Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại Trường Mầm Non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại Trường Mầm Non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_chi_dao_nham_nang_cao.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại Trường Mầm Non
- PHẦN A - ĐẶT VẤN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết: Ngành học mầm non là ngành học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, “Ngành học có nhiệm vụ thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”. Nếu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tốt, trẻ sớm phát triển thể chất và trí tuệ một cách đúng hướng và mạnh mẽ. Nó là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong sự hình thành và phát triển tất cả các khả năng của trẻ , hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em cũng đã nêu rõ: “Sức khoẻ của trẻ em hôm nay là sự phồn vinh cho xã hội mai sau”. Để đáp ứng với những yêu cầu phát triển đi lên của đất nước trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục của bậc học mầm non đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ ” Trong những năm gần đây Đảng và nhà nước rất quan tâm đến GD&ĐT. Nghị quyết TW II Khoá VIII của Đảng đã khẳng định: "GD Là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD là đầu tư cho sự phát triển" Mục tiêu của GD MN là chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ vì trẻ là hạnh phúc của gia đình là tương lai của đất nước là lớp người kế tục và xây dựng đất nước. Như vậy, có thể nói: Đảng và nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đến việc chăm sóc sức khoẻ trẻ em và xem việc nâng cao sức khoẻ cho trẻ em là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển con người. Trong những năm qua bậc học mầm non đã tổ chức tập huấn rất nhiều lớp chuyên đề về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non. Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng bảo vệ sức khoẻ cho trẻ. Chính vì vậy, đối với con người nói chung, trẻ mầm non nói riêng muốn tham gia các hoạt động được tốt thì điều đầu tiên nói đến phải có sức khỏe tốt, đặc biệt sức khỏe của trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chế độ chăm sóc dinh dưỡng hợp lý, vệ sinh phòng bệnh, môi trường hoạt động của trẻ trong đó: chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất của trẻ, chế độ dinh dưỡng hợp lý là trẻ được ăn uống đủ chất, cân đối giữa các chất như: Chất đạm – Chất béo – chất bột đường - vitamin và chất khoáng. Nếu trẻ thiếu ăn, ăn không đủ các chất, không hợp lý, vệ sinh cá nhân, môi trường không tốt đều gây cho trẻ bệnh tật, ốm đau ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, do vậy công tác chăm sóc – nuôi dưỡng ở trường mầm non chiếm một vị 2/20
- trí vô cùng quan trọng vì ở lứa tuổi này trẻ được ăn ngủ, học cả ngày ở trường và đây cũng là giai đoạn để cơ thể trẻ phát triển tốt nhất, các cơ quan của cơ thể đang trên đà hoàn thiện và hình thành nhân cách của trẻ tốt nhất của cuộc đời, đồng thời đây cũng là thời kỳ chuẩn bị những kiến thức cơ bản cần thiết cho trẻ bước vào bậc học phổ thông một cách vững chắc nhất. Song thực tế hiện nay vẫn còn một số giáo viên và phụ huynh chưa quan tâm đúng mức đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. kiến thức nuôi dạy trẻ còn hạn chế, do đó tình trạng trẻ bị suy dinh dưỡng, béo phì, thấp còi và mắc một số loại bệnh như: viêm phế quản, sâu răng còn quá nhiều. Với tầm quan trọng đó đòi hỏi người giáo viên, nhân viên phải có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có phẩm chất đạo đức như một người mẹ yêu con. Họ chính là lực lượng lao động trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường. Đối với vai trò là một Người cán bộ quản lý thì phải biết phát huy được nội lực đội ngũ, tạo điều kiện cho họ được cống hiến sức mình, biết động viên khích lệ và xây dựng các phong trào thi đua thương xuyên, có hiệu quả cao. Đồng thời xây dựng khối đoàn kết để tạo nên sức mạnh tổng hợp của một tập thể sư phạm , xây dựng nhà trường phát triển vững mạnh. Chính vì vậy, năm học 2022 - 2023 tôi đã chọn cho mình đề tài đi sâu vào nghiên cứu. Đó là “Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non” II. Thời gian, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: + Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 2 năm 2023 + Đối tượng nghiên cứu: “Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non” + Phạm vi nghiên cứu: Trường mầm non Trung Mầu – Huyện Gia Lâm Trong đó: - Tổng số trẻ: 320 trẻ/ 10 lớp ( Theo số liệu tuyển sinh) - Tổng số giáo viên: 20 đ/c. - Tổng số nhân viên: 12 đ/c (trong đó:06 đ/c nhân viên nuôi dưỡng; 01 đ/c nhân viên y tế; 01 đ/c văn thư; 01 đ/c kế toán; 03 đ/c bảo vệ) 3/20
- PHẦN B - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục đào tạo. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo. Chương trình giáo dục mầm non thể hiện được mục tiêu giáo dục mầm non: Cụ thể hoá các yêu cầu về công tác nuôi dưỡng chăm sóc trẻ ở từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ, trí tuệ; hướng dẫn cách thức đánh giá phát triển của trẻ ở lứa tuổi mầm non. Do đó cha, mẹ và những người làm công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ mầm non phải xác định được vị trí, vai trò, nội dung và nhiệm vụ của mình trong công nuôi dưỡng chăm sóc trẻ, phải làm thế nào để phát triển toàn diện về các mặt : “Thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội, thẩm mỹ”, tạo điều kiện cho trẻ phát huy khả năng sáng tạo của mình có những thói quen hành vi tốt hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa: Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối. Để thực hiện được điều đó người quản lý phải có những biện pháp đổi mới trong công tác quản lý, chỉ đạo các hoạt động một cách khoa học và có hiệu quả, phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của nhà trường. Trong quá trình thực hiện tôi đã gặp phải những thuận lợi, khó khăn như sau: II. Thực trạng vấn đề 1.Đặc điểm chung. Năm học 2022 – 2023 trường có đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh như sau: Tổng số CBGVNV: 35 người. Trong đó : + BGH: 03 người + Giáo viên: 20 người + Nhân viên: 12 người - Tổng số học sinh: 320 trẻ Trong đó : NT: 50 trẻ ; MG: 270 trẻ - Tổng số nhóm lớp : 10 nhóm lớp. Trong đó: + MG lớn : 03 lớp + MG nhỡ: 02 lớp + MG bé : 03 lớp + Nhà trẻ : 02 lớp 2. Thuận lợi - Nhà trường luôn nhận được sự quan tâmcủa các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời của Phòng GD&ĐT. - Bản thân được phân công phụ trách công tác CSND 4 năm liền nên có kinh nghiệm trong công tác quản lý nuôi dưỡng. 4/20
- - Đội ngũ NVND đều đạt trình độ cao đẳng nấu ăn, có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình trong công việc, năng động, sáng tạo. - Nhân viên y tế có trình độ chuyên môn, tâm huyết, trách nhiệm. - Đồng chí kế toán nhanh nhẹn, ham học hỏi. - 100% giáo viên có trình độ chuyên môn chuẩn và trên chuẩn, có bề dày kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, yêu trẻ. - Trường được đầu tư xây dựng mới nên hệ thống bếp ăn của trường đảm bảo đúng quy định bếp 1 chiều, được trang cấp đầy đủ các thiết bị hiện đại như: Hệ thống bếp nấu bằng điện, tủ cơm điện, tủ sấy bát, chạn khử khuẩn, tủ hấp khăn, máy xay sinh tố, máy cắt củ quả, tủ lạnh dung tích lớn.... Bên cạnh đó nhà trường cũng trang bị thêm nhiều đồ dùng, dụng cụ đảm bảo mĩ quan và an toàn khi sử dụng như: Bộ nồi inox chia cơm, canh, thức ăn, đa số rổ, rá, chậu bằng inox, bộ dao thớt mới... - Mỗi trẻ đều được trang bị đủ đồ dùng cá nhân riêng như: Khăn, ca, bát, thìa, chăn, gối, giường ngủ... - Sử dụng hoàn toàn bằng nước sạch của nhà máy để nấu ăn và dùng trong sinh hoạt cho trẻ . - Thực đơn cho trẻ được xây dựng đa dạng, phong phú, phù hợp theo lứa tuổi chia tách tuần chẵn, tuần lẻ riêng và được thay đổi theo mùa. - Có diện tích đất rộng thuận lợi cho việc tăng gia làm vườn tạo nguồn rau sạch tại chỗ cho trẻ. - Khẩu phần ăn cho trẻ được cân đối trên phần mềm dinh dưỡng nên đa số ngày đảm bảo được định lượng calo cũng như tỉ lệ các chất. - 100% học sinh ăn bán trú tại trường. - 100% Trẻ được khám sức khỏe 2 lần/năm, cân đo, thoe dõi biểu đồ tăng trưởng 3 lần/năm. - Thực hiện tốt trong công tác phối hợp với trạm y tế xã để khám sức khỏe định kỳ cho trẻ. - Nhà trường ký hợp đồng với 1 công ty cung cấp thực phẩm nên đảm bảo thuận tiện cho việc kiểm soát chất lượng thực phẩm và dễ dàng trong việc đổi trả, thêm bớt thực phẩm sau khi đi chợ. - Đa số giáo viên, nhân viên trẻ ứng dụng tốt CNTT nên thuận tiện cho công tác triển khai ứng dụng CNTT trong chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. 3. Khó khăn - Trường có 2 điểm cách xa nhau hơn nên khó khăn cho việc vận chuyển thức ăn cho trẻ. 5/20
- - Đồng chí tổ trưởng tổ nuôi lớn tuổi nên khó khăn trong vấn đề tiếp cận CNTT. - Mức tiền ăn cho trẻ còn thấp nên khó khăn trong công tác xây dựng, cân đối thực đơn. - Giá cả thị trường luôn thay đổi, ảnh hưởng đến giá lương thực, thực phẩm để tổ chức bữa ăn cho trẻ đủ về chất, đảm bảo về lượng. - Bên cạnh đó còn một số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng theo khoa học của con mình ở gia đình cũng như nhà trường. * Số liệu điều tra. Qua kết quả cân đo, khám sức khỏe cho 300 trẻ khi vào trường đầu năm học 2022 -2023 tôi thấy tình hình sức khỏe trẻ như sau: Tổng số trẻ được cân, đo, khám sức khỏe: 300/300 = 100% Cân đo Khám sức khỏe Suy Trẻ Trẻ Trẻ mắc Kênh Béo Thấp dinh mắc mắc bệnh BT phì còi dưỡng TMH RHM khác Số lượng 280 12 8 18 109 92 4 Tỉ lệ % 93 4% 2.6% 6% 36% 30% 1.3% Kết quả trên ta thấy tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng và mắc các loại bệnh đầu năm còn rất cao. III. Các biện pháp thực hiện 1. Biện pháp 1:Phối hợp chỉ đạo xây dựng “Trường học Hạnh Phúc”, “Bếp ăn Hạnh phúc” Thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4/11/2013 của BCH Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đồng thời xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của giáo dục trong bối cảnh hiện nay, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã ban hành kế hoạch số 102/KH-CĐN ngày 02/4/2019 về nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức cán bộ, nhà giáo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới hướng tới xây dựng“Trường học hạnh phúc”. Xây dựng “Trường học hạnh phúc” là xây dựng một môi trường có chất lượng quản lý và đào tạo tốt; có môi trường làm việc và học tập tích cực; là nơi đầy ắp yêu thương, an toàn, tôn trọng, có đạo đức và kỷ luật tốt. Các tiêu chí quy định về trường học hạnh phúc Mô hình Trường học hạnh phúc lấy cảm hứng từ mô hình Happy School của UNESCO (Tổ chức Giáo dục khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc). Theo đó, UNESCO xác định 22 tiêu chí để tạo ra những gì họ xem là Trường học hạnh phúc. 22 tiêu chí này xoay quanh 3 chữ P. Chữ P đầu tiên là People (con người), 6/20
- gồm các tiêu chí: tình bạn và các mối quan hệ trong cộng đồng nhà trường, thái độ tích cực của giáo viên, tôn trọng sự đa dạng và khác biệt của các cá nhân, sự tích cực và hợp tác giữa các thành viên trong nhà trường, điều kiện làm việc của giáo viên, kỹ năng và năng lực của giáo viên. Chữ P thứ 2 là Process (Hệ thống), bao gồm các yếu tố như: khối lượng công việc hợp lý và công bằng, tinh thần hợp tác và làm việc nhóm, phương pháp giảng dạy và học tập hấp dẫn, học tập tự do, sáng tạo Đây là các quy trình, chính sách, hoạt động được thiết kế để vận hành ngôi trường một cách hợp lý. Chữ P thứ ba là Place (Môi trường), bao gồm các yếu tố như: môi trường học tập thân thiện, an toàn, không gian xanh Cụ thể hóa các hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, các Sở GD&ĐT và các Phòng giáo dục và đào tạo trong triển khai các nội dung xây dựng “Trường học hạnh phúc” với ba tiêu chí cụ thể như sau: Tiêu chí 1. Về nhà trường và phát triển cá nhân - Đảm bảo sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm lý cho học sinh, CBGVNV khi học tập và làm việc tại nhà trường; không để xảy ra các hiện tượng vi phạm đạo đức nhà giáo, bạo lực học đường. - Phòng học, phòng làm việc, phòng nghỉ nhân viên, nhà bếp, vườn rau, sân chơi, khu vệ sinh... phải bảo đảm các điều kiện tiêu chuẩn theo quy định; tạo dựng môi trường xanh, sạch, đẹp, thân thiện...; (Hình ảnh trang trí khuôn viên trong ngoài bếp, khu vực thư giãn, vườn rau, nhà vệ sinh đẹp, thân thiện, hạnh phúc – Phần phụ lục) - Duy trì bầu không khí học tập, lao động ấm áp, thân thiện; mọi thành viên trong trường học, trong lớp được yêu thương, được tôn trọng, được hiểu, được có giá trị và được bảo đảm an toàn. - CBGVNV thường xuyên sử dụng các biện pháp giáo dục, kỷ luật tích cực. - Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, dinh dưỡng tốt cho cả học sinh và mọi người trong trường. - Nhà trường tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi CBGVNV đều được phát triển tối đa tiềm năng của bản thân, không ai bị bỏ lại, tất cả cùng thay đổi tiến bộ. - Nhà trường đã xây dựng và thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở Tiêu chí 2. Về dạy và học - CBGVNV làm gương cho học sinh, sinh viên trong mọi hoạt động giáo dục, hoạt động dạy và học - Thực hiện việc phân nhiệm vụ cho CBGVNV trong đơn vị một cách công bằng, hợp lý, phù hợp với điều kiện, năng lực cá nhân và sở trường công tác để phát huy tốt nhất tiềm năng, hiệu quả công tác của mỗi người. 7/20
- - Mọi hoạt động liên quan đến công tác quản lý, dạy và học phải được công khai bàn bạc cởi mở, lắng nghe, thấu hiểu, đối thoại tích cực. - Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tạo hứng thú, phù hợp với từng đối tượng và chấp nhận sự khác biệt tâm lý, thể chất, hoàn cảnh của mỗi học sinh - CBGVNV và học sinh được tự do phản hồi, sáng tạo và gắn kết; được chủ động thể hiện quan điểm; ý tưởng; có thói quen làm việc nhóm và hợp tác. - Nhà trường tạo điều kiện tốt nhất để mỗi học sinh, cán bộ, giáo viên, nhân viên có cơ hội phát triển, thể hiện và khẳng định năng lực, giá trị bản thân. - Thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoại khóa: Tổ chức đi dã ngoại, các hoạt động ngoại khóa, tổ chức sinh nhật, đi lễ chùa, du lịch cùng nhau để tăng cường các mối quan hệ giao lưu, tăng cường thể lực và nuôi dưỡng cảm xúc tích cực. (Hình ảnh CBGVNV HS tham gia các hoạt động ngoại khóa – Phần phụ lục) - Cán bộ, giáo viên, nhân viên tự chăm sóc sức khỏe tâm lý và thể chất cho bản thân, tự trang bị cho mình và thực hành được các giá trị sống phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, nhân cách nhà giáo trong môi trường giáo dục. Tiêu chí 3. Về các mối quan hệ trong nhà trường - Cán bộ, giáo viên, nhân viên phải làm gương cho học sinh trong các mối quan hệ, trong giao tiếp và đối thoại - Học sinh và cán bộ, giáo viên, nhân viên tôn trọng, lắng nghe, thấu hiểu và chủ động xây dựng được các mối quan hệ tích cực, tốt đẹp. - Quản lý cảm xúc tiêu cực trong đối thoại, tương tác, giao tiếp và làm việc với học sinh, với cán bộ, giáo viên, nhân viên. - Học sinh và cán bộ, giáo viên, nhân viên hợp tác, chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau trong các nhiệm vụ được giao. - Giúp đỡ, chia sẻ với học sinh và cán bộ, giáo viên, nhân viên có nhu cầu đặc biệt, có hoàn cảnh riêng - Học tập, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên rèn luyện đạo đức, tác phong và kỹ năng làm việc chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu công việc một cách tốt nhất - Cán bộ, giáo viên, nhân viên lắng nghe tích cực, phản hồi mang tính xây dựng trong xử lý công việc với đồng nghiệp và học sinh - Phối hợp và hợp tác hiệu quả với phụ huynh, cộng đồng địa phương và các lực lượng liên quan trong công tác giáo dục học sinh Các tiêu chí trên được nhà trường triển khai thực hiện nghiêm túc hiệu quả để xây dựng mô hình “Trường học hạnh phúc” thành công. 8/20
- 2. Biện pháp 2: Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, nhân viên về vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong nhà trường phụ thuộc chủ yếu vào tay nghề, trình độ nghiệp vụ và ý thức của người thực hiện. Bởi vậy, để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, nhân viên đạt hiệu quả thì bản thân người quản lý phải nắm chắc kiến thức, linh hoạt sáng tạo, kiên trì bền bỉ, lựa chọn các hình thức bồi dưỡng phù hợp. *Bồi dưỡng thông qua các buổi họp, sinh hoạt chuyên môn. Ngay từ đầu năm, tôi đã phối hợp với BGH nhà trường tổ chức cho giáo viên, nhân viên học nhiệm vụ năm học, quy chế chuyên môn, giúp họ nắm được mục tiêu năm học một cách cụ thể, thông qua đó giáo viên, nhân viên được ôn lại quy chế chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cũng như cập nhật được những quy định mới của năm học cũng như nhấn mạnh về các vấn đề cần đặc biệt quan tâm như: Vệ sinh an toàn thực phẩm, các kỹ năng vệ sinh cá nhân, vệ sinh phòng bệnh cho trẻ khi học tại trường. Thông qua các buổi họp hội đồng hàng tháng tôi thường nhấn mạnh về các ưu điểm và tồn tại của các bộ phận trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ từ đó phát huy được những ưu điểm và kịp thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Thông qua buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi thường dự để trao đổi, rút kinh nghiệm những việc đã làm được và những tồn tại cần phải khắc phục, sửa chữa đồng thời gợi ý một số nội dung mới cần đưa vào để nội dung sinh hoạt tổ thêm phong phú. (Hình ảnh bồi dưỡng chuyên môn cho GVNV - Phần phụ lục) *Bồi dưỡng thông qua chương trình tập huấn, kiến tập của phòng, sở, tổ chức chuyên đề tại trường. Sau khi nhận được kế hoạch và lịch triển khai tổ chức tập huấn, kiến tập của phòng/sở tôi tích cực tham mưu với hiệu trưởng về đối tượng cử đi tập huấn, kiến tập nên là các đồng chí giáo viên, nhân viên cốt cán để nắm bắt được tốt nhất về nội dung của những đổi mới của chương trình và khi về trường có thể triển khai đến toàn thể các thành viên khác trong tổ một cách đúng đắn nhất. Đối với tôi việc được đi tập huấn, kiến tập là cơ hội rất tốt để nâng cao năng lực của bản thân. Vì khi đó, ta có cơ hội được tiếp xúc trực tiếp với các chuyên gia có trình độ cao cũng như được tận mắt quan sát cách làm của các đơn vị tiên tiến. Chính vì vậy, tôi luôn cho rằng việc bồi dưỡng khi cử giáo viên nhân viên đi học tập không phải là trách nhiệm riêng của đơn vị tổ chức bồi dưỡng mà còn là trách nhiệm của những người làm công tác quản lý trực tiếp như tôi. Vì vậy, sau 9/20
- khi đã có danh sách phân công các đồng chí giáo viên, nhân viên đi tập huấn tôi thường thực hiện những việc sau: + Trước khi kiến tập: - Nhắc nhở các đồng chí được cử đi học tập đọc trước các tài liệu có liên quan đến chương trình tập huấn, kiến tập để nhớ lại được những kiến thức và hiểu biết cơ bản từ đó có thể trao đổi, thảo luận về những vấn đề mà bản thân còn thắc mắc với những chuyên gia hoặc đồng nghiệp tại trường bạn. - Nhắc nhở các đồng chí nên đi sớm một chút để có thời gian tham quan môi trường cũng như tìm được một vị trí thích hợp, dễ quan sát. - Giao nhiệm vụ trước khi đi học tập: Trước khi cử các đồng chí giáo viên, nhân viên tham gia vào bất kỳ một chương trình tập huấn, kiến tập nào tôi đều dặn dò các đồng chí được tham gia cần phải xác định rõ những việc mình cần quan tâm. VD: Trong quá trình thực hiện dây chuyền chế biến tại trường mình vị trí nào còn cảm thấy lúng túng, chưa đúng thì khi đi kiến tập sẽ tập trung vào điểm mà mình còn yếu từ đó so sánh cách thực hiện của trường mình với trường bạn và tìm ra cách thực hiện phù hợp nhất. + Trong khi kiến tập: - Nhắc nhở giáo viên, nhân viên không thực hiện những việc cá nhân trong quá trình kiến tập, lắng nghe, ghi chép, chụp ảnh, quay video lại những điểm mới trong khi học tập. - Tham gia từ đầu đến cuối buổi học, không bỏ giở giữa chừng, tích cực trò chuyện, trao đổi, rút kinh nghiệm sau khi kiến tập. + Sau khi kiến tập: - Trò chuyện, trao đổi với các đồng chí vừa tham gia tập huấn, kiến tập về những bài học mà bản thân thu hoạch được như một hình thức thu lượm báo cáo nhưng thoải mái và tự nhiên hơn. - Họp nhanh tổ chuyên môn để trao đổi về những điểm mới mà phòng/sở vừa triển khai, thống nhất và đưa ra dự kiến những thay đổi về công tác chăm sóc nuôi dưỡng cần có trong thời gian tới. - Chia sẻ hình ảnh, nội dung kiến tập trong nhóm nội bộ để cùng tham khảo. Bên cạnh việc cử GV, NV tham gia tập tuấn, kiến tập các chuyên đề do phòng sở, tổ chức thì tôi cũng xây dựng kế hoạch tổ chức các chuyên đề tại trường để 100% CBGVNV được tham gia. Như chuyên đề: Đổi mới hình thức tổ chức bữa ăn cho trẻ; Cách xứ trí Xử trí sơ cấp cứu một số tai nạn thường gặp tại trường học và được đông đảo chị em hưởng ứng nhiệt tình, thông qua đó tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên được nghiên cứu, thảo luận, trao đổi kinh nghiệm về các hình 10/20
- thức tổ chức bữa ăn cho trẻ hợp lý khoa học, thoải mái, thân thiện, không gò ép mà trẻ vẫn ăn hết suất hay trang bị kiến thức sơ cấp cứu ban đầu cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong nhà trường để rèn luyện thêm kiến thức, kỹ năng đảm bảo sẵn sàng phòng ngừa, ứng phó, xử lý kịp thời các tai nạn thương tích cho trẻ mầm non xảy ra trong thời gian trẻ ở trường. (Hình ảnh CBGVNV tham gia học tập các chuyên đề tại nhà trường – Phần phụ lục) *Bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm và đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi”. Quả đúng như vậy, bởi thông qua thi đua giáo viên, nhân viên có cơ hội để thể hiện năng lực, lòng nhiệt huyết, khả năng sáng tạo, ý chí phấn đấu của bản thân trước tập thể từ đó nâng cao năng lực chuyên môn, tích lũy thêm kinh nghiệm cho bản thân đồng thời thông qua thi đua còn bộc lộ cả những điểm yếu trong công tác, những thiếu sót trong chuyên môn từ đó sớm tìm ra biện pháp khắc phục. Những phong trào thi đua đã được tổ chức tại trường: -Thi quy chế CSND trẻ cấp trường: 100% giáo viên, nhân viên tham gia. (Hình ảnh GVNV thi quy chế CSND trẻ cấp trường - Phần phụ lục) -Thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp trường: 100% nhân viên tham gia. -Thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp Huyện: 01 đ/c tham gia. (Hình ảnh thi NVND giỏi cấp trường, cấp Huyện - Phần phụ lục) 3. Biện pháp 3: Chú trọng công tác nâng cao chất lượng bữa ăn và chăm sóc sức khỏe cho trẻ. * Làm tốt công tác nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ: Để làm tốt công tác nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ việc đầu tiên là cần có một thực đơn phong phú, phù hợp, đảm bảo định lượng calo và tỉ lệ các chất. Để thực hiện được việc này, tôi đã chỉ đạo tổ nuôi thực hiện nghiêm túc công tác xây dựng thực đơn, khẩu phần ăn cho trẻ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng theo quy định tại Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT ngày 30/12/2016 của Bộ GD& ĐT về việc sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Chương trình GDMN. Theo đó, thực đơn được xây dựng riêng theo từng lứa tuổi. Chú trọng chế biến, phối hợp món ăn hợp lý, bữa chính đáp ứng tiêu chuẩn có trên 10 loại thực phẩm, trong đó có từ 3 đến 5 loại rau, củ. Bên cạnh các món chính như món: Cơm, món xào, món mặn, canh và tráng miệng thì tôi cũng mạnh dạn đưa thêm các món mới để giúp thực đơn phong phú hơn và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của học sinh. Sau khi xây dựng thực đơn, tôi đã tiến hành cân đối khẩu phần trên thực đơn mẫu. Đa số 11/20
- các ngày đã đảm bảo được định lượng calo và tỉ lệ các chất. (Thực đơn áp dụng tại nhà trường – Phần phụ lục) Ngoài ra chỉ đạo giáo viên chăm sóc tốt giờ ăn của trẻ, Trong giờ ăn giáo viên quan sát trẻ ăn và động viên khuyến khích trẻ ăn hết suất, kiên trì tập cho trẻ ăn dần các loại thức ăn khác nhau một cách thoải mái (đối với trẻ không quen ăn 1 số loại rau, củ). Chỉ đạo nhân viên cấp dưỡng phối kết hợp cùng giáo viên trên lớp tìm hiểu tâm lý, sở thích, tăng cường hỗ trợ giờ ăn của trẻ, ghi nhật ký bữa ăn hàng ngày để từ đó lựa các chọn thực phẩm theo thực đơn và áp dụng một số cách chế biến món ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất. + Thực hiện tốt kế hoạch tăng gia trồng rau sạch tại khuôn viên hiện có của trường. Do trường mới được xây dựng với diện tích rộng rãi hơn 7000 m2 nên diện tích sân chơi và đất lưu thông tương đối rộng. Do đó, tôi đã tích cực tham mưu với BGH xác định khu vực trồng rau sạch của trường sát với tường rào xung quanh trường, phân luống theo lớp, theo khối, tận dụng lối đi sân sau làm giàn trồng các loại rau bầu, bí, mướp, su su Vừa tạo bóng mát, vừa tạo nguồn vừa tạo nguồn rau sạch cung cấp vào bếp ăn cho trẻ bán trú tại trường. Đồng thời đưa ra kế hoạch phát triển mô hình trồng rau sạch an toàn trong trường rõ ràng theo từng tháng cụ thể như sau: - Tháng 9/2022: Thực hiện cải tạo vườn trường: Huy động CB,GV,NV tham gia lao động nhặt gạch, đá; Tham mưu với PHHS đổ thêm đất. Làm biển tên cho các lớp. Tham mưu công đoàn trích quỹ tiền rau ra mua hạt giống, phân bón, dụng cụ làm vườn và chia khu vực cho từng tổ, bộ phận. Phát hạt giống cho các lớp, chỉ đạo giáo viên tổ chức cho trẻ xuống cùng cô chăm sóc vườn rau của lớp mình. - Tháng 10/2022: Khoan giếng, huy động tổ bảo vệ làm hệ thống ống dẫn nước tưới cho vườn rau. Các tổ bộ phận tranh thủ buổi trưa, chiều để chăm sóc, bón phân, nhặt cỏ, bắt sâu cho rau. Luân phiên đưa rau sạch vào bữa ăn của trẻ (2,3 lần/tuần) - Tháng 11-12/2022: Cải tạo đất vườn bằng các nguồn phân vi sinh; Thu hoạch rau vụ đông, tiếp tục cải tạo vườn và gieo trồng giống mới. -Tháng 1/2023: Các khu vực rau đã được thu hoạch hết tiến hành dọn vườn, cuốc đất để ải để ra tết tiến hành gieo lứa mới. -Tháng 2,3,4,5/2023: Các tổ, bộ phận phân công chăm sóc vườn rau, dọn vườn, cải tạo đất vườn bằng các nguồn phân vi sinh khi đã thu hoạch và chuẩn bị gieo lứa mới phù hợp với thời vụ, lưu ý trồng đan xen giữa giống ngắn ngày, dài 12/20

