi vòng an toàn. Nhóm thứ ba: Gồm các em còn gặp khó khăn khi đọc bài. Các em còn phải đánh vần, đọc ê a kéo dài... thực sự nhút nhát, rụt rè trong mọi hoạt động, không dám thể hiện hành vi, lời nói trước đông người. Giáo viên cần quan tâm đặc biệt, dành thời gian, thường xuyên khích lệ động viên, tránh việc chê trách khiến các em càng tự ti, chán học. Với những em này, tôi đã sắp xếp ngồi cùng em đọc tốt để có sự hỗ trợ của bạn, giúp nhau tiến bộ. Hình ảnh đôi bạn cùng tiến Sau khi khảo sát các em trong lớp tôi đã đưa ra những phương pháp cụ thể để áp dụng với các học sinh trong lớp. Qua quá trình áp dụng phương pháp này học sinh lớp tôi có hứng thú học môn tiếng việt hơn các em đọc lưu loát, đọc đúng hơn, số em đọc ngắc ngữ giảm xuống rõ rệt.
  5. Khi nắm được nội dung bài, các em sẽ cảm nhận và thể hiện đọc văn bản một cách hiệu quả nhất. Đó cũng là mục tiêu cần đạt của việc dạy đọc đối với học sinh lớp 2 theo Chương trình GDPT 2018. 2.2. Biện pháp thứ hai: Rèn kĩ năng đọc cho học sinh qua nhiều hình thức. Để giúp phát huy được hiệu quả của các biện pháp trên, việc tích hợp dạy học đọc trong tất cả các phân môn khác là vô cùng cần thiết. Trong các môn học khác, tôi luôn cho các em đọc tựa bài, yêu cầu hay kết luận bài học. Học sinh cần đọc đúng, đọc tốt thì mới có thể học tốt các môn học khác được. Bởi vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần cho học sinh vận dụng tối đa kĩ năng đọc để các em càng có thêm cơ hội rèn luyện cho việc đọc. Dạy học tích hợp cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản trong giảng dạy Tiếng Việt nói chung và các môn học khác nói riêng. Điều này giúp các em được rèn luyện thêm kĩ năng và qua đó chất lượng học tập của các em cũng được củng cố và nâng cao. 2.2.1. Sử dụng phương pháp trực quan: Phương pháp này phù hớp với tư duy, Tâm lý lứa tuổi ở bậc tiểu học. Phương pháp trực quan là giáo viên đưa ra những bức tranh minh họa hoặc bằng vật thật cho từng bài để phục vụ trong quá trình dạy và rèn đọc cho học sinh, kết hợp đọc hiểu và đọc diễn cảm. + Các hình thức trực quan. - Giọng đọc mẫu của giáo viên: Đây là một hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả đáng kể, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc. Giáo viên đọc mẫu phải tốt, diễn cảm để học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài Tập đọc. Trong quá trình đọc mẫu giáo viên biết sử dụng các thủ pháp ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ, dùng ngữ điệu, nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả đó gửi gắm vào bài đọc đó. Từ đó giúp học sinh thấy sôi nổi, hào hứng tham gia vào việc tìm hiểu, khám phá bài đọc hơn và học sinh có ý thức đọc diễn cảm tốt hơn. - Luyện đọc từ khó: Khi hướng dẫn học sinh phát âm giáo viên phân tích cho các em thấy được sự khác biệt giữa cách phát âm đúng và cách phát âm sai giữa các phụ âm dễ lẫn. Đối với học sinh tiểu học tôi phải hướng dẫn học sinh thật tỉ mỉ, cụ thể có như vậy thì các em mới áp dụng đọc thực hành tốt được. Khi phát âm nó như thế nào? Giáo viên phải làm mẫu trực tiếp cho học sinh quan sát. Ngoài hình thức trên tôi còn ghi các từ khó luyện đọc bằng phấn màu lên bảng (bảng phụ ). Tôi
  6. chỉ dùng phấn màu ghi các phụ âm, vần khó làm nổi bật các phụ âm, vần khó trong các từ luyện đọc để các em được nhìn bằng mắt, tập phát âm bằng miệng, được nghe và có thể viết bằng tay vào bảng con, có như vậy các em sẽ nhớ lâu và đọc đúng. Học sinh yếu đọc sai phụ âm, sai vần cần luyện nhiều và yêu cầu học sinh phân tích từ có tiếng có vần mà các em hay đọc sai. - Luyện đọc Đoạn - Bài. Kết hợp với việc đọc phát âm đúng tiếng từ phụ âm đầu tôi còn rèn cho học sinh biết ngắt nghỉ đúng dấu chấm, dấu phẩy đọc, lưu loát. Đây là yêu cầu trọng tâm của học sinh lớp 2. Khi học sinh đọc giáo viên phải theo dõi tững chữ không để cho các em đọc kéo dài ê-a, đối với học sinh yếu phần luyện đọc chưa đạt yêu cầu các em dùng bút chì đánh dấu vào sách giáo khoa để đọc cho đúng. Trong các giờ tập đọc tôi chép đoạn văn hoặc đoạn thơ dài khó đọc vào bảng phụ để hướng dẫn học sinh cụ thể từng câu, từng đoạn cách đọc như thế nào? Nhấn giọng ở từ nào? Qua biện pháp này sẽ giúp học sinh phân biệt cách đọc và nhớ rất lâu. Đặc biệt là những em đọc yếu thì rất hiệu quả rất rõ rệt. 2.2.2. Rèn kĩ năng luyện đọc thầm: * Mục tiêu: Giúp học sinh có ý thức tập trung cao để theo dõi bài đọc, bước đầu học sinh hiểu được nội dung bài. * Cách tiến hành: - Yêu cầu tất cả học sinh theo dõi vào bài, đọc phải đầy đủ các tiếng trong câu ( lưu ý không đọc lướt ). - Yêu cầu học sinh đọc thầm bằng mắt, học sinh tập bỏ dần thói quen đọc thành tiếng lầm rầm. - Giao câu hỏi gắn với nội dung đoạn, bài đọc. - Khi đọc cố gắng không dùng ngón tay hay que tính để chỉ vào từng chữ, dòng trong sách. - Kiểm tra đọc thầm của các em tôi đã tiến hành kiểm tra bằng cách yêu cầu các em trả lời câu hỏi nội dung của đoạn vừa đọc đến đâu rồi. Nếu học sinh đọc thầm tốt thì các em sẽ hiểu được nội dung của đoạn đó và trả lời các câu hỏi tốt hơn. Đối với học sinh yếu tôi thường xuyên quan tâm và giúp đỡ các em bằng cách: - Lưu ý hơn trong các tiết học. - Thường xuyên uốn nắn việc phát âm sai.
  7. - Giúp học sinh đọc dứt khoát hơn từng cụm từ trong câu ngắn (Với câu dài tôi hướng dẫn học sinh vạch nhịp bằng bút chì vào sách giáo khoa﴿ để các em ngắt nghỉ hơi đúng chỗ. - Đề ra yêu cầu đọc ở nhà có vậy thì buộc học sinh đọc lại những từ, cụm từ, câu chưa trôi chảy để hôm sau giáo viên kiểm tra xem các em đọc đã đạt yêu cầu chưa. - Bố trí những em học sinh khá, giỏi vào cùng nhóm để kèm cặp. * Kết quả: Qua biện pháp này sẽ giúp học sinh nhớ bài, hiểu nội dung bài hơn. 2.2.3. Tổ chức trò chơi trong giờ đọc. * Mục tiêu: Tạo không khí lớp học vui tươi, thoải mái giúp học sinh hứng thú, yêu thích giờ đọc. * Cách tiến hành: - Thi đọc đúng các từ, cụm từ có các phụ âm hay mắc lỗi khi đọc. - Thi đọc nối tiếp đoạn văn, khổ thơ trong bài học thuộc lòng. - Thi tìm các từ còn thiếu trong đoạn văn, thơ. Khi chơi trò chơi tất cả các đối thượng học sinh trong lớp đều được chơi kể cả học sinh yếu cũng được chọn tham gia để các em cũng được hòa nhập và giúp các em học tập có ý thức hơn. Ví dụ: Bài “Mẹ” tuần 15 Trò chơi trong phần luyện đọc cuối bài được tiến hành như sau: * Đối với học sinh đọc hay mắc lỗi phát âm: + Chia lớp thành 2 đội chơi, mỗi đội 2 em (dành cho các em học sinh yếu, phát âm sai các phụ âm l, n, tr, ch) + Mỗi em đọc một khổ thơ. + Cử một ban giám khảo gồm 2 em để giám sát 2 đội đọc. + Giám khảo nhận xét, đánh giá chỉ ra lỗi sai của từng bạn ở mỗi đội + Giáo viên nhận xét chung chỉ ra ưu nhược điểm, sửa sai trực tiếp cho từng em bằng cách cho đọc lại các từ phát âm sai. * Đối với học sinh khá, giỏi: Tổ chức dưới hình thức thi đọc diễn cảm + Mỗi lần thi đọc gồm 2 em đọc cả bài thơ + Cử ban giám khảo 2 em theo dõi đánh giá nhận xét bình chọn bạn đọc tốt nhất. + Giáo viên nhận xét góp ý cho từng em về giọng đọc, cách ngắt nhịp, tốc độ đọc, tuyên dương các em. * Kết quả: Đây là phương pháp mà được tôi áp dụng xuyên suốt trong các tiết học. Tôi nhận thấy, học sinh cả lớp đều hứng thú và chú ý hơn qua các trò chơi.
  8. Từ đó, giúp các em có sự tập trung, lắng nghe từ các bạn, được tham gia học tập và có cơ hội thể hiện bản thân. 2.2.4. Tích hợp rèn kĩ năng đọc trong các môn học khác. * Mục tiêu: Để giúp phát huy được hiệu quả của các biện pháp trên, việc tích hợp dạy học đọc trong tất cả các phân môn khác là vô cùng cần thiết. * Cách tiến hành: - Tích hợp rèn kĩ năng đọc trong môn Toán, nhất là dạng bài toán có lời văn, trước hết học sinh phải đọc được thông thạo thì mới có thể hiểu được nội dung mà đề bài yêu cầu, để giúp các em làm tốt được điều này tôi đã phải hướng dẫn các em đọc kĩ đề bài để học sinh xác định được câu hỏi của đề bài. Từ đó giúp các em có kỹ năng đọc cũng như làm được bài toán tốt hơn. Ví dụ bài toán: Bác Hùng thu hoạch được 678 kg thóc nếp. Bác Tiến thu hoạch được ít hơn bác Hùng 35 kg thóc nếp. Hỏi bác Tiến thu hoạch được bao nhiêu ki – lô – gam thóc nếp? - Với môn Âm nhạc điều đầu tiên trước khi hát thì học sinh phải đọc được lời bài hát. Sau đó đọc lời của bài hát theo giai điệu của bài, học sinh sẽ thực hiện hát được đúng và hay. Ví dụ: Bài hát Chim chích chòe. - Với môn Tự Nhiên và Xã hội tôi luôn cho các em đọc tựa bài, yêu cầu hay kết luận sau mỗi bài học. Học sinh cần đọc đúng, đọc tốt thì mới có thể học tốt các môn học khác. * Kết quả: Dạy học tích hợp cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản trong giảng dạy Tiếng Việt nói chung và các môn học khác nói riêng. Điều này giúp các em được rèn luyện thêm kĩ năng và qua đó chất lượng học tập của các em cũng được củng cố và nâng cao. 2.3. Biện pháp thứ ba: Hướng dẫn học sinh cách ngắt nghỉ hơi và cách đọc liền mạch. * Mục tiêu: Giúp học sinh biết cách đọc ngắt nghỉ hơi và cách đọc liền mạch phù hợp với bài thơ hoặc một văn bản đọc. * Cách tiến hành: Hướng dẫn học sinh cần nghỉ hơi ở những chỗ có dấu kết thúc câu hoặc dấu ngăn cách các bộ phận câu với nhau (dấu chấm, dấu hỏi, chấm than, hai chấm, gạch ngang) Khi gặp những dấu này, người đọc cần nghỉ một quãng bằng khoảng thời gian phát âm một tiếng. Trong trường hợp kết thúc câu đồng thời kết thúc một đoạn để xuống dòng, quãng nghỉ sẽ dài gấp đôi.
  9. - Khi đọc gặp dấu phẩy thì ngắt hơi ít hơn dấu chấm một chút bằng thời gian ngắt hơi một dòng thơ. - Gặp dấu ba chấm ( ) thì nghỉ lâu hơn dấu chấm, bằng nghỉ khi gặp dấu chấm xuống dòng. + Đưa ra các quy định về ký hiệu: / ngắt hơi; // nghỉ hơi; – nhấn giọng; lên giọng. Dạy học Đọc cho học sinh tiểu học với các văn bản đọc có câu dài, khó đọc là một vấn đề không phải giáo viên nào cũng xử lí tốt. Chúng ta thử xem một số ví dụ ngắt, nghỉ khi đọc của học sinh sau đây: - “ Chúng tớ/ giúp các bạn/ có trí tưởng tượng/ phong phú,/ khả năng sáng tạo và tính kiên nhẫn.//” (Đọc: Tớ là Lê – gô – TV2 – tập 1) – Học sinh đọc. Ta thấy rằng có nhiều chỗ học sinh ngắt, nghỉ chưa đúng mà thường thì giáo viên không chú ý sửa chữa, uốn nắn cho các em. Nguyên nhân là do giáo viên chưa làm thật triệt để việc dạy học sinh đọc ngắt, nghỉ ở những vị trí không có dấu câu hoặc cũng có khi giáo viên chưa nghiên cứu kỹ để xác định được đúng chỗ ngắt, nghỉ. Khi học sinh đọc bài, ta nghe không thấy thoát ý, không thể hiện được tình cảm, cảm xúc của bài học có khi sai nghĩa của từ, sai nội dung muốn thông báo. Đặc biệt, nếu học sinh đọc đồng thanh thì nghe rất ngang tai. Khi đọc các câu văn nên trên, cần sửa lại cách ngắt hơi như sau: - “ Chúng tớ giúp các bạn/ có trí tưởng tượng phong phú,/ khả năng sáng tạo/ và tính kiên nhẫn.//” Để xác định đúng cách ngắt, nghỉ trong câu dài, khi đọc chúng ta nên căn cứ vào những đặc điểm sau: - Ý nghĩa của các từ, cụm từ trong câu và ý nghĩa của các câu văn. - Diễn biến nội dung câu chuyện (Bài đọc). - Đặc điểm, tính cách, thái độ, tình cảm, lời nói nhân vật. - Diễn biến tâm lí, cảm xúc khi đọc. Như vậy, ngoài việc ngắt, nghỉ ở các dấu câu, còn có các trường hợp ngắt, nghỉ như: - Ngắt, nghỉ tâm lí. - Ngắt, nghỉ theo nghĩa. - Ngắt, nghỉ tình huống. Ngắt nghỉ hơi phải kết hợp tốt với nhấn giọng, ngân giọng khi đọc thì mới có thể đọc đúng, đọc hay được. Ngắt, nghỉ đúng là một yêu cầu về kỹ thuật đọc, nó chính là một điều quan trọng để đọc diễn cảm và cảm thụ các bài đọc. Vì vậy, dạy học sinh đọc diễn cảm, trước hết phải dạy học sinh ngắt, nghỉ đúng khi đọc, đặc biệt là với những câu văn dài khó đọc. Đối với các bài thơ, bài văn cần
  10. hướng dẫn học sinh nghỉ hơi kết hợp liền lấy hơi để đọc tiếp, không sẽ bị nhát gừng. Ở các mức độ bước đầu nhẹ nhàng, giáo viên cần lưu ý học sinh cách nhấn giọng một số từ ngữ gợi tả, gợi cảm khi đọc văn bản: Ví dụ: Trong đoạn thơ sau theo tôi nên nhấn giọng ở những từ ngữ sau: “Tôi ngậm ánh nắng sớm/ Tôi uống giọt sương mai/ Tôi sống qua bão lũ/ Tôi chịu nhiều thiên tai.//” (Hạt thóc- Tiếng Việt 2, tập 2) Nhấn giọng như vậy giúp học sinh hiểu được những khó khăn mà hạt thóc đã phải trải qua. Song việc hướng dẫn học sinh nhấn giọng không có nghĩa là làm cho học sinh cứ thấy chữ nào gạch dưới thì đọc to chữ ấy lên trong khi chỉ cần phát âm mạnh hơn hoặc ngân dài hơn hoặc có khi phải đọc cho hơi không thoát ra là được. Điều này giáo viên cần hết sức thận trọng, nhất là đối với trẻ lớp 2 – vốn hiểu biết từ ngữ của các em còn hạn chế. Các em cần phân biệt rõ thế nào là nhấn giọng. * Cần lưu ý đọc đoạn: - Đối với bài văn hay bài thơ dài, giáo viên chủ động chia đoạn cho học sinh luyện đọc. Gọi những học sinh khá giỏi đọc trước cho học sinh nhận xét nhanh rồi luyện đọc theo nhóm. Cũng có thể cử đại diện của các tổ đọc mẫu, sau đó chuyển sang đọc đoạn trong nhóm. Yêu cầu học sinh đọc nhóm cần lưu ý luyện đọc đúng theo cô đã hướng dẫn, giúp bạn trong nhóm sửa chỗ còn đọc sai. - Ngoài cách hướng dẫn học sinh cách ngắt, nghỉ giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc liền mạch các cụm từ để tránh đọc tự do, nhát gừng. Ví dụ: “ Lời ru/ có gió mùa thu/ Bàn tay mẹ quạt/ mẹ đưa gió về.//” Thì học sinh hay đọc “Bàn tay/ mẹ quạt” và “ mẹ đưa gió về” nên giáo viên hướng dẫn học sinh đọc liền mạch “Bàn tay mẹ quạt” ngắt hơi rồi đọc đoạn tiếp “ mẹ đưa gió về”. * Kết quả: Thông qua biện pháp này đã giúp học sinh biết cách nghỉ hơi khi đọc và cách đọc liền mạch.
  11. 2.4. Biện pháp thứ tư: Động viên khen thưởng học sinh kịp thời. * Mục tiêu: Giúp học sinh tiến bộ, tự tin, hứng thú trong học tập và rèn luyện. * Cách tiến hành: Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài. Đối với học sinh giỏi – khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn. Còn đối với học sinh trung bình – yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhiều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy, tôi còn thường xuyên mời các em lên đọc mẫu cho cả lớp. Những ngày đầu thì chỉ vài ba em, nhưng dần dần rất nhiều em đã chăm chỉ đọc bài ở nhà và mạnh dạn đọc mẫu cho cả lớp vì các em được khen giỏi, chăm chỉ học bài ở nhà. Đối với các em đọc yếu, trung bình tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Đầu mỗi buổi học tôi sẽ phân các em đọc tốt kiểm tra bài đọc của các em. Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp để các em thích thú và cố gắng hơn. Khen thưởng, khích lệ bằng những lời khen, lời động viên là món ăn tinh thần không thể thiếu với các em trong bất kì buổi học nào. Hình ảnh động viên khen thưởng * Kết quả: Qua biện pháp này học sinh sẽ có thêm động lực để các em ngày một cố gắng và tiến bộ hơn trong học tập.