Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở Lớp 2

docx 22 trang Chăm Nguyễn 09/05/2026 210
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_nang_cao_chat_luong_giai_toan_co_loi_van_d.docx
  • pdfBáo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở Lớ.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo Biện pháp Nâng cao chất lượng giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở Lớp 2

  1. 2 QUY ƯỚC VIẾT TẮT Tiểu học - TH Sáng kiến kinh nghiệm - SKKN Sách giáo khoa - SGK Ví dụ - VD Học sinh - H, HS Giáo viên - GV
  2. 3 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Toán cùng với các môn học khác trong trường Tiểu học có những vai trò quan trọng góp phần đào tạo nên những con người phát triển toàn diện. Toán học là môn khoa học tự nhiên có tính logic và tính chính xác cao. Nó góp phần rèn luyện cho học sinh phương pháp suy luận, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển óc thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh. Mặt khác, các kiến thức, kĩ năng môn Toán ở Tiểu học còn có nhiều ứng dụng trong đời sống thực tế. Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc dạy giải toán có lời văn trong chương trình toán bậc Tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng là hết sức cần thiết. Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học khả năng suy luận, phân tích của các em còn hạn chế nên việc dạy học sinh giải toán có lời văn sẽ góp phần giúp các em phát triển được khả năng tư duy, quan sát và có trí tưởng tượng phong phú, đặt nền móng cho các em học tốt môn Toán ở các lớp trên. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy khối lớp 2, tôi thấy các em được làm quen với toán có lời văn từ lớp 1 nhưng mới chỉ dừng lại ở việc viết phép tính để tìm kết quả và trả lời sau đó chứ HS chưa phân tách thành các dạng toán cụ thể và chưa trình bày bài giải hoàn chỉnh. Lên đến lớp 2 HS được học một số dạng toán cụ thể và trình bày bài giải toán có lời văn thành bài giải trọn vẹn
  3. 4 Đây là một khó khăn với học sinh vì các em không chỉ phải đọc đề toán mà các em cần phải hiểu đề toán để biết bài toán thuộc dạng toán nào, tóm tắt đề bài, và giải bài toán đầy đủ, Vì vậy có những học sinh tính toán tốt nhưng khi học giải toán có lời văn các em còn lúng túng trong việc phân tích để hiểu đề bài dẫn đến viết câu trả lời chưa đúng, Đặc biệt với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn nếu học sinh đọc đề bài không kĩ, không hiểu rõ đề bài thì học sinh sẽ làm sai. Qua giảng dạy trong năm học 2021-2022 cũng là năm đầu tiên áp dụng chương trình GDPT 2018, tôi thấy HS mắc sai nhiều nhất khi giải toán có lời văn là dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị. Học sinh thường không đọc kĩ đề, chỉ dựa vào chữ “ ít hơn hay nhiều hơn” để giải toán. Vậy làm thế nào để có thể nâng cao chất lượng giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở lớp 2? Đó không chỉ là trăn trở của của riêng tôi mà là của tất cả giáo viên khối lớp 2. Là một giáo viên trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối lớp 2, qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi cùng đồng nghiệp, tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp giải toán có lời văn trong quá trình hướng dẫn học sinh của lớp 2A3 trong năm học 2022- 2023 và tôi thấy đã có tiến triển rõ rệt. Trong năm học 2023- 2024, tôi vẫn tiếp tục sử dụng các biện pháp này. Chính vì thế tôi mạnh dạn trình bày “Biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở lớp 2”.
  4. 5 PHẦN II: NỘI DUNG 1. Thực trạng công tác dạy và học Trong những năm qua, được nhà trường phân công giảng dạy lớp 2, tôi nhận thấy thực trạng công tác dạy và học có những thuận lợi và khó khăn sau đây: 1.1. Thuận lợi - Ngành giáo dục luôn có sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát. Nhà trường luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện để giáo viên chúng tôi thực hiện đổi mới phương pháp dạy học. - Phòng học được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học hiện đại cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới. - Đa số các em học sinh ngoan, có ý thức học tập tốt, tích cực tham gia các hoạt động của lớp, của nhà trường. Các em có đầy đủ đồ dùng học tập. Địa phương là nơi có truyền thống hiếu học. Các cấp lãnh đạo rất quan tâm và đầu tư cho giáo dục. Đa số phụ huynh đồng thuận, ủng hộ và luôn phối hợp với giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh. - Giáo viên thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học vào tiết học. 1.2. Khó khăn - Phần lớn học sinh lớp tôi là con em nông dân nên các em nhút nhát, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học tập, tiếp thu bài chậm và mau quên. Nhiều em chưa tập trung trong giờ học; có những em thường xuyên làm việc riêng trong lớp. Do đó kết quả học tập chưa cao. - Một số em kĩ năng đọc chưa tốt nên đọc chậm và không hiểu đề bài, chưa phân biệt được cái đã cho và cái phải tìm trong giải toán có lời văn. - Trong khi làm bài do tính ham chơi nên các em không chú ý hoặc làm bài cho xong nên đọc đề bài không kĩ dẫn đến viết câu trả lời hoặc thực hiện tính sai.
  5. 6 - Đặc biệt nhiều em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, một số em bố mẹ đi làm ăn xa phải ở với ông bà nên việc học tập của các em thực sự chưa được quan tâm. Học sinh ít được luyện tập thêm bài ở nhà. 1.3. Nguyên nhân của thực trạng - Trình độ nhận thức của học sinh chưa đồng đều, kĩ năng đọc, phân tích và tóm tắt bài toán còn chưa thành thạo. - Các em chưa có động cơ học tập đúng đắn. Một số em còn rụt rè, nhút nhát, không dám đưa ra ý kiến của mình. - Một số phụ huynh chưa quan tâm nhiều đến việc học của con em, phụ huynh còn phó mặc việc học tập của con em họ cho nhà trường. - Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cùng với internet và các dịch vụ vui chơi, giải trí hấp dẫn đã lôi cuốn các em. Để kiểm chứng thực trạng, giữa kì 1 năm học 2021-2022, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh lớp 2A3 do tôi giảng dạy tại Trường Tiểu học Thị Trấn Gia Bình. Kết quả khảo sát của học sinh năm học 2021-2022 (trước khi áp dụng biện pháp) như sau: Điểm 9- 10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5 Lớp Sĩ số SL % SL % SL % SL % 2A3 36 9 25 15 41,7 10 27,8 2 5,5 Bảng tổng hợp khả năng giải toán của HS: Tổng HS giải Những lỗi HS thường mắc. số HS toán tốt Lỗi trình bày Chưa xác định được Sai câu Sai danh bài giải dữ kiện bài toán trả lời số 36 9 7 10 6 10
  6. 8 Hę và tên hoc sinh: Lóp: .Ž Ă Š- DÈ KHÂO SÁT HQC SINH LÓP 2 Môn: Toán Nhan xét cúa giá ""“"”"““":““"""" "”"”""'”" "“"" "'“" ....ØJ6/*č...Âôn..éd7..áp...bż.Ëi..Œ’č ..Òżc..Áż/.,.........., i.è¢. a..Ó“'.äyy . .*.. °'................ Bäi 1: To mpt có 9 h9c sinh, to hai nhieu how to m9t 3 h9c sinh. Hòi to hai có bao nhiêu hpc sinh? Bài giãi Bài 2: Mot dàn gà có 16 con gà méi, gà trong ít hon gà mái 9 con. Hói có bao nhiêu con gà trong? Bài giãi
  7. 10 Qua kết quả khảo sát tôi thấy đây là một phần kiến thức quan trọng của chương trình lớp 2 mà còn nhiều học sinh nắm chưa vững nên cần phải khắc phục ngay để giúp các em có kiến thức vững vàng học lên các lớp trên và giúp các em vận dụng vào cuộc sống hàng ngày. Vì vậy, trong quá trình dạy giải toán có lời văn cho học sinh tôi đã áp dụng các biện pháp sau: 2. Biện pháp nâng cao chất lượng dạy giải toán có lời văn dạng nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị ở lớp 2. 2.1. Biện pháp 1: Điều tra, phân loại đối tượng học sinh. * Mục tiêu: Giúp giáo viên thấy được lỗi sai cơ bản của học sinh trong giải toán, từ đó tìm cách khắc phục phù hợp. * Cách tiến hành: Vào đầu năm, khi tiếp nhận lớp, qua quan sát việc học hàng ngày và qua một số bài kiểm tra, tôi tiến hành lập bảng phân loại theo từng mặt hạn chế của các em. Kết quả điều tra của lớp 2A3 năm học 2022-2023 do tôi chủ nhiệm: Tổng số Đọc yếu Tính toán Chưa biết phân Chưa biết cách HS yếu tích đề bài viết câu trả lời. 34 5 6 8 4 Trên cơ sở đó tôi tiến hành rèn theo những mặt tồn tại của các em. Rèn lồng ghép vào các tiết học, các môn học. Đối với những học sinh đọc yếu, hiểu đề còn chậm, trong tiết Tiếng Việt tôi cũng tăng cường rèn đọc và cho HS tìm hiểu văn bản. Tôi cũng khuyến khích các em đọc những cuốn truyện tranh để giúp các em đọc tốt hơn và có thói quen đọc sách. Đối với HS tính toán chậm, kĩ năng tính chưa tốt tôi tăng cường cho các em làm thêm những bài tính đơn giản và trong giờ truy bài tôi hướng dẫn Ban cán sự lớp tổ chức một số trò chơi vui nhộn có lồng ghép các phép tính để tạo hứng thú và cơ hội cho các bạn yếu rèn luyện kĩ năng tính. Nếu các bạn tính sai gợi ý cho các bạn thực hiện tính lại để bạn tự phát hiện ra chỗ sai của mình.
  8. 11 2.2. Biện pháp 2: Rèn kĩ năng giải toán có lời văn dạng toán nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị trong chương trình Toán 2. * Mục tiêu: Giúp học sinh có kĩ năng giải toán thông qua 4 bước. * Cách tiến hành: Mỗi khi dạy học sinh giải toán có lời văn, tôi rèn cho học sinh thực hiện theo 4 bước sau: Bước 1: Tìm hiểu bài Thông qua việc đọc bài toán, HS phải đọc kĩ đề bài để hiểu rõ bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì? Khi đọc bài toán phải hiểu thật rõ một số từ, thuật ngữ quan trọng để xác định đúng dạng và làm bài cho đúng. Cách phân biệt dạng toán nhiều hơn, ít hơn một số đơn vị như sau: - Cho HS đọc bài toán và xác định xem bài toán cho biết gì và bài toán hỏi gì? - Sự vật cần tìm và sự vật bài toán đã cho biết có khác nhau không? - Sự vật cần tìm như thế nào với sự vật mà bài toán đã cho biết? + Nếu sự vật cần tìm nhiều hơn sự vật đã biết thì đó là dạng toán nhiều hơn một số đơn vị. + Nếu sự vật cần tìm ít hơn sự vật đã biết thì đó là dạng toán ít hơn một số đơn vị. * Dạng toán Nhiều hơn một số đơn vị: Ví dụ 1: (trang 50): Có 6 bông hoa màu đỏ, số bông hoa màu vàng nhiều hơn số bông hoa màu đỏ là 3 bông. Hỏi có bao nhiêu bông hoa màu vàng? + Sự vật cần tìm là số bông hoa màu vàng khác với sự vật đã cho là số bông hoa màu đỏ.
  9. 12 + Cái cần tìm là số bông hoa màu vàng nhiều hơn cái đã cho là số bông hoa màu đỏ là 3 bông. Đây là dạng toán nhiều hơn một số đơn vị. Ví dụ 2: Việt có 8 viên bi và Việt ít hơn Nam 4 viên bi. Hỏi Nam có mấy viên bi? + Sự vật cần tìm là số viên bi của Nam khác với sự vật đã cho là số viên bi của Việt. + Số bi viên bi của Việt ít hơn của Nam nghĩa là số viên bi của Nam nhiều hơn số viên bi của Việt là 4 viên. Đây là dạng toán nhiều hơn một số đơn vị. * Dạng toán ít hơn một số đơn vị: Ví dụ 3 (trang 51): Mai gấp được 8 cái thuyền, Nam gấp được ít hơn Mai 2 cái. Hỏi Nam gấp được mấy cái thuyền? + Sự vật cần tìm là số thuyền Nam gấp được khác với sự vật đã cho là số thuyền Mai gấp được. + Cái cần tìm là số thuyền Nam gấp được ít hơn cái đã cho là số thuyền Mai gấp được. Đây là dạng toán ít hơn một số đơn vị. Ví dụ 4: Bút chì của Lan dài 18cm. Bút chì của Lan dài hơn bút chì của Huệ 5cm. Hỏi bút chì của Huệ dài bao nhiêu xăng- ti- mét? + Sự vật cần tìm là bút chì của Huệ dài bao nhiêu xăng- ti- mét khác với sự vật đã cho là bút chì của Lan dài 18cm. + Bút chì của Lan dài hơn bút chì của Huệ 5cm nghĩa là bút chì của Huệ ngắn hơn bút chì của Lan. Đây là dạng toán ít hơn một số đơn vị. Khi HS đã phân tích và hiểu đề toán thì GV cho HS chuyển sang tóm tắt bài toán. Bước 2. Tóm tắt bài toán: - Là bước quan trọng để thể hiện phần trọng tâm và toát lên những cái đã cho và cái phải tìm của đề bài. - Bước này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tóm tăt bằng lời văn ngắn gọn hoặc bằng sơ đồ đoạn thẳng.