SKKN Thực trạng và một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại Trường Mầm Non Tuổi Hoa, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh dịch bệnh covid - 19

docx 29 trang Chăm Nguyễn 15/03/2026 140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Thực trạng và một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại Trường Mầm Non Tuổi Hoa, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh dịch bệnh covid - 19", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_thuc_trang_va_mot_so_bien_phap_ung_dung_cong_nghe_thong.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Thực trạng và một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại Trường Mầm Non Tuổi Hoa, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội trong bối cảnh dịch bệnh covid - 19

  1. 1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ, được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có nghiên cứu khoa học, công nghệ và giáo dục. Trong giáo dục, công nghệ thông tin là một công cụ hiệu quả để hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy và học và góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học. Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục góp phần thực hiện đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới phương pháp giáo dục mầm non nói riêng, mà GDMN là mắt xích đầu tiên trong việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảng dạy. Đặc biệt đối với trẻ mầm non, quá trình lĩnh hội kiến thức của trẻ là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, trẻ luôn bị hấp dẫn bởi những gì mới lạ. Dạy trẻ mầm non không thể thiếu đồ dùng trực quan. Chính vì vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và làm đồ dùng dạy học, soạn giảng giáo án có vai trò tác dụng to lớn trong việc nâng cao chất lượng quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Với việc chuẩn bị kho học liệu điện tử, đánh máy giáo án, soạn giáo án điện tử, quản lý hồ sơ, sổ sách trên máy tính Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường mầm non Tuổi Hoa đã được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Trường có đội ngũ cán bộ quản lý trẻ, có kỹ năng ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong công tác quản lý. Cơ sở vật chất sư phạm (máy tính, phần mềm, mạng Lan..) tương đối đầy đủ hiện đại. Tuy nhiên, còn một số, GV, NV nhận thức về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học còn chưa sâu, khả năng sử dụng máy tính và các phần mềm hỗ trợ hoạt động giáo dục trẻ còn yếu. Cơ sở vật chất sư phạm để ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường còn chưa đồng bộ. Hệ thống mạng Lan về các phòng học còn yếu, việc cập nhật Internet chưa được thường xuyên. Xuất phát từ thực tế trên, cùng với mong muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng CNTT trong nhà trường, đặc biệt là ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục của trường mầm non trong bối cảnh dịch bệnh covid -19 hiện nay, tôi chọn và nghiên cứu đề tài SKKN: “Thực trạng và một số biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại trường mầm non Tuổi Hoa, Quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong bối cảnh dịch bệnh covid - 19” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình của mình trong năm học 2021 – 2022.
  2. 2 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận. Qua kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, chúng ta có một số khái niệm cơ bản sau. 1.1. Khái niệm công nghệ thông tin Theo Từ điển Tin học và CNTT của tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn thì “CNTT là sự nghiên cứu hoặc sử dụng thiết bị điện tử, đặc biệt là máy tính và truyền hình, hệ thống truyền thông và video để xử lý, truyền phát và nhận thông tin” Theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ thì: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Theo Luật CNTT thì: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” Theo các tác giả Phó Đức Hòa và Ngô Quang Sơn: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội ”. Ngày nay, với sự bùng nổ của CNTT, các phương tiện truyền thông và Internet giúp con người có những giải pháp tốt nhất để xử lý thông tin nhanh chóng và chính xác. Trong giáo dục việc sử dụng máy vi tính, phương tiện truyền thông, Internet... đã góp phần tạo ra nhiều hình thức dạy học đa dạng, phong phú và đã thực sự trở thành một phương tiện hỗ trợ có hiệu quả trong việc đổi mới PPDH. Công nghệ thông tin là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và quá trình xử lý TT Như vậy, “CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa của con người”. 1.2. Trường mầm non Tại điều 21 và 22, Luật Giáo dục quy định, Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu của
  3. 3 giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp một. Điều 1, 2 Điều lệ Trường mầm non đã qui định: Vị trí trường mầm non: Trường mầm non là đơn vị cơ sở của ngành GD mầm non thuộc hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam do ngành GD quản lý. Trường mầm non là cơ sở đầu tiên đặt nền móng hình thành, phát triển nhân cách của trẻ và chuẩn bị những tiền đề cần thiết để trẻ. Mục tiêu đào tạo của trường mầm non: Hình thành cho trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam: Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối; giàu lòng thương yêu, biết quan tâm, nhường nhịn những người gần gũi, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên; yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kĩ năng sơ đẳng. Nhiệm vụ của trường mầm non: Tiếp nhận trẻ em trong độ tuổi; Tổ chức và nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình chính sách GD mầm non do Bộ GD&ĐT ban hành; Quản lý đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và trẻ em gửi vào trường; Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo qui định của pháp luật; Chủ động kết hợp chặt chẽ với các bậc cha mẹ trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em.... Tính chất của trường mầm non: Chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhằm hình thành, phát triển nhân cách trẻ em một cách toàn diện; Chăm sóc, giáo dục trẻ em mang tính chất giáo dục gia đình, giữa cô và trẻ là quan hệ tình cảm mẹ - con, trẻ thông qua chơi mà học, học mà chơi; Tổ chức nhà trẻ, trường mẫu giáo mang tính chất tự nguyện: Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo. 1.3. Hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non Hoạt động giáo dục trẻ tại trường mầm non là hoạt động sư phạm được tổ chức trong nhà trường một cách có kế hoạch, có mục đích. Trong đó dưới vai trò chủ đạo của giáo viên, trẻ được giáo dục tích cực, chủ động giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm
  4. 4 ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Nội dung hoạt động giáo dục ở trường mầm non được quy định cụ thể tại chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành bao gồm nội dung chương trình giáo dục nhà trẻ và nội dung chương trình giáo dục mẫu giáo. Hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo bao gồm: hoạt động chơi; hoạt động học; hoạt động lao động; hoạt động ngày hội, ngày lễ. Hoạt động chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ em lứa tuổi mẫu giáo. Trẻ có thể chơi với các loại trò chơi cơ bản sau: Trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi ghép hình, lắp ráp, xây dựng, trò chơi đóng kịch, trò chơi học tập, trò chơi vận động, trò chơi dân gian, trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại. Hoạt động học được tổ chức có chủ định theo kế hoạch dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Hoạt động học ở mẫu giáo được tổ chức chủ yếu dưới hình thức chơi. 1.4. Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại trường mầm non Tại Điều 4, Luật công nghệ thông tin giải nghĩa từ: Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này Ở trường mầm non, CNTT được ứng dụng trong hoạt động chăm sóc, hoạt động giáo dục và quản lý. Như vậy có thể hiểu ứng dụng CNTT ở trường mầm non là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động chăm sóc, hoạt động giáo dục trẻ và quản lý nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động đó. Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học là phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn. Nhờ CNTT để tăng thêm năng lực biểu đạt nội dung bài giảng, qua đó người dạy có thể hình thành phương pháp tư duy sáng tạo và tạo hứng thú cho người học. Như vậy, chúng ta có thể xem ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục là hoạt động giáo dục được diễn ra có sự hỗ trợ của CNTT. Trong quá trình đó GV sử dụng CNTT để phát triển trí tưởng tượng của trẻ; tổ chức, điều khiển, hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức mới, kỹ năng mới, thái độ mới và cuối cùng là dẫn dắt trẻ tới một phương pháp học hiệu quả hơn. Như vậy, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại trường mầm non là việc sử dụng công nghệ thông tin vào hoạt động giáo dục do giáo viên tổ chức, hướng dẫn với sự tham gia tích cực của trẻ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục tại trường mầm non.
  5. 5 1.5. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại trường mầm non Giáo viên ứng dụng CNTT trong khai thác dữ liệu thông qua các công cụ tìm kiếm trên Internet hoặc tìm kiếm trên các Website thư viện bài giảng. Mạng Internet là kho tàng thông tin khổng lồ, ở đó có rất nhiều bài giảng dạy, quản lý trường mầm non được xây dựng công phu mà giáo viên, các nhà cán bộ quản lý Có thể khai thác tham khảo, sử dụng khi chưa có khả năng, điều kiện để xây dựng bài giảng cho riêng mình. Giáo viên được tham gia học tập các khóa học trực tuyến về tin học, về ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non, tìm hiểu thêm các kiến thức về chăm sóc giáo dục trẻ trên mạng Internet để nâng cao kiến thức và trình độ của bản thân, từ đó nâng cao chất lượng công việc. Giáo viên ứng dụng CNTT trong việc đánh giá sự phát triển trí tuệ và sự phát triển thể chất của trẻ một cách chính xác, khoa học. Đồng thời, giáo viên ứng dụng CNTT trong học tập của trẻ để giúp trẻ có thêm hứng thú với việc học và trẻ có thể tự học tập tại nhà qua các website giúp trẻ tự học hay các phần mềm giúp trẻ tự học. 2. Cơ sở thực tiễn. Trẻ trường mầm non Tuổi Hoa tiếp cận với công nghệ thông tin và giáo viên ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở trường Mầm Non được diễn ra rất linh hoạt theo hai hình thức chính: Ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học khi học sinh đi học trực tiếp tại trường khi không có dịch bệnh covid -19 và ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học trong bối cảnh dịch bệnh covid-19. Việc lựa chọn hình thức ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học phù hợp với đặc điểm tình hình thực tế do đó buộc người giáo viên phải lựa chọn hình thức ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học cho phù hợp làm sao để trẻ dễ dàng tiếp thu. Được sự quan tâm của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Hai Bà Trưng, cũng như của các cấp, ngành, Ban giám hiệu trường trang bị máy vi tính bao gồm cả loa, âm ly loa, máy chiếu, để hỗ trợ tối ưu trong việc đảm bảo cho chất lượng hình ảnh rõ nét nhất, âm thanh tốt nhất. Phòng giáo dục và Đào tạo Quận Hai Bà Trưng luôn bồi dưỡng cho giáo viên trong việc sử dụng các phần mềm xây dựng video trong dạy học trong đại dịch covid -19 có nhiều giáo viên tích cực tham gia. Trong quá trình ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học trong bối cảnh dịch bệnh covid – 19 gặp một số thuận lợi và khó khăn
  6. 6 * Thuận lợi - Được ban giám hiệu quan tâm tham mưu góp ý, khi cần sử dụng: Máy chiếu , máy quay Nhà trường đều tạo điều kiện tốt - Giáo viên có trình độ đại học, có khả năng hiểu biết về một số phần mềm tin học, có ý thức sưu tầm, sáng tạo đưa CNTT vào giảng dạy cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi - Các nguồn thông tin về phần mềm rất đa dạng, dễ kiếm, dễ tìm và sẵn có trong các trang tài nguyên của ngành Giáo dục - Phụ huynh xã hội hoá và ủng hộ nhiệt tình các tài liệu, tranh ảnh, đĩa mềm - Phần mềm soạn bài giảng e-Learning có âm thanh và hình ảnh luôn đồng bộ hoá tốt, có sự tương tác giữa các trò chơi. - Bản thân tôi công tác tại đơn vị đi đầu trong việc thực hiện nên việc tiếp cận, học tập, vận dụng và sáng tạo các chương trình ứng dụng công nhệ thông tin trong giảng dạy, giáo viên thật sự nghiêm túc nghiên cứu, tìm hiểu và vận dụng đạt hiệu quả. * Khó khăn - Một số giáo viên lớn tuổi chưa thành thạo về máy tính - Một số giáo viên trẻ mới về trường chưa biết thiết kế giáo án điện tử, sử dụng một số phần mềm cắt, ghép video, thiết kế bài giảng E-learing - Phần mềm soạn bài giảng e-Learning độc lập, khá đắt, có thể cho tải về dùng thử 30 ngày. Chính vì vậy khi soạn bài giảng trên phần mềm này giáo gặp khá nhiều những lỗi nhỏ - Thực hiện bài giảng E learning mất nhiều thời gian công sức trong việc tìm tư liệu lẫn thiết kế - Việc học hỏi chuyên môn một số giáo viên còn hạn chế còn dập khuôn máy móc chính điều này làm ảnh hưởng lớn đến việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học đặc biệt chất lượng video, hình ảnh làm cho trẻ không cảm nhận được cái hay, cái đẹp 3. Thực trạng về ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tại trường MN Tuổi Hoa, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội trong trong bối cảnh dịch bệnh covid - 19
  7. 7 3.1. Khái quát tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục Quận HBT của trường MN Tuổi Hoa, Quận Hai Bà trưng, Hà Nội 3.1.1.Đặc điểm về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội Với đặc điểm tình hình phát triển kinh tế - xã hội của quận Hai Bà Trưng ngành Giáo dục và Đào tạo quận có 97 trường học mầm non, tiểu học và THCS (64 trường công lập, 33 trường ngoài công lập), trong đó 58 trường mầm non (30 trường công lập, 28 trường ngoài công lập), 23 trường tiểu học(19 trường công lập, 5 trường ngoài công lập), 19 trường THCS (15 trường công lập, 4 trường ngoài công lập). Tổng số 47.868 học sinh, 2977 cán bộ công nhân viên, 669 phòng học. Với sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong ngành, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, ngành GD&ĐT quận Hai Bà Trưng luôn được các cấp đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học với rất nhiều thành tích giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi tiêu biểu cấp quận, thành phố, quốc gia, quốc tế. 3. 1.2. Khái quát về đặc điểm trường mầm non Tuổi Hoa quận Hai Bà Trưng Trường mầm non Tuổi Hoa có 4 địa điểm trường điểm trường chính địa chỉ tại số 11 ngõ 381 phường Bạch Mai , quận Hai bà Trưng, Thành phố Hà Nội Trường mầm non Tuổi Hoa được tách ra từ trường mầm non Minh Khai và được thành lập, đi vào hoạt động từ tháng 8 năm 2005. Xây dựng với tổng diện tích mặt bằng 1267m2. Trường mầm non Tuổi Hoa có tổng số trẻ 320 trẻ trong đó khối MGL:117, khối MGN: 99, khối MGB: 66, khối NT: 38 . Tổng số lớp 14 lớp (khối MGL:4 lớp, MGN:4 lớp, MGB: 3 lớp, NT:3 lớp) 3. 1.3.Tình hình phát triển giáo dục mầm non 3.1.3.1.Quy mô phát triển giáo dục Số lớp, số trẻ và tỷ lệ trẻ/dân số độ tuổi ra lớp ngày càng tăng, đặc biệt là tỷ lệ trẻ 5 tuổi huy động ra lớp Mẫu giáo đạt 100%. Như vậy, với quy mô phát triển như hiện nay, giáo dục MN đã đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của trẻ và đáp ứng tốt yêu cầu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi. 3.1.3.2. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ 100% trẻ được ăn bán trú tại trường, 98% trẻ nắm được yêu cầu kiến thức, kỹ năng cần đạt theo từng độ tuổi. Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng cuối năm giảm khoảng 3,1% so với đầu năm. Giáo viên thực hiện chương trình vững vàng năng
  8. 8 động, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ; các trường mầm non đã thực hiện Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi tốt, giáo viên vận dụng tốt trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, tổ chức hoạt động cũng như đánh giá trẻ cuối tháng, cuối chủ đề. 3.1.3.3.Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên Hiện nay, tổng số cán bộ quản lý trường mầm non là 2 người, 100% cán bộ quản lý đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo; hầu hết cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có trình độ chuyên môn vững vàng, có năng lực điều hành và tổ chức các hoạt động của nhà trường. Tổng số giáo viên mầm non, mẫu giáo là 47 người, nhân viên 17 người; 100% giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó 85,3% đạt trên chuẩn. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là đảng viên là 16 đồng chí 3.1.3.4. Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi Bằng việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, từ năm 2016 đến nay, trường mầm non Tuổi Hoa đã được đầu tư để sửa chữa và bổ sung đồ dùng đồ chơi trang thiết bị dạy học, đồ chơi ngoài trời theo quy định. Nhờ vậy mà đến nay trường, lớp càng được khang trang, sạch đẹp. 3.2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại trường mầm non Tuổi Hoa, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội 3.2.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học ở trường mầm non Việc ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ đã không còn xa lạ đối với đội ngũ CBQL, GV, NV ở các trường mầm non. Tuy nhiên nhận thức về vai trò của CNTT đặc biệt là các hình thức ứng dụng CNTT trong HĐ dạy học vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Do vậy trong quá trình làm đề tài tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng nhận thức các vấn đề này trên 66 đối tượng CB, GV, NV trường MN Tuổi Hoa, Quận HBT, thành phố Hà Nội: Nhận xét: Qua bảng tổng hợp trên cho thấy đa số CBQL, GV, NV đã có những nhận thức tích cực về các hình thức ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ. CBQL, GV, NV đã sử dụng hình thức ứng dụng CNTT là sử dụng khai thác thông tin qua mạng Internet (69,7% sử dụng thường xuyên, 30,3% thỉnh thoảng sử dụng, và 0% CBQL, GV, NV không sử dụng hình thức này). Trong khi đó, đối với hình thức Thiết kế bảng trình chiếu PowerPoint nhận được kết quả phản hồi từ các CBQL, GV, NV là có 59,1 % thường xuyên thực hiện, 22,7% thỉnh thoảng thực hiện, có tới 18,2% không thực hiện hình thức này bao giờ.
  9. 9 Từ kết quả khảo sát cho thấy, việc GV truy cập trên mạng Internet để sưu tầm tài liệu, để tự học nâng cao kiến thức, kỹ năng ƯDCNTT vẫn còn những hạn chế nhất định. Việc sử dụng các phần mềm và thiết kế bài giảng E - Learning của các nhà trường còn chưa được các CBQL, GV, NV quan tâm. Qua tìm hiểu, nguyên nhân GV trường chưa quan tâm học hỏi để xây dựng bài giảng, tâm lý ngại đổi mới... thực tế là bản thân GV, NV ít có điều kiện tiếp xúc thường xuyên với các phần mềm dạy học cũng như tìm hiểu tình hình phát triển phần mềm giáo dục hiện nay. 3.2.2.Thực trạng mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học của giáo viên mầm non. Nhận xét: Qua bản thống kê 2.2 có thể thấy mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở mức độ tương đối và chỉ tập trung ở một số giáo viên của các khối lớp và đa số tập trung vào GV trẻ . Có 5 giáo viên đã nhiều tuổi của khối lớn, mẫu giáo bé và nhà trẻ không biết sử dụng máy tính nên không ứng dụng được CNTT trong hoạt động dạy học . Từ đó cho thấy giáo viên chưa thực sự tích cực tự học, tự nghiên cứu để có thể ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học. 3. 2.3.Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện chương trình giáo dục mầm non. Đối với trẻ mầm non luôn bị hấp dẫn với những gì mới lạ nên các hoạt động giáo dục trẻ có ứng dụng CNTT trong chương trình giáo dục mầm non tạo ra một môi trường dạy học sống động, hứng thú và đạt hiệu quả cao. Những nội dung, tư liệu bài giảng được xây dựng để giáo dục trẻ mang tính chân thực, phong phú. Qua tìm hiểu cho thấy trong thực tiễn hiện nay các hình thức phổ biến của ứng dụng CNTT trong thực hiện chương trình giáo dục trẻ ở trường mầm non Tuổi Hoa bao gồm: Ứng dụng CNTT chủ yếu để soạn thảo văn bản, giáo án; tìm các hình ảnh minh họa, đoạn video; ứng dụng phần mềm MS.PowerPoint để phục vụ cho bài giảng điện tử khi tổ chức các hoạt động giáo dục theo chủ đề và các môn học, hoạt động: - Ứng dụng CNTT trong hoạt động khám phá: Đối với những hoạt động khám phá, giáo viên đã tải các hình ảnh, các đoạn video và sử dụng các phần mềm cắt ghép, lồng tiếng, âm thanh, tạo hiệu ứng để xây dựng giáo án điện tử với các trò chơi ôn luyện, củng cố kiến thức với nội dung, mục đích, yêu cầu của hoạt động. Ví dụ: Hoạt động “Những con vật sống trong rừng”, cho trẻ xem video về những con vật sống trong rừng. Cô thiết kế trò chơi “Ai tinh mắt”: Trên màn hình sẽ xuất hiện hình ảnh các hình ảnh con vật khác nhau. Nhiệm vụ của trẻ kích chuột
  10. 10 để tìm đúng con vật theo yêu cầu. Nếu trẻ tìm đúng thì mặt cười xuất hiện. Nếu trẻ tìm sai thì mặt mếu xuất hiện - Ứng dụng CNTT trong hoạt động làm quen với toán: Hoạt động lập số, thêm bớt, tách gộp các nhóm số lượng, giáo viên đã sử dụng các hình ảnh phù hợp, hấp dẫn tải trên mạng và tạo các hiệu ứng xuất hiện, âm thanh để gây hứng thú cho trẻ. Với hoạt động toán thông thường giáo viên phải chuẩn bị nhiều đồ dùng để chuẩn bị trò chơi ôn luyện, củng cố cho trẻ nhưng với giáo án điện tử, cô giáo đã thiết kế các trò chơi trên máy tính như trò chơi sắp xếp các nóm số lượng, thêm bớt, nối số tương ứng với nhóm số lượng. - Ứng dụng CNTT qua hoạt động làm quen chữ cái: Giáo viên đã sử dụng các hiệu ứng cho xuất hiện lần lượt các hình ảnh, các thẻ từ tương ứng để trẻ phát âm và tìm chữ cái trong từ, cho trẻ nhận dạng đặc điểm chữ qua các hiệu ứng cắt các nét chữ, tạo chữ cái giúp trẻ tri giác tốt cấu tạo các chữ cái. Ngoài ra, giáo viên đã tạo các trò chơi như ô chữ bí mật, vòng quay kỳ diệu, bù chữ còn thiếu, chữ nào biến mất... - Ứng dụng CNTT trong hoạt động làm quen với văn học: Với những bài thơ, câu chuyện trong chương trình, giáo viên đã dowload hình ảnh, tạo hiệu ứng cho các nhân vật, lồng ghép âm thanh cho câu chuyện, tạo ra các câu hỏi tương tác để đàm thoại với trẻ, giúp trẻ hiểu rõ hơn nội dung của bài thơ, câu chuyện đang học. Giáo viên đã sử dụng các video câu chuyện có sẵn trên mạng cho trẻ xem tạo hứng thú cho trẻ. - Ứng dụng CNTT hoạt động giáo dục âm nhạc: Giáo viên đã tải nhạc cho trẻ hát, các video bài hát cho trẻ xem và nghe. Giáo viên ứng dụng phần mềm để tổ chức các trò chơi âm nhạc như: Trò chơi nhảy nhanh chậm theo nhạc bằng cách sử dụng phần mềm tăng tempo cho các đoạn nhạc, sau đó cắt ghép với nhau. Trò chơi những nốt nhạc xinh, cô cho trẻ chọn nốt nhạc, nốt nhạc mở ra và có một bản nhạc, trẻ nghe và đoán tên bài hát và hát lại bài hát đó. - Ứng dụng CNTT trong hoạt động tạo hình Giáo viên đã quay video làm mẫu cho trẻ các hoạt động vẽ, nặn, gấp, xé dán như gấp thuyền, nặn các con vật cho trẻ quan sát và thực hiện. Như vậy, việc thiết kế bài giảng điện tử với video, hình ảnh âm thanh sống động, các trò chơi rất hấp dẫn và lôi cuốn trẻ. Nhưng các bài giảng điện tử có chất lượng còn ít, giáo viên tập trung chủ yếu là các bài giảng hoạt động kiểm tra, thi giáo viên giỏi. Để ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục mầm non thì trước
  11. 11 hết giáo viên cần phải tự học tập nâng cao kiến thức, kỹ năng công nghệ thông tin qua bạn bè đồng nghiệp, qua mạng Internet và tìm hiểu sử dụng các phần mềm. 3. 2.4. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phối hợp với phụ huynh học sinh để tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ tại gia đình. Qua điều tra, đa số phụ huynh học sinh trường mầm non Tuổi Hoa, Quận HBT, thành phố Hà Nội đều mong muốn con em mình được tham gia các hoạt động có ứng dụng công nghệ thông tin, được tiếp xúc với máy vi tính tại trường. Tuy nhiên, đa phần gia đình trẻ ở trường mầm non Tuổi Hoa, Quận HBT, thành phố Hà Nội không có máy vi tính, một vài gia đình trẻ có máy vi tính thì không cho trẻ chơi, nhiều phụ huynh rất e ngại trong việc cho trẻ tiếp xúc với máy tính sớm vì sợ trẻ làm hỏng máy, trẻ sẽ bị ảnh hưởng về mắt và sức khỏe. Phụ huynh học sinh trường trường mầm non Tuổi Hoa, Quận HBT, thành phố Hà Nội phần lớn là lao động nông thôn, thu nhập còn thấp nên ít có điều kiện để mua sắm thiết bị đồ dùng học tập cho con, đặc biệt là máy vi tính. Một số phụ huynh bận đi làm nên việc quan tâm đến việc học tập của con có phần hạn chế. Một số trẻ chưa mạnh dạn tự tin trong giao tiếp. Nên việc phối hợp với phụ huynh để ứng dụng công nghệ thông tin trong HĐDH trong gia đình đình rất khó khăn. Giáo viên trường mầm non Tuổi Hoa, Quận HBT, thành phố Hà Nội đã tìm hiểu và trao đổi với phụ huynh học sinh khuyến khích các gia đình cho các bé làm quen với máy vi tính và sử dụng cho trẻ xem video chuyện kể, nghe nhạc..., các phần mềm ứng dụng như phần mềm ABC, Kidsmart, bé làm họa sĩ, bài giảng Elearning... Từ đó nhiều phụ huynh đã hiểu được vai trò của ứng dụng CNTT để giáo dục trẻ thông qua các hình thức cho trẻ làm quen với máy tính. Giờ trả trẻ, giáo viên đã tăng cường sử dụng máy vi tính để mở nhạc thiếu nhi cho trẻ nghe, các video về các hoạt động khám phá, câu chuyện, bài thơ, tổ chức các trò chơi ôn luyện trên máy tính để trẻ chơi và xem. Ngoài ra, giáo viên đã tập trung giới thiệu cho trẻ biết về các bộ phận của máy tính gồm: màn hình, con chuột, bàn phím. Sau đó giáo viên đã làm chậm một số thao tác cho trẻ xem như: khởi động máy, cách nhấp chuột chọn biểu tượng, thoát chương trình GV cho trẻ lên làm thử thao tác, lần lượt và mọi lúc giúp cho trẻ nắm được một số thao tác cơ bản về việc sử dụng máy tính. Từ đó, giúp trẻ tự tin hơn trong việc sử dụng máy vi tính ở trường và ở nhà, phụ huynh học sinh cũng thấy được lợi ích to lớn của việc phối hợp với giáo viên để ứng dụng CNTT trong hoạt động giáo dục trẻ tại nhà. Vì vậy GV cần có sưu tầm đồ dùng dạy học linh hoạt, hấp dẫn thì sẽ gây sự chú ý, hứng thú của trẻ và sẽ đem lại kết quả cao trong quá trình giáo dục trẻ. Ngoài ra phụ huynh hiểu rõ được tầm quan trọng của việc giảng dạy trẻ bằng