Đề cương SKKN Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 giải tốt dạng Toán có lời văn
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương SKKN Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 giải tốt dạng Toán có lời văn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_cuong_skkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_2_giai_tot.docx
Nội dung tài liệu: Đề cương SKKN Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 2 giải tốt dạng Toán có lời văn
- thuộc vào từng dạng bài. - Lời giải đặt chưa logic với phép tính, lời giải còn thiếu ý, chưa hoàn chỉnh. - Một số học sinh không hứng thú với việc giải toán có lời văn dẫn đến chán nản không muốn làm bài. b. Về phía giáo viên - Giáo viên chưa chú ý nhiều đến hướng dẫn kĩ năng đọc đề Toán cho học sinh. Học sinh đọc vội vàng chưa chú ý vào những nội dung trọng tâm của đề. - Giáo viên còn sử dụng nhiều phương pháp đàm thoại cho học sinh, chưa thay đổi nhiều phương pháp mới. 3. Nội dung các biện pháp 3.1. Biện pháp 1: Phân loại học sinh, có kế hoạch phù hợp Tôi thực hiện điều tra, phân loại, nắm chắc từng đối tượng học sinh: học sinh đọc thông viết thạo, học sinh đọc còn đánh vần và học sinh cá biệt. Nắm chắc đối tượng học sinh, giáo viên sẽ đề ra được kế hoạch dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất giúp học sinh tiếp thu bài chậm biết làm toán, dạng toán có lời văn + Học sinh đọc thông viết thạo: + Học sinh đọc đánh vần ( 2/ ....em): + Học sinh cá biệt (1 em) : 3.2. Biện pháp 2: Rèn cho học sinh kĩ năng đọc, phân tích, tóm tắt đề toán Các em học sinh lớp tôi đang bị mắc vào một thói quen của lớp 1 là đọc để viết phép tính. Các con đọc rất nhanh và viết ra phép tính tương ứng luôn, điều đó gặp phải khó khăn thường xuyên nhầm lẫn khi học sang bài toán nhiều hơn, ít hơn .... ảnh hưởng tới việc giải toán có lời văn của các em. Tôi đã rèn cho các em kĩ năng đọc, phân tích, tóm tắt đề. Đây chính là những bước cơ bản nhưng lại mang yếu tố quyết định học sinh có đi được đến bước cuối cùng là giải toán không. - Rèn kĩ năng đọc đề toán: Để hình thành thói quen này, tôi yêu cầu học sinh đọc đề toán 3 lần: đọc to, đọc nhỏ và đọc thầm như vậy khi các em đọc được đề toán sẽ hiểu được nội dung, yêu cầu của đề. - Kĩ năng phân tích đề toán: Đây là kĩ năng giúp học sinh xác định được đề nội dung của đề toán, tìm hiểu một số thuật ngữ, nắm được nội dung đề toán, bài cho biết gì, bài yêu cầu gì? 3.3. Biện pháp 3: Rèn cho học sinh kĩ năng trình bày bài toán hoàn chỉnh a) Tóm tắt đề bài Hướng dẫn học sinh đọc đúng, hiểu đúng ngôn ngữ trong đề bài, biết phân tích ý nghĩa thực tế trong bài toán, trình bày bài toán một cách cô đọng, đủ ý để làm nổi bật phần đã cho và phần phải tìm, các bước đó gọi là tóm tắt bài toán. Cách 1: Tóm tắt dưới dạng sơ đồ, đoạn thẳng. Cách 2: Tóm tắt dưới dạng hình vẽ minh hoạ. Cách 3: Tóm tắt dưới dạng câu văn ngắn gọn.
- b) Lựa chọn phép tính thích hợp để giải toán. Hướng dẫn học sinh hiểu được bản chất của ngôn ngữ trong lời văn Dựa vào các dạng toán đã được phân chia để biết học sinh đang gặp khó khăn trong dạng bài tập nào. c) Trình bày lời giải Hướng dẫn học sinh thực hiện phép tính để tìm kết quả Trình bày lời giải, câu văn, ngôn từ phù hợp với học sinh lớp 2. 3.4. Biện pháp 4: Rèn cho học sinh nắm chắc các kiến thức cần nhớ năm được các dạng Toán có lời văn. Toán có lời văn đặc biệt có rất nhiều dạng bài, chính vì điều đó tôi luôn chú trọng đến việc phân loại các dạng bài để rèn các em học sinh. Khi học sinh nắm được các dạng bài rồi các em sẽ dễ dàng lựa chọn được cách tóm tắt, bên cạnh đó giúp các em dễ dàng giải toán. Với chương trình lớp 2, toán lời văn có những dạng bài sau: Dạng 1: Bài toán về hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị Đặc điểm của dạng bài này là có thuật ngữ hơn, kém với bài tôi hướng dẫn học sinh xác định được nhờ vào thuật ngữ. Bên cạnh đó lựa chọn phép tính phù hơp với bài toán. Nhờ vậy, học sinh xác định chính xác bài toán ở dạng bài hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị. Dạng 2: Bài toán về thêm, bớt một số đơn vị Dạng bài này tôi hướng dẫn học sinh xác định bằng số lượng thực tế của bài toán được thay đổi như đi xuống, đi lên, mua thêm, bớt nhờ vậy học sinh dễ dàng xác định được số lượng. 3.5. Biện pháp 4: Hướng dẫn học sinh tụ xây dựng một đề toán mới a. Đề toán đưa ra nhiều số liệu Với đề toán này tôi đưa ra một đề toán khuyết số liệu, yêu cầu học sinh điền số liệu vào và tự giải. Ví dụ: Lớp 2A trồng được....... cây xanh, lớp 2B trồng được ..... cây xanh. Hỏi cả hai lớp trồng được bao nhiêu cây xanh? b. Đề toán không đưa ra câu hỏi Ví dụ: Mai có 50 quyển sách, Hồng có ít hơn mai 21 quyển sách. Em hãy đặt câu hỏi cho bài toán rồi giải. c. Cho biết cách giải đề toán Tôi đưa ra 1 phép toán : 34 + 12 = 46 yêu cầu học sinh tự đặt đề toán tương ứng với phép toán và giải. d. Đặt một đề toán tương tự đề toán mẫu Trong quá trình đặt đề toán học sinh thường mắc phải lỗi số liệu không đúng thực tế, thiếu chính xác, giáo viên cần giúp các em tư duy. Tôi đã đưa ra một đề toán mẫu và yêu cầu các em đặt theo mẫu đó. 3.6. Biên pháp 5: Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
- a. Sử dụng trò chơi học tập. Trò chơi học tập là một phương pháp có hiệu quả cao khi sử dụng trong giảng dạy với bất cứ môn học nào. Giúp học sinh thích thú tham gia bên cạnh đó vẫn đáp ứng đủ các yêu cầu cần thiết về kiến thức. Trong toán học trò chơi còn rèn luyện cho học sinh nhiều kĩ năng như: kĩ năng thảo luận nhóm, kĩ năng phản xạ, kích thích khả năng tư duy, tính toán nhanh. b. Vận dụng linh hoạt kĩ thuật dạy học tích cực, chủ động KWL Kĩ thuật KWL là một kĩ thuật, phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh rất hiệu quả. Học sinh được hoạt động nhiều, tìm tòi các kiến thức trong bài toán. Nhờ vậy khả năng học sinh được bộc lộ, học sinh tích cực học tập. 3.7 Biện pháp 6: Phát động các phong trào thi đua học tập Tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động thi đua và khuyến khích các em học sinh tham gia như: Câu lạc bộ toán học, em yêu toán học... qua các hoạt động đó các em phát huy được khả năng giải toán của mình và học hỏi ở đó các cách giải, hướng dẫn những bạn giải chưa tốt để tốt hơn. Chính nhờ biện pháp này chất lượng môn Toán lớp tôi được cải thiện rõ rệt, các em mạnh dạn, tự tin trao đổi và học hỏi lẫn nhau. 4. Kết quả Sau khi nhận lớp, tôi đã làm một khảo sát về thực tế học sinh lớp và có kết quả: (Bảng khảo sát) PHẦN III: KẾT LUẬN I. Kết luận Qua nghiên cứu và áp dụng, tôi nhận thấy rằng đề tài tôi nghiên cứu và những vấn đề được trình bày trên là hoàn toàn đúng đắn và có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Qua một thời gian áp dụng, tôi thấy học sinh lớp có những chuyển biến rõ rệt về giải toán có lời văn. Các em đã nắm chắc được quy trình giải toán, viết đầy đủ lời giải, phép tính và đap số, bên cạnh đó các em luôn tự giác trong học tập, biết giúp đỡ nhau. Bản thân giáo viên khi dạy cũng thấy hứng thú, say sưa nâng cao chất lượng giờ dạy tốt hơn. II. Bài học kinh nghiệm 1. Với bản thân 2. Với nhà trường 3. Với bộ môn III. Đề xuất 1. Đối với tổ, nhóm chuyên môn 2. Đối với trường Tiểu học nơi đang công tác 3. Đối với Phòng giáo dục và Đào tạo

