Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy - Học môn Toán chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy - Học môn Toán chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_nang_cao_chat_luong_day_h.docx
Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Toán chương trình giáo dục phổ.pdf
Nội dung tài liệu: Báo cáo sáng kiến Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy - Học môn Toán chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho học sinh Lớp 2
- 3 dụng những biện pháp dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh thì khẳng định được rằng chất lượng học tập môn Toán sẽ được nâng lên. Trong thực tế những năm giảng dạy môn Toán ở lớp 2 và trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp qua các tiết dự giờ, tôi thấy một số học sinh trong quá trình học còn thụ động, không ham thích học môn Toán vì nó quá khô khan, không thú vị, các em còn lúng túng khi giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, vận dụng chưa linh hoạt và nhanh nhẹn trong một số trường hợp đơn giản trong thực tế cuộc sống. Thế nên người giáo viên cần phải tích cực đổi mới các phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, để trên cơ sở đó học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học một cách nhanh nhẹn, nhạy bén để tự chiếm lĩnh kiến thức mới. Xuất phát từ chương trình dạy học và thực tế dạy học môn Toán lớp 2 hiện nay, tôi đã nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy - học môn Toán chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho học sinh lớp 2”. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến 1.1. Đặc điểm chung về tình hình lớp học - Năm học 2022 - 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2E với 34 học sinh (18 nam, 16 nữ). Đa số các em đều chăm ngoan, tích cực học tập, kĩ năng tính toán khá tốt. - Được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của ban giám hiệu, các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương, sự quan tâm của các bậc phụ huynh, lớp học được trang bị tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất: Mỗi lớp có một phòng học, phòng học có đủ ánh sáng, quạt mát, ti vi màn hình rộng,.... - Giáo viên chủ nhiệm có trình đào tạo, có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình với học sinh, nhận thức được vai trò của người thầy, có khả năng nắm được mục tiêu, kiến thức, dạy tốt lớp phụ trách, lập được kế hoạch chủ nhiệm lớp. Đa số học sinh ngoan, có
- 4 ý thức học tập tốt, tích cực tham gia các hoạt động của lớp, của nhà trường. - Giáo viên được phép chủ động trong việc xây dựng kế hoạch dạy học và có sự theo dõi kiểm tra chỉ đạo thường xuyên của tổ khối chuyên môn, lãnh đạo trường. Cơ bản học sinh biết đọc, biết viết và hiểu nội dung bài Toán sau khi thực hiện, chất lượng học sinh biết tính toán chiếm đa số. Học sinh đoàn kết và có ý thức hỗ trợ nhau khi học môn Toán. 1.2. Hạn chế và nguyên nhân hạn chế Giáo viên: + Giáo viên nghiên cứu nội dung bài dạy nên việc vận dụng phương pháp, hình thức dạy học còn lúng túng, chưa phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Một số giáo viên hướng dẫn giải toán chưa rõ ràng làm cho bài toán trở nên phức tạp, học sinh khó hiểu. + Một số giáo viên còn ngại nghiên cứu và ngại thực hiện nhiều hình thức dạy học mà chỉ muốn dập khuôn cho nhanh, cho dễ, đỡ mất thời gian chuẩn bị dẫn đến tiết học còn đơn điệu, dễ gây nhàm chán. + Giáo viên chưa động viên, khuyến khích và giúp đỡ một cách hợp lý, kịp thời các nhóm, các đối tượng học sinh trong quá trình học tập. + Giáo viên ít quan tâm đều đến từng đối tượng học sinh, chưa phân chia đối tượng học sinh, chưa thường xuyên liên lạc với phụ huynh. Học sinh: + Trình độ nhận thức của học sinh trong lớp không đồng đều nên khó khăn trong việc tiếp cận với cùng một nội dung chương trình học tập. + Một số học sinh còn mải chơi, ý thức tự giác trong học tập còn chưa cao, không tập trung vào bài giảng của thầy cô, chưa chú ý nhiều trong giờ học. + Nhiều học sinh đọc đề chưa trôi chảy nên không biết tóm tắt, không biết phân tích đề, không biết yêu cầu của đề. + Một số học sinh khi giải toán còn nhút nhát, không tự tin khi làm bài, chưa có tinh thần học hỏi, chưa chủ động, tích cực trong giờ học, chưa hăng hái phát biểu xây dựng bài.
- 5 + Đa số phụ huynh là công nhân, thường xuyên phải làm tăng ca, nên không có thời gian để quan tâm đến việc học tập của con em, không theo dõi các em khi học tập ở nhà, phó mặc mọi việc học cho nhà trường và thầy cô. + Một số ít phụ huynh phải đi làm ăn xa, con gửi lại cho ông bà nuôi dưỡng nên không thể quan tâm đến việc học của các em, thiếu thốn đời sống tình cảm khiến trẻ không chú tâm vào học tập. Từ thực trạng và nguyên nhân đó, ngay từ đầu năm học, sau khi nhận lớp 2E, tôi đã tiến hành khảo sát thực tế môn Toán của lớp tôi. Đề khảo sát môn Toán Lớp 2: BÀI KIỂM TRA KHẢO SÁT ĐẦU NĂM MÔN TOÁN LỚP 2 Năm học: 2022 - 2023 PHẦN I: Trắc nghiệm (5 điểm) Khoanh tròn vào chữ cái đặt trước đáp án đúng hoặc làm theo yêu cầu của bài tập: Câu 1. Đúng điền Đ, sai điền S ? Số 75 đọc là bảy mươi lăm Số tròn chục lớn nhất là số 99 Số bé nhất có hai chữ số là 11 50 cm + 42 cm = 92 cm Câu 2. Kết quả của phép tính 74 - 54 là: A. 20 B. 24 C. 28 D. 34 Câu 3. Kết quả của phép tính 34 + 45 là: A. 78 B. 79 C. 97 D. 71 Câu 4. Dấu cần điền vào chỗ chấm 70 + 3 80 - 10 là : A. + B. D. = Câu 5. Cho 36 + ..< 39. Số cần điền vào chỗ chấm là: A. 3 B. 2 C. 8 D. 10 Câu 6. Bàn học của em dài khoảng: A. 1cm B. 5cm C. 10 bước chân D. 8 gang tay
- 6 Câu 7: Quan sát hình sau và viết chữ thích hợp vào chỗ chấm. An Hòa Bình Buổi tối, các bạn An, Hòa và Bình đi ngủ theo các giờ khác nhau. Bạn .. đi ngủ sớm nhất, bạn........................đi ngủ muộn nhất. Câu 8: Hùng có 5 viên bi màu vàng, 5 viên bi màu xanh. Hùng cho Nam 3 viên. Vậy Hùng còn lại.......................viên bi ? Câu 9: Dựa vào hình vẽ, em hãy chọn nhận xét đúng. A. Bên tay phải bạn Hiếu có 2 khối hộp chữ nhật. B. Bên tay trái bạn Hiếu có 5 khối hộp chữ nhật. C. Bên tay trái bạn Hiếu có 2 khối lập phương. D. Bên tay trái bạn Hiếu có 3 khối lập phương. PHẦN II: Tự luận ( 5 điểm) Câu 10: Đặt tính rồi tính 19 + 60 7 + 22 69 - 4 86 - 62 Câu 11: Tính 25 + 10 + 2 = 76 - 6 - 20 = 2 + 6 - 8 =
- 7 Câu 12: Trong đợt ủng hộ chương trình “Tình nguyện mùa đông năm 2022”, lớp 1A ủng hộ được 45 quyển vở, lớp 1B ủng hộ được 43 quyển vở. Hỏi cả hai lớp ủng hộ được bao nhiêu quyển vở? Phép tính: = Trả lời: Cả hai lớp ủng hộ được................quyển vở. Câu 13: Hình bên có...............hình tam giác? Kết quả khảo sát thực tế đầu năm 2022 - 2023 khi chưa áp dụng sáng kiến: Điểm dưới Điểm 5 - 6 Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10 5 Số Số Số Số % % % % lượng lượng lượng lượng 2/33 6,1 10/33 30,3 14/33 42,4 7/33 21,2 Bảng thống kê trên cho thấy, chất lượng học sinh đạt được chủ yếu là Hoàn thành, số học sinh Hoàn thành Tốt còn rất hạn chế và vẫn còn học sinh chưa đạt yêu cầu. 2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến Nhằm phát huy các năng lực của mỗi học sinh trong giờ học toán cũng như để nội dung các hoạt động học tập không nghèo nàn, đơn điệu, tôi đã luôn mạnh dạn đổi mới các hình thức, phương pháp dạy học một cách linh hoạt trong quá trình giảng dạy của mình và đã có nhiều thành công. Bản thân tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm mong muốn trao đổi, chia sẻ với đồng nghiệp để cùng nhau học hỏi thêm kinh nghiệm giúp học sinh học tập tốt môn Toán được tốt hơn. * Tính mới của sáng kiến Học sinh được học môn Toán thông qua nhiều hình thức, đặc biệt là
- 8 những kênh hình sinh động, hấp dẫn, gần gũi. Góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh, đáp ứng yêu cầu học tập hiện nay trong thời kỳ hội nhập. Giúp hình thành và phát triển cho học sinh kĩ năng giao tiếp, hợp tác, tự tin, tích cực trong học tập cũng như trong mọi hoạt động. Các giải pháp được thực hiện như sau: 2. 1. Giải pháp 1: Xây dựng Kế hoạch môn học, Kế hoạch bài dạy phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình Bản thân giáo viên cần trang bị kiến thức, nắm chắc mục tiêu, yêu cầu cần đạt của môn Toán trong CT GDPT 2018 của học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 2 nói riêng. Trên cơ sở kế hoạch giáo dục của Tổ, của nhà trường, giáo viên xây dựng kế hoạch môn học. Tôi tiến hành tìm hiểu đối tượng học sinh qua việc trao đổi với các thầy cô chủ nhiệm lớp 1 và kết quả khảo sát cuối năm: Năm học 2022 - 2023 tôi được phân công chủ nhiệm lớp 2E. Lớp học có 34 học sinh trong đó mức độ nhận thức của các em không đồng đều. - Một số em có năng khiếu môn Toán: Em: Nguyễn Thị Phương Thảo, Phạm Đức Cường, Phùng Thị Trang Anh, Nguyễn Minh Nhật, Phạm Thị Phương Thảo,... - Một số em tiếp thu còn chậm như: Em: Vũ Hải Nam, Trần Thị Anh Thư, Phạm Quang Phát, Trần Thị Kim Chi, Đoàn Văn Minh, Nguyễn Thị Kim Ngân. Chất lượng học sinh được bàn giao, kết quả các hoạt động giáo dục của học sinh năm học trước: - Học sinh hoàn thành xuất sắc, đạt điểm 9; 10 môn Toán: 7 em. - Học sinh đạt điểm 7; 8 môn Toán: 17 em. - Học sinh đạt điểm 5; 6 môn Toán: 10 em. Sau khi đã xây dựng được Kế hoạch môn học một cách phù hợp và nắm
- 9 chắc đối tượng học sinh của lớp mình chủ nhiệm, tôi tiến hành xây dựng kế hoạch bài dạy - đây chính là yếu tố hết sức quan trọng của giáo viên. Để một bài giảng có chất lượng và đạt hiệu quả cao đòi hỏi giáo viên phải tìm hiểu kĩ nội dung chương trình môn Toán lớp 2, nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy, xác định đúng mục tiêu những kiến thức trọng tâm của bài, đảm bảo đúng yêu cầu về kiến thức kĩ năng. Thiết kế các hoạt động học tập phải đa dạng, linh hoạt phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. Giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi, các bài tập ở các mức độ khác nhau để tất cả học sinh đều được tham gia tích cực, lựa chọn bài tập sao cho phù hợp với với khả năng nhận thức của từng đối tượng học sinh. Giáo viên phải có sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức học tập sao cho linh hoạt, hấp dẫn, thu hút sự tham gia của học sinh. Như vậy, ta thấy rằng: Kế hoạch bài học có chất lượng thì tiết học mới đạt hiệu quả. Động cơ là một trong những yếu tố quan trọng, giúp học sinh có hứng thú trong học Toán. Vì vậy, việc tạo ra động cơ trong quá trình dạy học Toán là vấn đề cấp thiết hàng đầu. Để tạo ra được động cơ giáo viên cần giúp học sinh thấy được ứng dụng quan trọng, hữu ích của toán học trong cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, trong quá trình dạy học bên cạnh những bài Toán trong SGK, tôi đã thiết kế một số tình huống, bài Toán có nội dung thực tế mà các em hay gặp trong đời sống thực tiễn hàng ngày. Tình huống đó có dụng ý sư phạm hấp dẫn không chỉ về nội dung, mà còn cả về hình thức, phải giúp học sinh huy động vốn hiểu biết và kiến thức cũ để giải quyết tình huống. Qua đó học sinh thấy được ứng dụng của phép toán, trong giải quyết các tình huống trong đời sống thực tiễn, góp phần tạo động cơ, hứng thú thực hiện phép toán. Ví dụ: Trong bài: “Phép chia”: - GV đưa ra tình huống: “Có 6 quả cam chia đều vào 3 đĩa. Hỏi mỗi đĩa có mấy quả cam?” - Từ tình huống này, học sinh sẽ đưa ra được phép tính 6 : 3 = ?
- 10 - GV giúp HS phát hiện ra đây là một “phép chia” mà chúng ta sẽ học trong bài ngày hôm nay. 2. 2. Giải pháp 2: Đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học. Chú trọng các hoạt động giúp học sinh tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức a) Đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy học Trong dạy học tôi luôn có phương châm giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức cho học sinh hoạt động học tập còn học sinh phải tự tìm ra tri thức. Vì vậy trong các giờ học Toán tôi đã sử dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực giúp học sinh phát triển một số năng lực, phẩm chất. Việc lựa chọn phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho phải phù hợp với nội dung bài học, nhận thức của học sinh, điều kiện thực tế. Đa số học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 1, 2 nói riêng đều rất hiếu động, thích khám phá, tìm tòi. Vì vậy trong dạy học người giáo viên cần phải có sự sáng tạo trong việc tổ chức các hình thức, phương pháp học tập khác nhau nhằm gây hứng thú, thu hút học sinh tham gia tích cực. Nếu như người giáo viên không biết sử dụng linh hoạt mà cứ cứng nhắc một hình thức hay một phương pháp thì các em sẽ cảm thấy uể oải, chán nản, tiết học trở nên nặng nề. Ví dụ 1: Khi hướng dẫn HS thành lập bảng nhân 5, trong bài “Bảng nhân 5” SGK Toán lớp 2, tôi sử dụng phương pháp dạy học thực hành. Bước 1: GV chia lớp thành 6 nhóm, yêu cầu HS lấy các hạt ngô hoặc đỗ đã chuẩn bị từ trước sau đó thực hành, hoàn thiện vào phiếu bài tập để lập bảng nhân 5. Bước 2: GV yêu cầu mỗi nhóm thao tác trên các hạt đã chuẩn bị sẵn, mỗi lần lấy là 5 hạt, số lượt lấy lần lượt 1, 2, 3, 9. Sau đó viết phép tính và kết quả tương ứng. Bước 3: GV cho các nhóm thực hành. Bước 4: GV cho các nhóm báo cáo kết quả.
- 11 PHIẾU HỌC TẬP Số hạt lấy mỗi Số lần STT Phép tính nhân tương ứng lần lấy 1 5 1 5 x 1 = 5 2 5 2 5 x 2 = 10 3 5 3 5 x 3 = 15 4 5 4 5 x 4 = 20 5 5 5 5 x 5 = 25 6 5 6 5 x 6 = 30 7 5 7 5 x 7 = 35 8 5 8 5 x 8 = 40 9 5 9 5 x 9 = 45 Qua việc GV tổ chức thực hành trên các vật thật, học sinh tự lập được bảng nhân 5. Từ đó giúp các em hiểu bản chất của phép nhân. Ví dụ 2: Bài: “Số bị chia, số chia, thương”: Trong bài này tôi sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn. - GV đưa ra tình huống: “Chia đều vào 10 bông hoa vào 2 lọ. Hỏi mỗi lọ có bao nhiêu bông hoa?” - GV cho HS làm việc cá nhân, suy nghĩ để tìm ra phép tính. (HS: Để tìm số bông hoa của mỗi lọ ta có phép tính: 10 : 2 = ?) - GV yêu cầu HS tìm kết quả của phép tính chia 10 : 2 = ? (GV tổ chức cho HS tìm cách thực hiện phép tính chia 10 : 2 = ? (có thể chia bằng đồ dùng trực quan) theo kĩ thuật khăn trải bàn. - GV chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 HS. - HS ngồi vào đúng vào vị trí của mình. - HS suy nghĩ để trả lời câu hỏi: “Nêu cách thực hiện phép tính chia 10 :
- 12 2) - HS làm việc cá nhân, suy nghĩ, thao tác với đồ dùng trực quan, tìm kết quả. Sau thời gian làm việc cá nhân là 1 phút, các thành viên trong nhóm chia sẻ ý kiến của mình và cả nhóm thống nhất kết quả). - Cả nhóm viết ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0). - GV cho một nhóm tốt nhất lên trình bày, các nhóm khác nhận xét và chỉ trình bày những ý kiến mà nhóm bạn không có, để tránh mất thời gian. - GV nhận xét. Ví dụ 3: Bài 14: Luyện tập chung (tiết 1) Khi nhìn vào nội dung bài học này, từ bài 1 đến bài 4 chỉ thấy hàng loạt các con số, nếu giáo viên yêu cầu học sinh tự thực hiện tính rồi giáo viên sửa bài chỉ bằng hình thức vấn đáp sẽ dễ gây sự mệt mỏi, chán nản cho học sinh. Nhưng khi giáo viên biết kết hợp nhiều hình thức học tập khác nhau (cá nhân, nhóm đôi, cả lớp ), nhiều phương pháp học tập khác nhau (giảng giải, vấn đáp, thuyết trình, trò chơi ) thì tiết học này trở nên nhẹ nhàng, hấp dẫn, thu hút sự chú ý, tham gia tích cực của học sinh và đạt hiệu quả cao. Cụ thể như sau: Bài 1: Tính nhẩm. (hình thức: cả lớp, phương pháp: trò chơi ) 8 + 6 = 13 - 7 = 7 + 8 = 5 + 7 = 12 - 5 = 16 - 8 = Ở bài tập này, giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “truyền điện ” để cả lớp cùng nhau tham gia sửa bài.
- 13 Bài 2: Tìm chuồng cho mỗi con chim (hình thức: nhóm, phương pháp: trò chơi) Ở bài tập này, giáo viên sẽ cho học sinh cho học sinh chơi trò chơi “tiếp sức”, hai nhóm lên tham gia trò chơi, giáo viên sẽ quan sát và nhận xét, tuyên dương đội thắng cuộc. Bài 3: Giải toán. (hình thức: cả lớp, phương pháp: vấn đáp, giải quyết vấn đề). Sau khi giáo viên gọi 2 - 3 học sinh đọc đề bài toán, giáo viên sẽ hỏi để học sinh trả lời: + Bài toán cho biết gì? + Bài toán hỏi gì ?

