Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_viet_dung_c.doc
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả
- + ut/uc: chim cúc, bão lục + uôn/uông: khuôn nhạc, buồn tắm + uôt/uôc: rét buốc, chải chuốc + ươn/ương: lươn bổng, sung sướn 2. Những yếu tố khách quan, chủ quan trong việc lập thành tích, nêu sáng kiến, giải pháp trong công tác, đề tài nghiên cứu được đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ, công tác a. Về thanh điệu: Theo các nhà ngữ âm học, người Việt từ Nghệ An trở vào không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Hay nói đúng hơn trong phương ngữ Trung và Nam không có thanh ngã. Mặt khác, số lượng tiếng mang 2 thanh này khá lớn. Do đó lỗi về dấu câu rất phổ biến. b. Về âm đầu : Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, s/x. d/gi. Mặt khác, người Miền Nam còn lẫn lộn v/d .Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: /k/ ghi bằng c,k,qu ) dĩ nhiên là có những quy định riêng cho mỗi dạng, nhưng đối với học sinh tiểu học (nhất là học sinh chậm) thì rất dễ lẫn lộn. c. Về âm chính: Có 2 nguyên nhân gây ra sự lẫn lộn về âm chính trong các vần này: - Nguyên nhân thứ nhất là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đôi /ie, ươ, uô/ lại được ghi bằng các dạng iê ,yê, ia, ya; ươ, ưa; uô, ua (bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua-muôn); âm đệm /w/ lại được ghi bằng 2 con chữ /u/ và /o/ (ví dụ: huệ, hoa). - Nguyên nhân thứ hai là do cách phát âm lẫn lộn trong phương ngữ Nam Bộ đối với các âm chính trong hầu hết các vần trên. d. Về âm cuối : Người Miền Nam phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng, n/nh và t/c/ch. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối /i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lay), u/o (trong:
- sau/sao) do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh khu vực phía Nam. 3. Tên sáng kiến, giải pháp trong công tác, đề tài nghiên cứu: ĐỀ TÀI: Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả 4. Nội dung của sáng kiến, giải pháp trong công tác, đề tài nghiên cứu *. Tích cực luyện phát âm đúng: Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải là người phát âm rõ tiếng, đúng chuẩn, đồng thời chú ý luyện phát âm cho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm cuối. Việc rèn phát âm bắt đầu phải được thực hiện trong tiết Tập đọc và được thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài trong tất cả các tiết học như Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn **. Phân biệt chính tả bằng cách phân tích, so sánh: Song song với việc phát âm, giáo viên có thể áp dụng biện pháp phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn, phát hiện những điểm khác nhau đồng để học sinh lưu ý và ghi nhớ. Ví dụ: Khi viết tiếng “bàng” học sinh dễ lẫn lộn với tiếng “bàn”, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích cấu tạo hai tiếng này: - bàng = b + ang + thanh huyền - bàn = b + an + thanh huyền. So sánh để thấy sự khác nhau: Tiếng “bàng” có âm cuối là “ng”, tiếng “bàn” có âm cuối là “n” . Học sinh ghi nhớ điều này, khi viết, các em sẽ không viết sai. ***.Phân biệt bằng giải nghĩa từ: Một biện pháp khác để khắc phục lỗi chính tả cho học sinh là giúp học sinh hiểu nghĩa chính xác của từ. Việc giải nghĩa từ thường được thực hiện trong tiết Tập đọc, Luyện từ và câu nhưng trong tiết Chính tả cũng là một biện pháp tích cực, khi học sinh không thể phân biệt từ khó dựa vào phát âm hoặc phân tích cấu tạo tiếng.
- Ví dụ: Phân biệt bàn và bàng (trong từ đơn): Bàn= cái bàn – bàng =cây bàng hoặc phân biệt bác và bát : bác=anh của ba - bát = đồ dùng ăn cơm (bát đũa)... Với những từ nhiều tiếng, từ nhiều nghĩa giáo viên phải đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để gợi lại nghĩa từ hoặc giúp học sinh giải nghĩa từ. ****. Ghi nhớ một số mẹo luật chính tả: Một số hiện tượng chính tả mang tính quy luật đối với hàng loạt từ có thể giúp cho học sinh khắc phục lỗi chính tả một cách rất hữu hiệu. Ngay từ lớp 1, các em đã được làm quen với luật chính tả đơn giản như: các âm đầu k, gh, ngh chỉ kết hợp với các nguyên âm i, e, ê. Luật bổng - trầm: Qui luật về dấu hỏi, ngã trong các từ láy (mát mẻ, vui vẻ, sạch sẽ...) Trong các từ láy điệp âm đầu, thanh (hay dấu) của 2 yếu tố ở cùng một hệ bổng (ngang/sắc/hỏi) hoặc trầm (huyền/ngã/nặng). Để nhớ được 2 nhóm này, giáo viên chỉ cần dạy cho học sinh thuộc nguyên tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng = ngã. Để nhớ luật này, cần cho học sinh nhớ câu thơ sau : Chị Huyền vác nặng ngã đau Anh Sắc không (ngang) hỏi một câu gọi là Phần lớn chữ viết dấu hỏi, dấu ngã đều có thể giải quyết bằng con đường mẹo luật. Đa số các từ láy âm đầu, nếu yếu tố đứng trước mang thanh huyền, nặng, ngã thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh ngã, nếu yếu tố đứng trước mang thanh ngang, sắc, hỏi thì yếu tố đứng sau sẽ mang thanh hỏi (hoặc ngược lại). Ví dụ: • Ngang + hỏi: Lẻ loi, trẻ trung, vui vẻ • Sắc + hỏi: Mát mẻ, vắng vẻ • Hỏi + hỏi: Thỏ thẻ, hổn hển, rủ rỉ • Huyền + ngã: Ngỡ ngàng, lững lờ, buồn bã • Nặng + ngã: Đẹp đẽ, mạnh mẽ, vật vã
- • Ngã + ngã: Dễ dãi, nghễnh ngãng, Tuy nhiên cũng có những trường hợp cần phải nhờ thuộc lòng vì không theo nguyên tắc : Ngang- sắc = hỏi/ Huyền- nặng = ngã Ví dụ : mệt mỏi , tưởng tuợng, lẳng lặng, ngoan ngoãn Ngoài ra, giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh một số mẹo luật khác như: + Để phân biệt âm đầu tr/ch: Đa số các từ chỉ đồ vật trong nhà và đều bắt đầu bằng ch, ví dụ: chăn, chiếu, chảo, chổi, chai, chày, chén, chum, chạn, chuông, chiêng, hay tên các con vật cũng bắt đầu bằng ch, ví dụ :chồn, chí, chuột, chó, chuồn chuồn, châu chấu, chào mào, chiền chiện, chẫu chàng, chèo bẻo, chìa vôi + Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây đều bắt đầu bằng s: Sả, si, sồi, sứ, sung, sắn, sim, sao, su su, sầu đâu, sa nhân, sơn trà, sặt, sậy, sấu, sến, săng lẻ, sầu riêng, so đũa hay tên con vật cũng đều bắt đầu bằng s: sam, sán, sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sứa, sáo sậu, săn sắt, sư tử, sơn dương, + Để phân biệt các vần dễ lẫn lộn: Đa số từ chỉ trạng thái bấp bênh, không vững chắc có vần ênh: Gập ghềnh, khấp khểnh, chông chênh, lênh đênh, bập bềnh, chếnh choáng, chệnh choạng, lênh khênh, bấp bênh, công kênh Hầu hết các từ tận cùng là ng hoặc nh là từ tượng thanh: oang oang, đùng đoàng, loảng xoảng, đoàng đoàng, sang sảng, rổn rảng, ùng oàng, quang quác, eng éc, beng beng, chập cheng, leng keng, lẻng kẻng, đùng đùng, thùng thùng, bình bịch, thình thịch, rập rình, xập xình, huỳnh huỵch Vần uyu chỉ xuất hiện trong các từ tượng hình: khuỷu tay, khúc khuỷu, ngã khuỵu, khuỵu chân; vần oeo chỉ xuất hiện trong các từ ngoằn ngoèo, khoèo chân.
- *****. Vận dụng củng cố bằng các dạng bài tập: Giáo viên nên cho học sinh thực hiện các dạng bài tập chính tả khác nhau để giúp học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học, làm quen với việc sử dụng từ trong văn cảnh cụ thể. Sau mỗi bài tập, giáo viên giúp học sinh rút ra các quy tắc chính tả để các em ghi nhớ. Ngoài ra, việc kiểm tra “viết đúng chính tả” của giáo viên đối với học sinh không chỉ ở phân môn Chính tả mà cũng cần lưu ý nhắc nhở học sinh trong tất cả các môn học khác trong chương trình, đặc biệt là phân môn Tập làm văn. Việc này phải được tiến hành kiên trì và liên tục để giúp học sinh dần có ý thức rèn kỹ năng “viết đúng” trong mọi tình huống. 5. Phạm vi áp dụng, khả nãng phổ biến Việc phát hiện lỗi chính tả, thống kê, tìm nguyên nhân gây lỗi, từ đó đưa ra các biện pháp khắc phục là rất cần thiết, không thể thiếu trong quá trình dạy - học Tiếng Việt ở tất cả các khối lớp. Nhưng không phải chỉ đưa ra các biện pháp khắc phục là có thể thực hiện một cách có hiệu quả. Sửa chữa, khắc phục lỗi chính tả là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, bền bỉ, không được nóng vội. Bởi vì có những học sinh tiến bộ ngay trong vài tuần nhưng cũng có những học sinh thì sự tiến bộ diễn ra rất chậm, không phải vài tuần, có khi vài tháng, thậm chí cả một học kỳ. Nếu giáo viên không biết chờ đợi, nôn nóng thì chắc chắn sẽ thất bại. 6. Thời điểm áp dụng: Từ tháng 9/2017 đến tháng 1/2018 7. Hiệu quả mang lại: Trong quá trình giảng dạy, với việc áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy học sinh đã có tiến bộ khá rõ rệt. Tuy rằng đây mới chỉ là kết quả hết sức khiêm tốn và việc “giúp học sinh giảm bớt lỗi chính tả” là một quá trình lâu dài. Song với những giải pháp trên, nếu tiếp tục rèn luyện các em sẽ có kỹ năng viết đúng đạt yêu cầu. Kết quả được cụ thể qua bảng so sánh chất lượng của lớp:
- Sĩ số Xếp loại Đầu năm Giữa HKI Cuối HKI A 5 8 10 48 B 30 30 33 C 13 10 5 III. Các danh hiệu thi đua đã được khen thưởng Năm Danh hiệu Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận học thi đua danh hiệu thi đua; cơ quan ban hành quyết định 2012- Hoàn thành xuất Số 4523/QĐUB 21/8/2013 2013 sắc nhiệm vụ Số 159/BK – UB 2012- GĐ Nhà giáo hiếu 1/ QĐ – KHBD ngày 16/11/2013 2013 học 2013 2013- Chiến sĩ Số 82/QĐ-UBND ngày 20/8/2014 của UBND QBT 2014 thi đua cơ sở 2104- GĐ hiếu học tiêu Số 07/QĐKT-KHBD ngày 15/11/2015 2015 biểu 2015 2015- GĐ học tập tiêu Số 08/QĐKT-MTTQ-BD ngày 15/11/2016 2016 biểu 2016 2016- GĐ hiếu học tiêu Số 10/QĐKT-KHBD ngày 15/11/2017 2017 biểu 2017 2017- GVCN lớp Giỏi Số 84/QĐ-GDĐT ngày 8/12/2017 2018 cấp Quận CHỦ TỊCH Bình thạnh, ngày .tháng năm 2018 HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGƯỜI BÁO CÁO TRẦN HỮU CẨM TÚ

