Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 viết đúng chính tả

docx 20 trang Chăm Nguyễn 21/03/2026 210
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 viết đúng chính tả", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_5_v.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 viết đúng chính tả

  1. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU:..................................................................................................1 1. Lí do chọn đề tài................................................................................................1 2. Mục đích nghiên cứu. ........................................................................................1 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu...................................................................1 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. .......................................................................................2 5. Phạm vi và thời gian nghiên cứu. ......................................................................2 6. Các phương pháp nghiên cứu............................................................................2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ........................................................................................3 1. Thực trạng của đề tài. ........................................................................................3 2. Nội dung cần giải quyết của giải pháp. .............................................................3 3. Các giải pháp thực hiện. ....................................................................................4 3.1. Phân chia tổ, nhóm học tập.............................................................................4 3.2. Rèn kĩ năng ghi nhớ mặt chữ của từng từ. .....................................................4 3.3. Luyện phát âm cho đúng chuẩn trên cơ sở đó viết đúng chính tả. .................4 3.4. Khuyến khích học sinh đọc và sử dụng từ điển chính tả................................5 3.5. Rèn kĩ năng viết đúng chính tả qua nắm vững các quy định về viết nguyên âm và phụ âm trong hệ thống chữ Quốc ngữ. .......................................................5 3.5.1. Âm /k/..........................................................................................................5 3.5.2. Âm g, ng và âm gh, ngh. .............................................................................6 3.5.3. Âm đệm /u/..................................................................................................6 3.5.4. Nguyên âm đôi /ie/. .....................................................................................6 3.5.5. Nguyên âm đôi /uo/. ....................................................................................6 3.6. Rèn kĩ năng cho học sinh sửa các lỗi chính tả do ảnh hưởng của phương ngữ.........................................................................................................................6 3.6.1. Viết sai âm đầu. ...........................................................................................6 3.6.2. Viết sai vần..................................................................................................7 3.6.3. Viết sai thanh : thanh hỏi, thanh ngã. ..........................................................8 3.7. Giúp học sinh nắm vững các quy tắc viết hoa cơ bản. ...................................8 3.8. Giúp học sinh chú ý để học sinh khắc sâu kiến thức của từng bài chính tả. ..9 3.9. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà.................................................................10 3.10. Giáo viên phải chú trọng chữ viết của mình hằng ngày trên lớp................10 3.11. Tổ chức trò chơi trong tiết học. ..................................................................10 3.12. Rèn chữ viết đúng, viết đẹp trong các hoạt động khác...............................11 3.13. Phối kết hợp với phụ huynh học sinh trong việc rèn chữ viết đúng, viết đẹp. ......................................................................................................................12 4. Kết quả sau khi thực hiện. ...............................................................................12 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ......................................................................14 1. Kết luận. ..........................................................................................................14 2. Khuyến nghị, đề xuất.......................................................................................14 PHỤ LỤC MINH CHỨNG.................................................................................16
  2. 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng của cấp Tiểu học nói riêng và các bậc học khác nói chung. Mục đích của việc dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: “Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy và hình thành nhân cách con người Việt Nam; bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Các yêu cầu đó được thể hiện hoá qua các phân môn như: Chính tả, Luyện từ và câu, Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn Trong đó phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình của môn Tiếng Việt ở trường phổ thông, nhất là trường Tiểu học. Mặc dù được học tập chính tả dưới hình thức thực hành là chủ yếu, nhưng nhiều năm qua chất lượng học tập phân môn Chính tả vẫn còn thấp. Các bài văn, bài kiểm tra của học sinh đều mắc nhiều lỗi chính tả. Viết sai chính tả dẫn đến lệch nghĩa, giáo viên đọc, chấm bài cần phải đọc kĩ mới hiểu được học sinh muốn viết điều gì. Đây là một thực trạng đặt ra cho giáo viên dạy Tiểu học, các cấp quản lý cần nổ lực tìm kiếm những giải pháp thiết thực nhằm nâng dần chất lượng học chính tả và rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh. Trước tình trạng học sinh cấp Tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng còn viết sai chính tả, làm ảnh hưởng đến kết quả học tập của các em ở môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác. Vì thế trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi luôn dành nhiều thời gian suy nghĩ để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để giảm tỉ lệ học sinh viết sai chính tả?” hay “Làm thế nào giúp học sinh được học phân môn Chính tả một cách khoa học và sử dụng công cụ này suốt những năm tháng trong thời kì học tập ở nhà trường cũng như trong suốt cuộc đời?”. Với ý nghĩ trên, tôi đã mạnh dạn chọn phân môn Chính tả trong môn Tiếng Việt lớp 5 để nghiên cứu nhằm giúp học sinh viết đúng chính tả và đúc kết thành đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 viết đúng chính tả” nhằm giúp cho các em học tốt hơn về phân môn chính tả. 2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài này là: Phát hiện, tìm nguyên nhân và biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 5. Rèn kĩ năng viết đúng chính tả qua việc nắm chắc mẹo luật chính tả và các quy tắc chính tả để nâng cao chất lượng chữ viết đúng cho học sinh. Đề tài này giúp học sinh nắm vững được các quy tắc chính tả đơn giản, hạn chế những sai sót về lỗi chính tả thông thường. Phát âm
  3. 2 đúng và viết đúng. Hiểu được nghĩa của từ khi viết. Nâng dần trình độ chính tả để làm nền tảng cho các môn học khác. 3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: - Khách thể: Học sinh lớp 5B – Trường Tiểu học Dương Liễu A – Huyện Hoài Đức - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 viết đúng chính tả 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm ra những biện pháp hữu hiệu để đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh học tốt môn Chính tả ở khối học sinh lớp 5 trường Tiểu học Dương Liễu A. Tích lũy kinh nghiệm cho bản thân, phục vụ việc giảng dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng ở Tiểu học Tiến hành thực nghiệm giáo dục để chứng minh đổi mới phương pháp dạy học phân môn Chính tả ở khối học sinh lớp 5 trường Tiểu học Dương Liễu A là có hiệu quả. 5. Phạm vi và thời gian nghiên cứu: - Phạm vi thực hiện: Lớp 5B - Trường Tiểu học Dương Liễu A. - Thời gian thực hiện: Năm học 2021 - 2022 Đề tài mà tôi nghiên cứu cũng được các nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứu và đưa vào áp dụng giảng dạy phân môn chính tả trong nhà trường. Tuy đạt được những kết quả đáng kể, song vẫn còn không ít hạn chế với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó giáo viên và học sinh đóng vai trò rất quan trọng. Ở đây tôi đã đi sâu vào điều tra, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc học sinh viết sai chính tả, từ đó đề ra một số biện pháp hữu hiệu nhất để rèn luyện cho học sinh viết chính tả đúng hơn, chính xác hơn. Giúp học sinh viết đúng chính tả là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng nên ngay từ đầu năm học tôi đã bắt đầu nghiên cứu và thực hiện thử nghiệm trên lớp 5 (đây là lớp tôi trực tiếp chủ nhiệm) với tổng số học sinh là 40 em. Trong đề tài này tôi nghiên cứu từ khâu điều tra, xem xét tập viết chính tả của học sinh để nắm được tình hình chính tả của lớp, phân tích các nguyên nhân viết sai, từ đó đề ra biện pháp khắc phục thích hợp giúp các em có thể viết chính tả tốt hơn. 6. Các phương pháp nghiên cứu : Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau : - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu quyết định về mẫu chữ viết trong trường Tiểu học và quy định về cách viết đúng chính tả. - Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tìm đọc những tài liệu có liên quan đến cách sửa sai khi viết chính tả.
  4. 3 - Phương pháp điều tra thông tin: Khảo sát học sinh, tổng hợp số lỗi học sinh mắc phải trong mỗi bài kiểm tra GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của đề tài: Đầu năm 2021 – 2022, dưới sự phân công của ban giám hiệu nhà trường tôi được giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5B. Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằng một số em có chữ viết đẹp rõ ràng, bài viết sạch sẽ và đúng chính tả thường tập trung ở những em nổi bật, những em có năng khiếu từ các lớp dưới. Ngược lại những em viết chữ chưa đẹp, sai nhiều lỗi chính tả tập trung ở những em học chậm tiến. Qua tìm hiểu thực tế trên lớp và ở gia đình các em cho thấy nguyên nhân chủ yếu của tình hình nêu trên là: *Về phía giáo viên: Chưa mạnh dạn áp dụng đổi mới phương pháp dạy học để giúp học sinh có kĩ năng viết đúng chính tả. Chưa phân loại lỗi chính tả của học sinh. Chữa lỗi chính tả cho học sinh chưa thường xuyên. *Về phía học sinh: Một số học sinh không nắm được nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong Tiếng Việt, không nắm được vị trí phân bổ giữa các kí hiệu. Do các em chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chính tả vì quá trình học chính tả có liên quan mật thiết với quá trình trí nhớ. Do các em chưa có động cơ, thái độ đúng đắn trong việc học và rèn luyện viết chính tả, khi viết các em còn lơ là, không tập trung vào bài viết, lâu ngày thành thói quen cẩu thả “viết quen tay”. Vì có nhiều em khi hỏi về quy tắc viết hoa thì các em trả lời tương đối đầy đủ nhưng vẫn mắc rất nhiều lỗi về viết hoa. Nhiều em còn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em ít có điều kiện học tập, rèn luyện ở nhà nhiều nên vốn từ ngữ của các em ít được mở rộng. Tóm lại: Đa số học sinh của lớp tôi chủ nhiệm tôi nhận thấy đa số các em chưa có ý thức về ích lợi của việc viết chữ đẹp, đúng chính tả cũng như các em chưa thấy được tác hại của việc viết chưa đẹp, mắc nhiều lỗi chính tả. Vì vậy giúp các em có ý thức để học tốt phân môn chính tả là bổn phận và trách nhiệm của mỗi người giáo viên nói chung và bản thân tôi nói riêng. Thông qua bài Chính tả: Nghe – viết : Lương Ngọc Quyến (Lớp 5 –tuần 2) chất lượng viết chính tả đầu năm của học sinh lớp 5 năm học 2021 – 2022 . ( Có bảng minh chứng kèm theo )
  5. 4 2. Nội dung cần giải quyết của giải pháp: Với thực trạng đau lòng trên, tôi đã quyết tâm vận dụng những kinh nghiệm, những hiểu biết của mình đã tích luỹ được qua nhiều năm đứng trên bục giảng tìm ra nhiều biện pháp phù hợp, nhằm cung cấp cho các em quy tắc sử dụng hệ thống chữ viết và hình thành kĩ năng viết thông thạo Tiếng Việt. Muốn đạt được điều đó cần giải quyết tốt một số nội dung sau: Phân chia tổ, nhóm học tập, sắp xếp lại chỗ ngồi phù hợp. Rèn kĩ năng ghi nhớ mặt chữ của từng từ. Giải thích cho học sinh hiểu ích lợi của việc viết chữ đẹp, đúng chính tả. Từ đó rèn luyện các em tính cẩn thận, chính xác, thói quen trình bày vở sạch, viết chữ đẹp và viết đúng chính tả. Khắc phục những hạn chế do lỗi phát âm của địa phương. Giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của một số từ trong bài chính tả một cách rõ ràng, cụ thể. Hướng dẫn học sinh nắm vững các quy tắc viết hoa cơ bản. Giúp học sinh chú ý để khắc sâu kiến thức của từng bài chính tả. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Giáo viên phối kết hợp với gia đình giám sát việc học ở nhà của học sinh để giúp các em có hướng học tập đúng đắn. Giáo viên phải chú trọng chữ viết của mình hằng ngày trên lớp. Khuyến khích học sinh đọc và sử dụng từ điển chính tả, rèn các kĩ năng viết đúng và sửa lỗi chính tả cho học sinh. Kết hợp tổ chức trò chơi trong các tiết học giúp học sinh hứng thú học tập. Phối kết hợp với phụ huynh để nhắc nhở học sinh rèn chữ. 3. Các giải pháp thực hiện: 3.1. Phân chia tổ, nhóm học tập: Nhóm học tập: Mỗi nhóm gồm 2 em ngồi cùng một bàn, tôi không quên bố trí ngồi xen kẽ giữa em nổi bật với em chậm tiến để từ đó em nổi bật sẽ tác động và kèm những em chậm tiến. Mỗi tổ học tập tôi chia 6 em. Tổ trưởng là những em học nổi bật, có giọng đọc chuẩn, viết chính tả tốt để có thể vừa theo dõi vừa giúp đỡ các bạn còn hạn chế chính tả trong tổ. Song song với việc chia tổ, nhóm học tập tôi phân công các em cùng tổ, cùng nhóm có nhiệm vụ là nhắc nhở, kiểm tra nhau về những yêu cầu do giáo viên đặt ra để chuẩn bị cho bài chính tả sắp học (vào 10 phút đầu giờ). Từ đó tạo cho học sinh có thói quen tự giác tích cực học tập. 3.2. Rèn kĩ năng ghi nhớ mặt chữ của từng từ: Đây là một hình thức rèn luyện và học tập thường xuyên được sử dụng và có những hiệu quả. Đối với biện pháp này nên sử dụng ngay từ lớp 1 trong việc dạy
  6. 5 học sinh phát âm, dạy tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản. Dựa vào các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả những chữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau. Việc ghi nhớ mặt chữ của từng từ đòi hỏi công sức và thời gian bền bỉ, mà số lượng từ ngữ lại nhiều cho nên không thể chỉ bằng lòng với cách ghi nhớ máy móc này. 3.3. Luyện phát âm cho đúng chuẩn trên cơ sở đó viết đúng chính tả : Do đặc điểm phát âm của vùng miền làm cho người ta dễ nói sao viết vậy. Đây là nguyên nhân lớn dẫn đến viết sai chính tả. Vì thế điều quan trọng để sửa sai chính tả trước hết phải rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc đúng, phát âm đúng, cần khắc phục và sửa chữa cách phát âm cá nhân hay do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương. Ở lớp 5, chính tả thường là dạng nghe - viết, nhớ viết, chữ Tiếng Việt là chữ ghi âm, vì thế đọc đúng sẽ viết đúng. Thực tế học sinh lớp tôi có rất nhiều em còn phát âm lẫn lộn giữa những từ, tiếng có phụ âm đầu “tr / ch”, “l / n”,vần “ăt / ât”; “ân / ăn”. Theo kết quả điều tra cho thấy trong lớp đã có đến 10 em mắc phải trường hợp này. Để giải quyết dứt điểm hạn chế trên, trước tiên người giáo viên phải đọc chuẩn xác, rõ ràng, dễ nghe, dễ hiểu để học sinh cảm thụ bài và đọc đúng. Về phía học sinh, tôi uốn nắn cho các em một cách thật tỉ mỉ những từ, tiếng này nhất là trong phân môn Tập đọc. Vào những giờ luyện đọc tôi đặc biệt lưu tâm đến cách phát âm của những em này. Mỗi khi các em phát âm sai tôi liền sửa sai kịp thời, cố gắng thường xuyên và có nhận xét thật cụ thể về cách phát âm của từng cá nhân. Dần dần sẽ hình thành cho các em cách phát âm đúng dẫn đến việc các em viết đúng. Tôi uốn nắn rèn luyện cho các em không những ở phân môn Tập Đọc mà còn cả trong phần viết từ, tiếng khó của bài chính tả. Ví dụ: Từ: “trai tráng” các em đọc sai thành “chai cháng” khi gặp (đọc) từ này tôi cho học sinh phân tích tiếng “trai” gồm có phụ âm đầu “tr” ghép với vần “ai” nên phải đọc là “trai” không đọc là “chai” – tiếng “tráng” gồm có phụ âm đầu “tr” ghép với vần “ang” và thanh sắc nên phải đọc là “tráng” không đọc là “cháng”. Khi đọc các em phải uốn cong lưỡi lên. Nếu các em đọc “chai cháng” thì sẽ bị sai nghĩa của từ “trai tráng” ≠ “chai cháng”. Hướng dẫn học sinh đọc đúng tiếng có dấu thanh hỏi, thanh ngã trước tiên tôi phân tích cho các em hiểu cách phát âm tiếng mang thanh hỏi khác với tiếng mang thanh ngã (tiếng mang thanh hỏi thì phát âm hơi nặng và ngắn, còn đối với tiếng mang thanh ngã thì phát âm nhẹ, hơi cao giọng). Ví dụ: vẻ, trẻ, kỉ...thì phát âm hơi nặng, ngắn. vẽ, mỡ, kĩ, sữa thì phát âm nhẹ, hơi cao giọng.
  7. 6 Đặc biệt lưu ý là trong giờ chính tả khi đọc cho các em viết tôi luôn đọc thật to, tốc độ đọc vừa phải để các em nghe rõ, tôi còn nhắc các em phải chú ý lắng nghe cách phát âm của cô mà viết cho đúng. Ở lớp công việc này tôi không chỉ dừng lại ở chỗ sửa sai cách phát âm của các em trong giờ học chính tả, Tập đọc mà còn sửa sai trong cả những giờ học khác, ngay cả trong sinh hoạt giao tiếp hằng ngày để hình thành cho học sinh thói quen phát âm đúng, viết đúng. Tôi đã làm thường xuyên công việc này và nhận thấy kết quả có sự chuyển biến rõ rệt (trước đây 10 em mắc phải nay còn 2 em). Tuy nhiên, muốn cho học sinh không quên và khắc phục những hạn chế trên thì đòi hỏi giáo viên phải thực hiện công việc đó lặp đi lặp lại hằng ngày, thường xuyên và phải liên tục để các em không còn mắc phải những lỗi do thói quen phát âm sai của địa phương. 3.4. Khuyến khích học sinh đọc và sử dụng từ điển chính tả: Từ điển chính tả là loại từ điển tập hợp các tiếng hoặc từ dễ viết sai chính tả. Mỗi tiếng hay từ trong từ điển đều được thể hiện ở dạng chính tả chuẩn mực. Khi viết một văn bản nào đó, nếu người viết còn lưỡng lự hoặc hoài nghi cách viết một tiếng hay một từ nào đó thì có thể tra từ điển rồi viết theo, miễn là phải tìm đúng tiếng hay từ phù hợp với nội dung cần biểu đạt. Tôi đã gợi ý cho học sinh mua và sử dụng quyển Từ điển chính tả Tiếng Việt – Hoàng Phê chủ biên NXB GD 1988. 3.5. Rèn kĩ năng viết đúng chính tả qua nắm vững các quy định về viết nguyên âm và phụ âm trong hệ thống chữ Quốc ngữ 3.5.1. Âm /k/ : Viết bằng chữ “k” khi đứng trước các nguyên âm hẹp : e, ê, i. VD: kiến, kềnh, kẻng, Nếu đứng trước các nguyên âm khác (a,ă,â,o,ô,ơ,u,ư,ươ,uô,ưa,ua) mà viết “k” là sai. Ngoại lệ: Mê – kông, ka – ki. Viết bằng chữ “c” khi đứng trước các nguyên a,ă,â,o,ô,ơ,u,ư,ươ,uô,ưa,ua. VD: con, cá, cẳng, cân, cống, cụt, cứ, Nếu đứng trước các nguyên âm e, ê, I mà viết “c” là sai. Viết bằng “q” khi đứng trước âm đệm “u”. VD: quan, quyên, quăng, khi không có âm đệm thì trước đó không được viết “q”. Giáo viên cần lưu ý học sinh về sự biến thể của chữ Quốc ngữ: các vần có âm đệm là “o” (oa, oan, oang, oat, oac, oe, oet, oăn, oăng, ) khi đứng sau “q” thì viết “o” thành “u” (quả, quét, quãng, quăn, ) Trường hợp đặc biệt : Tổ quốc 3.5.2. Âm g, ng và âm gh, ngh: Viết là “g” và ng khi đi trước các âm a,ă,â,o,ô,ơ,u,ư,ươ,uô,ưa,ua. VD: gà, gỗ, gõ, gắng, gân, gù, gừ, nga, ngu, ngư, ngô, ngơ
  8. 7 Viết là “gh” và ngh khi đứng trước các nguyên âm I, e, ê, iê, ia.VD: ghi, ghế, nghe, nghê, nghĩa, nghiên Nếu viết lẫn lộn giữa hai nhóm trên thì đều sai 3.5.3. Âm đệm /u/: Viết bằng chữ “u” khi phụ âm đầu là q: quốc, quân, quen, quyền, quê Viết bằng chữ “u” khi đi trước các nguyên âm â, ê, ya, yê. VD: huân, huệ, huynh, khuya, nguyện, Viết bằng “o” khi đi trước các nguyên âm a, ă, e. VD: ho, khoăn, toét, 3.5.4. Nguyên âm đôi /ie/: Viết là “iê” khi âm tiết có âm đầu, âm cuối nhưng không có âm đệm: chiên, tiết, tiếng, nghiện, Viết là “yê” khi âm tiết có thể không có âm đầu, âm đệm nhưng có âm cuối: yên, yết, chuyện, tuyết, nguyệt, Viết là “ia” khi âm tiết không có âm đệm và âm cuối: tia, chia, Viết là “ya” khi âm tiết không có âm cuối nhưng có âm đệm và âm đầu: khuya. Khi viết nếu không theo những quy định trên thì đều sai chính tả. 3.5.5. Nguyên âm đôi /uo/: Viết là “uô” khi có âm cuối: tuổi, chuồng, chuột, Viết là “ua” khi không có âm cuối: mua, chua, khua, 3.6. Rèn kĩ năng cho học sinh sửa các lỗi chính tả do ảnh hưởng của phương ngữ: 3.6.1. Viết sai âm đầu : *tr và ch : Mẹo luật để rèn luyện và sửa chữa là: Trong các từ láy vần, trừ bài viết là tr (trót lọt, trọc lóc, trụi lủi, ) còn lại đều viết là “ch – l” (cheo leo, chói lọi, ), “l – ch” (lau chau, lã chã, ), “ch – m” (chào mào, ), “ch – r” (chàng rang, ), “ch – v” (choáng váng, chênh vênh, ) Các từ Hán Việt mang dấu nặng hoặc dấu huyền đều viết với “tr”: trịnh trọng, truyền thống, vũ trụ, trần thế, triệu phú, Về nghĩa các từ chỉ người trong gia đình viết với “ch”: cha, chú, chị, cháu, chắt, chồng. Các từ chỉ đồ dung trong nhà cũng được viết với “ch”: chổi, chum, chén, chiếu, chăn, chảo, chậu, chai, chày, (trừ cái tráp)
  9. 8 Các từ đồng nghĩa với các từ mở đầu bằng “gi” thì đều viết bắt đầu bằng “tr”: tranh – giành; tro – gio; trả - giả; trồng – giống; *s và x : Trong từ láy vần, chỉ có âm đầu “x”, không có “s” : lòa xòa; liêu xiêu, lao xao, lộn xộn, xích mích, (ngoại lệ: lụp xụp có thể viết thành lụp sụp) Đi với các vần oa, oe, uê là âm đầu “x” chứ không phải “s”: xuề xòa, xoen xoét, xoay xở, xòe tay, xoắn xuýt, Tên các thức ăn đồ dùng nấu nướng thường viết với “x”: xôi, xúc xích, lạp xưởng, phở xào, *r và d và gi : Chỉ có “d” mới đi trước các vần có âm đệm (oa, oă, uê, uy) còn “r” và “gi” thì không: dọa, doanh, duyên, duệ, doãn, duyệt, (trừ từ gốc Pháp: dây cu – roa). Các tiếng hán Việt với “r”, tiếng nào mang thanh ngã hoặc nặng thì viết với “d” (duyệt, dũng, ) tiếng nào mang thanh hỏi hoặc thanh sắt thì viết với “gi” (giáo, giả, ) Về nghĩa có nhiều từ tượng thanh bắt đầu bằng “r”: (rào rào, rì rầm, rúc rích, răng rắc, ra rả, réo rắt, và có nhiều từ mô tả trạng thái rung động cũng bắt đầu bằng “r”: run rẩy, rung rinh, rập rình, rón rén, rộn ràng, Có những cặp đồng nghĩa có các âm đầu phối hợp thành cặp “l – r”: lỗ - rỗ, lắp – ráp, hoặc cặp “s – r”: siết - riết, sang - rạng, sắp - rắp, dựa vào đó mà viết các từ tương ứng bắt đầu bằng “r” 3.6.2. Viết sai vần : *Vần ưu và iu : Vần “ưu” chỉ được viết ở một số từ (bưu điện, lưu trữ, lưu trú, hưu trí, lựu đạn, cứu, cửu, sưu, tửu, tựu, ) còn lại là “iu” *Vần ươu và iêu : Vần “ươu” chỉ có một vài từ (rượu, hươu, ốc bươu, con khướu, bướu cổ, bươu đầu) còn lại đều viết là “iêu” *Vần ươu và ươi : Vần “ươu” chỉ có một vài từ (chửi, ngửi, gửi, khung cửi), còn lại là vần “ươi” *Vần uôi và ui : Trong các từ láy không có vần “uôi”, chỉ có vần “ui”. Vì vậy khi viết các từ này nên viết với vần “ui”: lầm lũi, nhẵn nhụi, đen đủi, ngậm ngùi, hắt hủi, Những từ đơn mang vần “ui” thường có nghĩa như sau : - Chỉ hành động hướng xuống dưới: chui, cúi, dúi, chúi, - Chỉ hành động đầy tới: ủi, dũi, xui, xúi, dùi, - Chỉ hành động rút lui: lủi, lụi, vùi, lui,
  10. 9 *Vần iêm và im, vần iêp và ip, vần iêu và iu : Trong các từ Hán Việt thường chỉ có các vần iêp, iêu: chiếm hữu, ưu điểm, nhiếp ảnh, tiếp tế, siêu thị, thiểu số, ngược lại các từ gốc Việt thường có các vần im, ip, iu: màu tím, chú thím, húp híp, theo kịp, hẩm hiu, ngượng nghịu, 3.6.3. Viết sai thanh : thanh hỏi, thanh ngã Một số vùng địa phương không phát âm đủ 6 thanh của Tiếng Việt mà lẫn lộn một số thanh với nhau, tiêu biểu là lẫn thanh hỏi và thanh ngã. Việc rèn luyện viết đúng và sửa chữa lỗi khi viết hai thanh này có thể dựa vào quy tắc sau đây: Ở các từ láy âm thanh của hai tiếng phải cùng nhóm: nhóm bổng (hỏi, sắc, không) hoặc nhóm trầm (huyền, ngã, nặng). Vì vậy khi một tiếng trong từ láy âm đã rõ ràng mang thanh sắc hoặc thanh không, thì tiếng kia cần viết với thanh hỏi. Sau khi đã cung cấp cho học sinh và giúp các em hiểu những điều trên, giáo viên cung cấp cho học sinh một số mẹo. Ví dụ: “không hỏi sắc, huyền ngã nặng” Mẹo này có nghĩa là gặp một chữ mà ta không biết nó là dấu hỏi hay dấu ngã thì hãy tạo một từ láy âm. Nếu từ láy âm với nó là dấu sắc, dấu không hay dấu hỏi thì nó sẽ là dấu hỏi. Trái lại, nếu chữ kia là dấu huyền, dấu nặng hay dấu ngã thì nó sẽ là dấu ngã. Trong các từ Hán Việt các tiếng bắt đầu bằng một trong các phụ âm M,N,NH,V,L,D,NG (cách nhớ: Mình Nên NHớ Viết Là Dấu NGã) đều mang dấu ngã chứ không mang dấu hỏi. Ví dụ: Dấu không đi với dấu hỏi: mê mẩn, ngẩn ngơ, khẳng khiu, bảnh bao, trong trẻo, quanh quẩn, Dấu hỏi đi với dấu hỏi: đủng đỉnh, lỉnh kỉnh, bủn rủn, lần thẩn, Dấu sắc đi với dấu hỏi: sáng sủa, rẻ rúng, nhảm nhí, hối hả, đắt đỏ, Dấu huyền đi với dấu ngã: nhỡ nhàng, mỡ màng, não nùng, Dấu ngã đi với dấu ngã: lõa xõa, lõm bõm, lẵng nhẵng, Dấu nặng đi với dấu ngã: nũng nịu, thõng thẹo, rộng rãi, 3.7. Giúp học sinh nắm vững các quy tắc viết hoa cơ bản: Để giúp học sinh biết cách viết hoa đúng không những trong giờ chính tả mà còn viết hoa đúng ở bất kì môn nào thì điều cần thiết của giáo viên là: Giáo viên phải cung cấp cho học sinh nắm được các quy tắc viết hoa (tức là khi nào phải viết hoa). Đối với vấn đề này thì tôi cũng nhắc cho các em biết khi gặp các tên riêng trong bài chính tả bắt buộc phải viết hoa.
  11. 10 Giáo viên luôn hướng dẫn học sinh nắm quy tắc và rèn luyện theo quy tắc: Quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí Việt Nam, quy tắc viết hoa tên người, tên địa lí nước ngoài. Ví dụ: Nguyễn Thị Minh Khai; Y – a – li ; Lê – nin’ Triều Tiên, Giúp học sinh nắm rõ quy tắc khi viết hoa huân, huy chương, danh hiệu, giải thưởng các tổ chức, đơn vị, cơ quan: Viết hoa chữ cái đầu của từ, cụm từ đầu của bộ phận. Ví dụ: Danh hiệu/ Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; Trường/ Đại học Sư phạm/ Hồng Đức, Trong những bài chính tả có tên riêng thì tôi viết các từ đó lên bảng, hướng dẫn học sinh cách viết hoa đúng cũng như giải thích cho học sinh hiểu vì sao phải viết hoa các từ này. Gọi học sinh phát âm lại, sau đó cho học sinh luyện viết vào bảng con để các em ghi nhớ. Giáo viên cần giúp cho học sinh biết viết hoa khi bắt đầu đoạn văn; sau những dấu câu như: dấu chấm xuống dòng, dấu chấm hỏi, dấu chấm than và dấu chấm. Giáo viên cần nhắc nhở các em thường xuyên ở mỗi giờ viết chính tả. Có như vậy thì dần dần các em sẽ trở thành thói quen. Giáo viên cần lưu ý cho học sinh không nên viết hoa sau những dấu câu như: dấu hai chấm, dấu chấm phẩy, dấu phẩy. Từ khi vận dụng cách làm trên tôi nhận thấy học sinh lớp tôi không còn mắc lỗi này nữa, điển hình như có em lúc đầu còn viết hoa tuỳ tiện, chỗ đáng lí phải viết hoa thì em lại viết thường còn chỗ viết thường lại viết hoa. Qua một thời gian giúp đỡ đến nay các em này không còn sai nữa. Đó là điều tôi vô cùng phấn khởi. 3.8. Giúp học sinh chú ý để học sinh khắc sâu kiến thức của từng bài chính tả: Ở mỗi bài chính tả, tôi cho học sinh tự rút ra từ khó, tìm hiểu nghĩa xong, học sinh tiến hành phân tích miệng. Sau đó giáo viên giới thiệu chữ có chữ viết gần giống nhau hay nghe phát âm giống nhau để học sinh tự so sánh. Sau đó gọi học sinh nhận xét và cho học sinh lặp lại. Mỗi lần các em rút ra một từ khó, phân tích và so sánh, nhận xét và phát âm xong tôi cho học sinh viết bảng con. Tiếp tục các em rút ra từ khó thứ hai và cũng làm giống như từ thứ nhất đến khi hết từ khó trong bài chính tả. Làm như thế giúp cho các em dễ dàng khắc sâu kiến thức. Ví dụ: Bài chính tả “Quà của đồng nội” có các từ: - (giọt) sữa: sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa của từ, học sinh phân tích “sữa” gồm có âm ghép với vần ưa và thanh ngã trên âm ư; giáo viên