Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng khẩu phần ăn cân đối cho trẻ trong Trường Mầm non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng khẩu phần ăn cân đối cho trẻ trong Trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_xay_dung_khau_phan_an.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng khẩu phần ăn cân đối cho trẻ trong Trường Mầm non
- PHẦN B: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. NỘI DUNG LÝ LUẬN : Sức khỏe và chế độ dinh dưỡng luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ăn uống có vai trò quan trọng đối với sức khỏe, nhất là đối với trẻ mầm non vì cơ thể của trẻ cần nhiều dinh dưỡng để phát triển, có chất lượng bữa ăn tốt hơn và có lối sống sinh hoạt hợp lý trẻ sẽ phát triển khỏe mạnh và ngược lại trẻ không ăn uống điều độ, không đủ dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa nặng hơn có thể gây ra còi xương, suy dinh dưỡng, thiếu máu do thiếu sắt, và cá bệnh lý khác... Vậy chế độ dinh dưỡng cho trẻ thế nào là hợp lý? Định lượng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của trẻ một ngày như thế nào? Chế biến bữa ăn cho trẻ sao cho đúng cách? Đó cũng là câu hỏi của nhiều gia đình điều băn khoăn của rất nhiều đơn vị chăm sóc và giáo dục trẻ. Và đó chính là câu hỏi dành cho bản thân tôi, hơn ai hết tôi cũng là người mẹ đang nuôi con nhỏ cùng với đó là trách nhiệm của một cô nuôi trong trường mầm non, hàng ngày chế biến những bữa ăn cho trẻ, tôi luôn tìm tòi những điều bổ ích làm sao giúp bữa ăn của trẻ vừa ngon vừa đảm bảo tỉ lệ dinh dưỡng. Muốn cho trẻ có được những bữa ăn hợp lý và ngon miệng thì phải chế độ ăn phong phú đa dạng biết phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau vì có thực phẩm giàu chất đạm có thực phẩm giàu chất béo, có thực phẩm giàu vitamin và muối khoáng. Vì thế trẻ rất cần ăn một chế độ ăn hợp lí và cân đối giữa đạm động vật và đạm thực vật, giữa thức ăn cung cấp protein năng lượng với thức ăn cung cấp vitamin và muối khoáng. Bên cạnh đó phải có kỹ thuật đảm bảo dinh dưỡng trong quá trình sơ chế và chế biến. Do vậy, trong bữa ăn của trẻ ta phải tổ chức và tính toán làm sao để đáp ứng đầy đủ các các yêu cầu sau: - Đảm bảo đủ định lượng calo - Cân đối tỉ lệ các chất: P(Protein) – L(Lipid) – G(Glucid) - Thực đơn đa dạng phong phú, dùng nhiều loại thực phẩm - Xây dựng thực đơn theo mùa, phù hợp với trẻ - Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - Đảm bảo chế độ tài chính. Vì vậy xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn cân đối là vô cùng quan trọng. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1. Đặc điểm tình hình chung: 2/18
- Trường Mầm non Bình Minh xã Ninh Hiệp – Gia Lâm là một ngôi trường có chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng tốt trong nhiều năm qua. Trường đã đạt chuẩn quốc gia mức độ I vào năm 2018 và tiếp tục đạt chuẩn mức độ II vào năm 2020, nhiều năm liền đạt trường Tiến tiến cấp huyện. Với tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường là 53 đồng chí, trong đó: Ban giám hiệu có 03 đồng chí, Giáo viên: 24 đồng chí, nhân viên nuôi dưỡng: 10 đồng chí, Kế toán, VP, y tế: 3 đồng chí và 3 đồng chí bảo vệ. Tổng số trẻ của trường là 540 trẻ, chia làm 4 nhóm lớp: nhóm lớp nhà trẻ, nhóm lớp mẫu giáo bé, nhóm lớp mẫu giáo nhỡ và nhóm lớp mẫu giáo lớn. Nhà trường có 01 bếp ăn với 10 nhân viên, đều có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn. 2. Thuận lợi và khó khăn: 2.1: Thuận lợi : - Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành đặc biệt là của Phòng Giáo Dục và sự ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh. - Được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu. - Nhà bếp được xây dựng khang trang, rộng đẹp, thoáng mát, trang bị đầy đủ các dụng cụ, đồ dùng phục vụ công tác chăm sóc bán trú như: Tủ lạnh, tủ cơm, tủ sấy bát, bình sục ozon và các đồ dùng bằng inox... - Nhân viên nuôi dưỡng được trang bị đầy đủ các vật dụng cá nhân như: găng tay, tạp dề, mũ, khẩu trang... - Bếp ăn một chiều đạt chuẩn nên rất thuận lợi, dễ dàng trong mọi công tác từ giao nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến đến chia ăn. - 100% học sinh ăn bán trú tại trường đa số phụ huynh là người địa phương nên việc trao đổi thông tin rất thuận lợi. - Ban Giám Hiệu rất quan tâm đến nguồn nước sử dụng hàng ngày trong chế biến là nguồn nước sạch. - 100% nhân viên được tập huấn cách thức tính khẩu phần ăn cho trẻ bằng phần mềm dinh dưỡng. Nhà trường luôn tạo điều kiện cho nhân viên tham ra bồi dưỡng kiến thức nâng cao trình độ chuyên môn trong công tác chăm sóc bữa ăn và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. - 100% nhân viên yêu nghề, nhiệt tình say mê trong công việc, luôn đặt sức khỏe và sự an toàn của trẻ lên hàng đầu. - Sinh hoạt chuyên môn của tổ được tổ chức thường xuyên và đều đặn hàng tuần. 3/18
- - Nhà trường đã lựa chọn ký kết với đơn vị cung cấp thực phẩm đáng tin cậy có nguồn gốc xuất sứ rõ ràng, có giấy chứng nhận và cam kết an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng nên bữa ăn của trẻ được cải thiện rõ rệt. 2.2: Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi nhà trường cũng gặp một số khó khăn sau: - Năm học 2020-2021 do tình hình dịch bệnh covid 19 vẫn diễn biến phức tạp nên thời gian trẻ đến lớp không nhiều. - Đa phần phụ huynh mải buôn bán nên chưa thực sự quan tâm chăm sóc tới bữa ăn cho trẻ, chưa dạy trẻ ý thức giữ gìn vệ sinh cá nhân. - Một số giáo viên trẻ mới ra trường nên kinh nghiệm chăm sóc trẻ chưa chuyên sâu. -Thời tiết thay đổi thất thường, giá cả thực phẩm thường xuyên biến động, do đó việc thay đổi thực đơn cân đối khẩu phần ăn cho trẻ còn gặp khó khăn. Đứng trước những thuận lợi và khó khăn trên bản thân là một cô nuôi tôi rất trăn trở và băn khoăn phải làm thế nào để đầy đủ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của trẻ nâng cao chất lượng bữa ăn, vì vậy tôi xin phép mạnh dạn đưa ra một số những biện pháp sau: III. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: 1. Biện pháp 1: Trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Ai trong mỗi chúng ta cũng vậy, muốn làm tốt công việc của mình thì cần phải học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình bằng nhiều cách và nhiều biện pháp khác nhau. Tôi luôn cố gắng học hỏi để làm sao chế biến được những bữa ăn ngon nhất, tạo được sự hứng thú cho trẻ mỗi khi đến giờ ăn. Bản thân tôi và đồng nghiệp chịu trách nhiệm chăm sóc bữa ăn hàng ngày của trẻ. Tôi ý thức được rằng muốn cơ thể trẻ phát triển hài hòa cân đối, trẻ được khỏe mạnh vui tươi thì điều đâu tiên là chất lượng bữa ăn của các cháu phải đảm bảo lượng calo cân đối và dinh dưỡng hợp lý. Tôi đã sưu tầm được những món ăn ngon qua sách báo tranh, ảnh trên mạng và tham khảo thực đơn các trường bạn để xây dựng thực đơn của trường mình được phong phú và có hiệu quả cao hơn. Ngoài ra tôi và chị em trong tổ nuôi xác định rõ vị trí và công việc của từng người, làm tốt các khâu từ giao nhận thực phẩm, sơ chế, chế biến để đảm bảo vệ sinh, đảm bảo dinh dưỡng. 4/18
- Đặc biệt, trong các buổi sinh hoạt chuyên môn chúng tôi cùng trao đổi kinh nghiệm chuyên môn để cùng nhau xây dựng thực đơn đa dạng, kết hợp nhiều loại thực phẩm và cân đối khẩu phần như sau: a. Xây dựng thực đơn: Thực đơn là một phần vô cùng quan trọng trong việc chế biến bữa ăn cho trẻ. Ngoài việc thực đơn phải cung cấp đủ dinh dưỡng ra còn cần giúp trẻ ăn ngon miệng. Thực đơn xây dựng cho trẻ cần đảm bảo có sự thay đổi để trẻ hứng thú với món ăn. Như chúng ta đã biết nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày của trẻ hết sức quan trọng nhưng trẻ không thể ăn hết một lượng thức ăn lớn do vậy trong bữa ăn của trẻ phải tổ chức và tính toán làm sao đủ 4 yêu cầu sau đây: + Đảm bảo đủ lượng calo. + Cân đối các chất P(protein), L(lipit), G(guluxit). + Thực đơn phong phú phù hợp với trẻ. + Đảm bảo về tài chính. Muốn xây dựng thực đơn cân đối cho trẻ ta cần phải bám sát vào các yêu cầu trên, yêu cầu đó luôn là tổng thể thống nhất trong mỗi thực đơn. Sau đây tôi đưa ra một số kinh nghiệm xây dựng từng yếu tố cụ thể như sau : *Đảm bảo đủ lượng calo Mỗi khẩu phần ăn của trẻ được đảm bảo cân đối đủ chất dinh dưỡng. Năng lượng cung cấp chủ yếu từ bột đường(G) và chất béo( L) Gluxitcos nhiều trong các loại ngũ cốc và đường Lipit có nhiều trong dầu, mỡ và các loại hạt có tinh dầu. Khi xây dựng thực đơn ta nên chú ý kết hợp giữa hai loại thực phẩm nhiều calo và các loại thực phẩm ít calo để đảm bảo cho lượng calo cần thiết mỗi ngày cho trẻ. * Cân đối tỉ lệ giữa các chất - Protein là hết sức cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ là nguyên liệu yếu xây dựng nên các tố chất trong cơ thể trẻ mầm non. Protein có nhiều trong thịt, cá, trứng, sữa, đậu, lạc vừng... - Lipit là nguồn cung cấp năng lượng, những loại thức ăn giàu lipit gồm dầu ăn, mỡ lợn, mộ số loại thịt cá và một số loại hạt có nhiều tinh dầu. - Gluxit cung cấp năng lượng chủ yếu trong cơ thể, gluxit có nhiều trong gạo, bột mỳ, miến, đường, đậu... - Canxi có vai trò quan trọng trong sự phát triển và là khoáng chất nhiều nhất của cơ thể với 99% tập trung ở xương và răng, 1% còn lại nằm trong máu, mô tế bào. Thực phẩm chứa nhiều canxi phải kể đến: sữa, sữa chua, phô mai, đậu phụ, các loại rau cá lá xanh sẫm, ngũ cốc... 5/18
- - Vitamin B1 có tác dụng giúp cho cơ thể nói chung và trẻ nhỏ nói riêng chuyển hóa thức ăn tốt hơn và quá trình trao đổi chất, tạo ra năng lượng điều hòa thần kinh cơ và tim. Trong cơ thể, B1 tham gia vào nhiều phản ứng chuyển hóa và đặc biệt là chuyển hóa gluxit. Những thực phẩm giàu B1 phải kể đến như là: Thịt bò, thịt gà, ngũ cốc, rau xanh... Vì vậy trong bữa ăn của trẻ hàng ngày ta cần đảm bảo đủ các loại thực phẩm, qua đó ta cần phải tính toán làm sao để cân đối giữa các chất P - L - G theo tỉ thích hợp của trẻ là : + Đối với NT : P :13 - 20%, L : 30 - 40%( Lđộng vật / L thực vật = 70/30%), G : 47 - 52% + Đối với mẫu giáo : P :13 - 20%, L : 25 - 35%(L động vật /L thực vật = 70/30%), G :52 - 60%. *Ca : NT : 350mg/trẻ /ngày MG :420 mg /ngày /trẻ *B1 : NT : 0,41 mg /ngày / trẻ MG :0,52 mg /ngày /trẻ Muốn cân đối được tỉ lệ chúng ta chúng ta cần phải chú ý tới những đặc điểm sau đây : Đạm là nguồn gốc từ động vật rất nhiều nhưng giá thành rất đắt, ngược lại đạm là nguồn gốc từ thực vật lại rất rẻ. Tiền ăn của các cháu đóng góp hàng ngày thì hạn chế vậy chúng ta phải kết hợp giữa đạm cung cấp từ thịt, cá trứng với đạm cung cấp từ đậu, lạc, vừng. Qua đó kết hợp với các loại rau có độ đạm tương đối cao như rau ngót, rau muống, giá đỗ. Muốn đảm bảo Lipit trong mỗi bữa ăn có thể chế biến thành các món xào, rán để đảm bảo lượng gluxit cho trẻ cân đối giữa hai bữa chính và phụ trong ngày. Bữa chính sáng trẻ ăn cơm, bữa phụ chiều có thể chế biến cho trẻ món ăn từ gạo nếp, mỳ, chè các loại... * Thực đơn đa dạng, kết hợp nhiều loại thực phẩm. Không có một loại lương thực, thực phẩm nào chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cho nên chúng ta cần phải ăn nhiều loại thực phẩm. Thay đổi thực đơn cũng là để tạo cảm giác ngon miệng và cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho trẻ. Thực đơn càng đa dạng, phóng phú càng kích thích được trẻ ăn ngon miệng, hết suất. 6/18
- Khi xây dựng thực đơn, chúng tôi luôn kết hợp từ 15 đến 20 loại thực phẩm khác nhau, kết hợp nhiều loại thực phẩm càng đa dạng càng có lợi cho sức khỏe của trẻ. (H1) *Đảm bảo về tài chính Với mức tiền thu 23.000đ/ngày/trẻ để xây dựng được thực đơn đầy đủ năng lượng và dinh dưỡng lại đảm bảo lượng calo và tỉ lệ các chất đối hỏi chúng ta phải phối kết hợp với kế toán nuôi phải tính toán theo khả năng tài chính hiện có, để đảm bảo bữa ăn phong phú và đa dạng thực đơn trong tuần phải có đủ thịt, cá, trứng, canh rau và hoa quả ta phải phối kết hợp giữa thực phẩm đắt với thực phẩm rẻ. Nguyên tắc này rất quan trọng mà số tiền lại có hạn vì vậy trong mỗi bữa ăn hàng ngày của trẻ, trẻ vẫn được ăn đầy đủ các loại thực phẩm rẻ đến các loại thực phẩm đắt mà trong mỗi bữa ăn vẫn có cả hoa quả hoặc sữa chua tráng miệng đảm bảo các chất dinh dưỡng. Dựa vào các yêu cầu trên trường tôi đa xây dựng thực đơn như sau: THỰC ĐƠN MÙA ĐÔNG NĂM HỌC 2021 – 2022 TUẦN I - III TRÁNG THỨ BỮA SÁNG BỮA CHIỀU MIỆNG Cơm tẻ NT : Cơm thịt lợn sốt cà chua, Thịt lợn, tôm xào ngũ sắc canh khoai tây nấu thịt + Sữa 2 Su su cà rốt xào thịt bò Dielac Canh rau mồng tơi, khoai MG: Bún ngan lang nấu thịt lợn Cơm tẻ NT: Cháo vịt– Sữa Dielac 3 Thịt bò, thịt lợn hầm dứa Canh ngao nấu chua thả giá MG: Cháo vịt Cơm tẻ NT:Xôi gấc– sữa Dielac Thịt gà, thịt lợn hầm rắc 4 vừng Canh cua nấu rau thập cẩm MG: Xôi gấc – sữa Dielac Cơm tẻ Sữa chua NT: Mỳ thịt lợn nấu chua – sữa 5 Trứng cút, thịt gà sốt nấm Dielac Canh củ quả nấu thịt bò MG: Mỳ thịt lợn nấu chua 6 Cơm tẻ NT: Cháo gà hầm hạt sen – 7/18
- Cá lăng, thịt lợn sốt đậu hũ Sữa Dielac non Canh rau cải cúc nấu thịt lợn MG: Cháo gà hầm hạt sen Cơm tẻ Sữa chua NT: Cơm thịt gà kho, canh rau Thịt bò, thịt lợn hầm của quả cải ngọt nấu thịt - Sữa Dielac. 7 MG: sữa nóng + bánh kem cuộn Canh đậu hũ non nấu thịt THỰC ĐƠN MÙA ĐÔNG NĂM HỌC 2020 – 2021 TUẦN II - IV TRÁNG THỨ BỮA SÁNG BỮA CHIỀU MIỆNG Cơm tẻ NT : Cơm thịt bò sốt cà Tôm thịt lợn xào ngô ngọt chua, canh bí ngô đỗ xanh 2 Khoai tây xào tỏi nấu thịt+ Sữa Dielac Canh rau cải ngồng nấu thịt MG: Cháo chim bồ câu Cơm tẻ Sữa chua NT: Mỳ riêu cua – Sữa 3 Trứng cút kho thịt gà Dielac Canh bí ngô, đỗ xanh nấu thịt MG: Mỳ riêu cua Cơm tẻ NT: Xôi ngô – sữa Dielac 4 Thịt gà thịt lợn sốt phô mai Canh tôm đồng nấu rau cải MG: Xôi ngô – sữa Dielac Cơm tẻ NT: Bún gà rau cải ngọt – 5 Mực, thịt sốt phô mai sữa Dielac Canh rau bắp cải nấu thịt lợn MG: Bún gà rau cải ngọt Cơm tẻ Sữa chua NT: Cháo tôm bí đỏ – Sữa 6 Cá trắm thịt lợn sốt cà chua Dielac Canh nấm nấu thịt gà MG: Cháo tôm bí đỏ Cơm tẻ Sữa chua NT: Cơm thịt gà kho, canh Thịt bò, thịt lợn hầm khoai tây canh củ quả nấu thịt - Sữa cà rốt Dielac. 7 MG: sữa nóng + bánh kem cuộn Canh cá rô phi nấu rau cải xanh 8/18
- b. Cân đối khẩu phần: Trường tôi là một trong những trường đầu tiên áp dụng phần mềm dinh dưỡng Gokids vào tính khẩu phần ăn cho trẻ, đây là phần mềm quy chuẩn rất nghiêm ngặt về tỷ lệ các chất, định lượng Calo theo thông tư 28 của Bộ giáo dục ban hành. Mặc dù tính ăn trên phần mềm đòi hỏi chúng tôi phải có kỹ năng cao về tin học ứng dụng nhưng với tinh thần ham học hỏi, luôn mong muốn ứng dụng công nghệ thông tin vào chuyên môn thì chúng tôi đã có được thành quả như ngày hôm nay: Qua biện pháp này tôi cùng kế toán nuôi đã chủ động tạo ra những bữa ăn ngon, cân đối tỷ lệ các chất, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, năng lượng cho trẻ vui chơi và học tập, phụ huynh ngày càng yên tâm và tin tưởng vào sự chăm sóc con em mình ở trường. 2. Biện pháp 2: Lựa chọn thực phẩm sạch, rau củ quả theo mùa a. Sử dụng thực phẩm tươi sạch: Trước tình trạng ngày càng xuất hiện nhiều những ca ngộ độc thực phẩm bẩn, kém chất lượng thì việc lựa chọn thực phẩm sạch luôn là ưu tiên hàng đầu của trường chúng tôi. Trong thời kỳ đổi mới với nền kinh tế nhiều thành phần, sự giao lưu thương mại làm cho thị trường thực phẩm ngày càng phong phú, đa dạng. Thực phẩm là nguồn cung cấp thường xuyên năng lượng và các chất dinh dưỡng để duy trì mọi hoạt động của cơ thể, do đó nếu dùng thực phẩm bị nhiễm độc sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe nhất là đối với trẻ nhỏ - sức đề kháng còn non nớt. Vì vậy đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non được đưa 9/18
- lên vị trí hàng đầu. Ngay từ đầu năm học, trường đã ký kết hợp đồng mua thực phẩm sạch và các thực phẩm biết rõ nguồn gốc với các bên cung cấp thực phẩm. Lựa chọn thực phẩm cũng là khâu quan trọng đầu tiên trong quá trình chế biến thức ăn. Lựa chọn thực phẩm không tốt không những ảnh hưởng tới chất lượng bữa ăn mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của trẻ. Vì vậy, thực phẩm trước tiên phải an toàn tuyệt đối, tươi ngon, sạch sẽ và giàu dinh dưỡng. Tôi xin đưa ra một số ví dụ khi chọn thực phẩm như sau: - Đối với thực phẩm có nhãn mác: Kiểm tra xem bao bì còn nguyên vẹn hay không. Trên nhãn mác thể hiện đúng thông tin sản phẩm, nhà sản xuất, lô sản xuất, hướng dẫn sử dụng, thành phần cấu tạo chính của sản phẩm đặc biệt phải có ngày sản xuất và ngày hết hạn sử dụng.(H2) - Chọn thịt tươi ngon: Quan sát kỹ màu sắc bên ngoài nên chọn thịt có màu đỏ sẫm hay đỏ tươi, vết cắt của thịt bình thường, khô ráo, khi ấn tay vào miếng thịt thấy dẻo và có sự đàn hồi tốt, tránh chọn thịt màu thâm, đen hay có mùi ôi thịu. (H3) - Chọn rau củ quả: Quan sát bằng mắt thường thấy rau củ và quả tươi có màu sắc tự nhiên, không héo úa. Đối với củ quả thì phải còn tươi và còn nguyên cuống, không bị dập nát, bị sâu hay bị đốm lạ. Sờ tay cảm giác giòn, chắc và khi ngửi có mùi đặc trưng của từng loại (không có mùi lạ, mùi hắc, mùi thuốc trừ sâu hay hóa chất). Hay không chọn củ quả có kích thước bên ngoài bất thường. (H4) b. Sử dụng thực phẩm theo mùa: Khi xây dựng thực đơn tôi chú ý sử dụng thực phẩm có sẵn trong mùa. Trên thị trường hầu như các loại rau, củ có quanh năm, tuy nhiên việc lựa chọn thực phẩm theo mùa là rất cần thiết. Ngoài lợi ích kinh tế( các loại rau trái mùa thường đắt) còn đảm bảo lượng vitamin và khoáng chất ở mức cao nhất và không bị ảnh hưởng do chất bảo quản. Mùa đông: với các món rau tổng hợp(bắp cải, súp lơ, su hào...) xào với mực, thịt lợn, thịt bò, cá... tôi chú trọng đưa thêm cần tây, nấm hương để vừa tăng thêm mùi thơm ngon cho món ăn vừa bổ sung thêm lượng canxi có trong cần tây, nấm hương. Mùa hè: Mồng tơi, mướp nấu cua, Canh bầu nấu tôm.... Đó là những loại rau giàu canxi. Mùa nào thức ấy trẻ được ăn các loại rau, củ quả theo mùa. Thực phẩm theo mùa vừa rẻ vừa ngon mà lại đảm bảo được chất lượng thực phẩm vì thức ăn tươi và sạch rất quan trọng để có dinh dưỡng tốt. Thực phẩm luôn được thay đổi theo mùa, các loại thực phẩm 10/18
- trong mùa lại được chế biến nhiều món khác nhau vì vậy thực đơn phong phú tránh sự nhàm chán cho trẻ. VD : + Mùa hè nấu món: Canh cua nấu rau thập cẩm Canh rau ngót nấu thịt + Mùa đông nấu món: Canh bắp cải nấu thịt Canh su hào, cà rốt nấu thịt bò 3. Biện pháp 3. Sưu tầm và nâng cao kỹ thuật chế biến món ăn. Trong công việc, chúng ta luôn phải học hỏi tìm tòi cái mới lạ để nâng cao trình độ chuyên môn của mình, đặc biệt các cô nuôi là người trực tiếp chế biến ra các món ăn để chăm sóc sức khoẻ cho trẻ ở trường mầm non thì vấn đề học cách chế biến món ăn mới cho trẻ càng quan trọng hơn. Hiểu được điều đó nên tôi đã không ngừng học hỏi, tìm tòi qua những người xung quanh, qua đồng nghiệp, những kênh truyền hình liên quan đến chế biến món ăn như: Vua đầu bếp, nội trợ, cùng vào bếp, cách chế biến món ăn cho trẻ...Qua đó, tôi nắm vững được kỹ thuật chế biến từ cơ bản đến chuyên sâu một cách có quy trình và bà bản nhất. Tôi luôn sưu tầm các sách dạy các món ăn: 55 món ăn ngon. 500 món ăn dễ chế biến, cách làm bánh, các loại nước sinh tố, các món ăn Âu Á... Ngoài ra, tôi luôn đọc báo, tham gia những buổi đi kiến tập của Huyện tổ chức. Khi có một món ăn mới tôi thường đọc kỹ để tìm hiểu các nguyên liệu, cách kết hợp, gia giảm các gia vị mới, cách chế biến chép và lưu lại thành bộ sưu tập các món ăn thành từng loại. Tôi thường xuyên mạnh dạn nấu những món ăn mà tôi vừa học hỏi ở nhà, để mọi người trong gia đình, các con nhỏ cùng thưởng thức và cho ý kiến nhận xét. Điều đó giúp tôi tự tin hơn trong công việc chế biến món ăn cho trẻ tại trường. Do tình hình dịch covid học sinh chưa quay trở lại trường nên tôi thường lựa chọn phương pháp quay video quá trình sơ chế và chế biến lại tạị nhà sau đó chia sẻ vào nhóm để các chị em có thể xem lại những lúc rảnh, rồi cùng nhau trao đổi từ đó rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Qua ý kiến nhận xét của gia đình, đồng nghiệp cùng với kinh nghiệm chế biến của bản thân tôi đã lựa chọn được rất nhiều món ăn mới, ngon, phù hợp với trẻ mà vẫn đảm bảo cân đối định lượng các chất. Hoặc cùng món ăn tôi đã tham mưu ban giám hiệu chỉ cần thay đổi thêm, bớt lượng rau, nguyên liệu mới là đã tạo ra hương vị mới cho món ăn đối với trẻ. Ví dụ: Món thịt gà, thịt lợn hầm rắc vừng hoặc thịt gà, thịt lợn sốt phô mai, thịt gà kho mắm....hoặc 11/18
- món canh bầu nấu tôm, bí xanh nấu tôm, rau cải xanh nấu tôm đồng, hay canh đậu hũ non nấu thịt... Bên cạnh đó, kỹ thuật chế biến món ăn chính là khâu quyết định một bữa ăn có ngon, có đạt được độ cảm quan cao nhằm giúp trẻ ăn ngon miệng, hết xuất hay không? Nhận thức rõ được điều này, tôi đã bàn bạc với các chị em trong tổ thường xuyên thay đổi cách chế biến món ăn, trong quá trình nấu nướng phải biết cách phối hợp vơi từng món ăn để tạo nên mùi vị đặc trưng của từng món ăn. Khi chế biến tôi thường xuyên phối hợp các loại rau củ quả có màu sắc đẹp để trẻ dễ bị thu hút tạo cảm giác hứng thú khi ăn. Ví dụ: - Món Su su, cà rốt xào thịt bò - Món Canh nấm nấu thịt gà Hay khi chế biến các món xào và các món thức ăn mặn thì khi sơ chế, phải chú ý cắt thái nhỏ, khi chế biến phải nấu mềm, nhừ để trẻ dễ tiêu hóa. Rau củ quả luôn được rửa dưới vòi nước chảy sau đó cho xục ozôn, không nên cắt nhỏ rau củ quả cho vào nước rửa như vậy sẽ làm hao hụt dinh dưỡng, Thịt gia xúc, gia cầm được trần qua nước sôi, rửa sạch sau đó mới đem đi sơ chế, chế biến để giảm bớt các độc tố. Có những món ăn, tôi đã cùng các chị em trong tổ tạo hình thành những con vật hay thay đổi một số loại nguyên liệu để làm đổi mới cách chế biến hoặc kết hợp nhiều thực phẩm có màu sắc bắt mắt tuy đơn giản nhưng lại đem lại hiệu quả cao như: Ví dụ 1: Xôi gấc * Nguyên liệu: - Gạo nếp - Gấc - Đường kính, dầu ăn, muối, rượu trắng * Cách làm: - Gạo nếp ngon, ngâm 3-4 giờ. Đổ gạo ra giá, để ráo nước rồi sóc muối - Gấc, bổ đôi lấy ruột, trộn ruột với rượu và muối, để ướp 1 lúc. Khi hạt gạo se, trộn gạo với gấc. Sau đó, đun sôi nước, đổ gạo vào vỉ đồ. Trong khi đồ, dùng đũa để xới gạo lên cho xôi chín đều. Khi xôi chín, bắc xuống bếp, trộn xôi với dầu và đường, để dầu và đường thấm đều trên hạt xôi, hạt xôi mọng, thơm mùi gấc và ngọt của đường. - Khi chia ăn: thay vì như trước kia chúng tôi chia ra ngay ra bát cho trẻ thì nay chúng tôi đã tạo hình khẩu phần xôi của các con bằng hình ngộ nghĩnh để kích thích các con hứng thú hơn khi ăn. (H5) 12/18

