SKKN Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 8

docx 48 trang Chăm Nguyễn 29/05/2026 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 8", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_kinh_nghiem_to_chuc_hoat_dong_trai_nghiem_nham_p.docx
  • pdfSKKN Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của học sinh trong mô.pdf

Nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 8

  1. UBND QUẬN HOÀNG MAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THCS HOÀNG MAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BẢN MÔ TẢ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA SÁNG KIẾN (Đính kèm theo đơn yêu cầu công nhận sáng kiến số............................) Tên sáng kiến: “Một số kinh nghiệm tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của học sinh trong môn Khoa học tự nhiên 8” Tác giả: Phạm Thị Hường PHẦN MỘT: THỰC TRẠNG I. CÁC VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRƯỚC KHI THỰC HIỆN SÁNG KIẾN. Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, Khoa học tự nhiên (KHTN) ở THCS là môn học có nhiều nội dung gắn với cuộc sống, được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học Vật lí, Hóa học, Sinh học và khoa học Trái Đất, giúp người học nắm được các nguyên lí của tự nhiên; cùng với hoạt động khám phá tự nhiên, vận dụng kiến thức KHTN vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn là yêu cầu cần thiết để hình thành và phát triển năng lực KHTN cho HS (Bộ GD-ĐT, 2018). Do vậy, để hình thành, phát triển năng lực cho HS trong dạy học môn KHTN ở THCS, GV cần tạo cơ hội cho các em vận dụng kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực chính là GV tạo môi trường để HS hoạt động, tự lực khám phá tri thức, qua đó rèn luyện năng lực và hình thành nhân cách dựa trên vốn kinh nghiệm đã có của HS. Một trong những giải pháp giáo dục hiệu quả, phát triển năng lực cho người học là tổ chức hoạt động trải nghiệm (HĐTN) trong các tình huống nhận thức và thực tiễn. Tổ chức các HĐTN trong dạy học là rất cần thiết, phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay. Với mong muốn góp phần phát triển năng lực cho HS thông qua các HĐTN, từ mô hình học trải nghiệm của David Kolb, cũng như tham khảo nhiều tài liệu của các thầy cô ở trường Đại học sư phạm Hà Nội, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm tổ chức HĐTN trong dạy học môn KHTN 8 theo định hướng phát triển năng lực cho HS. II. LÝ DO THỰC HIỆN SÁNG KIẾN Tại trường THCS mà tôi đang công tác, dưới sự chỉ đạo của sở giáo dục, phòng giáo dục, ban giám hiệu nhà trường cũng như đáp ứng nhu cầu học tập theo hướng tích cực, chủ động của các em học sinh, tổ chuyên môn cũng đã định hướng xây dựng giáo án dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 8 theo hướng phát triển năng lực của học 2
  2. sinh nhằm đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. Và để bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn cũng như tối ưu hóa trong việc hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, các bài giảng cần sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, có kèm theo những kỹ thuật dạy học tích cực. Việc tổ chức dạy học, sử dụng phương pháp dạy học nào, kĩ thuật dạy học nào sẽ phụ thuộc vào nội dung của từng bài học, cách thiết kế bài giảng của từng giáo viên. Khi nghiên cứu, tìm hiểu các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, tôi đã tìm hiểu và có áp dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học vào bài giảng nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, cũng như phát triển các năng lực, phẩm chất của học sinh. Trong số các phương pháp và kĩ thuật dạy học đó, tôi đã đi sâu tìm hiểu tổ chức hoạt động trải nghiệm vào một số bài giảng trong môn Khoa học tự nhiên lớp 8 nhằm nghiên cứu kiến thức mới, tôi nhận thấy cách thức tổ chức hoạt động phù hợp với logic tổ chức rèn luyện, phát triển năng lực cho học sinh và thể hiện rõ đặc trưng của môn Khoa học tự nhiên. Xuất phát từ các lý do trên, tôi đã chọn đề tài “MỘT SỐ KINH NGHIỆM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8”. III. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở lý luận và thực tiễn ở trên, tôi tiến hành thiết kế một số bài học có tổ chức hoạt động trải nghiệm đã được tổ chuyên môn và ban giám hiệu xét duyệt trong chương trình môn Khoa học tự nhiên lớp 8 theo hướng phát triển năng lực của học sinh. Để đạt được mục đích trên, đề tài sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế bài học có tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực của học sinh. - Tìm hiểu nội dung, chương trình SGK Khoa học tự nhiên lớp 8 để định hướng lựa chọn bài dạy có tổ chức hoạt động trải nghiệm phù hợp với logic của bài. - Thiết kế bài giảng theo định hướng phát triển năng lực và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức hoạt động trải nghiệm. - Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên những quan điểm, nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về công tác giáo dục, đặc biệt là dạy học môn Khoa học tự nhiên. Ngoài ra, đề tài còn dựa vào quan điểm lý luận dạy học của giáo dục học, tâm lý học, phương pháp dạy học Khoa học tự nhiên 3
  3. Bên cạnh việc tuân thủ những nguyên tắc trên, tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau: - Nghiên cứu các nguồn tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học đặc biệt là lý luận dạy học bộ môn liên quan đến việc thiết kế bài giảng theo chủ đề có định hướng phát triển năng lực. - Tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng trong dạy học Khoa học tự nhiên ở trường THCS nơi tôi công tác. - Tìm hiểu, nghiên cứu chương trình SGK Khoa học tự nhiên 8 để xây dựng các chủ đề phù hợp với năng lực học sinh, từ đó thiết kế bài giảng và tiến hành dạy học theo định hướng trên. - Thực nghiệm sư phạm và rút ra nhận xét, kết luận. PHẦN HAI: NỘI DUNG CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 8. 1.1. Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 8. 1.1.1. Dạy học phát triển năng lực “Năng lực” là một khái niệm khá trừu tượng, đa chiều, đa nghĩa và được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Năng lực được xem xét dưới nhiều góc độ: năng lực chung, năng lực chuyên môn, năng lực đặc thù,... Theo Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2019): Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018: “Năng lực là thuộc tính cá nhân, được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,... thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Bộ GD-ĐT, 2018b). Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động sẵn có nào đó với chất lượng cao – trích “từ điển Tiếng Việt”, hay năng lực có thể định nghĩa như một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực, những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như từ những kinh nghiệm của học 4
  4. sinh, những kỹ năng, thái độ và sự hứng thú, ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác – trích “Dạy học phát triển năng lực THCS”. Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực nghĩa là không chỉ biết, hiểu mà còn phải vận dụng được, nghĩa là khả năng thực hiện. Nói cách khách, học sinh có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng mà học sinh biết, hiểu từ bài học để vận dụng giải quyết các vấn đề trong tự nhiên, trong cuộc sống cũng như trong các bài học khác. Phân loại năng lực: gồm hai loại: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong xã hội. năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học. Ngay năng lực chung cũng lại được chia làm ba phạm trù rộng: năng lực sử dụng các công cụ tương tác hiệu quả với môi trường, năng lực hoạt động tương tác trong các nhóm phức hợp, năng lực hoạt động một cách tự chủ. Năng lực riêng là năng lực cụ thể, chuyên biệt, được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/môn học nào đó. Theo hướng này, Deborah Nusche đã chia năng lực đầu ra thành: Năng lực nhận thức và năng lực phi nhận thức. Trong đó: năng lực nhận thức là những thay đổi về niềm tin hoặc sự phát triển các giá trị. Năng lực phi nhận thức có thể được phát triển thông qua việc học tập ở trên lớp cũng như những hoạt động ngoài lớp học do nhà trường tổ chức để bổ sung cho chương trình học. Cùng hướng tiếp cận kết quả đầu ra trong giáo dục, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) đã chia năng lực thành 3 nhóm: năng lực nhận thức, năng lực thái độ, năng lực nghề nghiệp. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là phát triển năng lực hành động tức là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, các vấn đề trong những tình huống khác nhau trên cơ sở hiểu biết, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Như vậy năng lực người học cần đạt là cơ sở để xác định các mục tiêu, nội dung, hoạt động, phương pháp ..dạy học mà người dạy cần phải căn cứ vào đó để tiến hành các hoạt động giảng dạy. Chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực là dạy học định hướng kết quả đầu ra, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn. 5
  5. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa năng lực của người học, trong đó, người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học trên nguyên lý: - Học đi đôi với hành. - Lý luận gắn với thực tiễn. - Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội. 1.1.2. Mục tiêu dạy học phát triển năng lực trong môn Khoa học tự nhiên ở Trung học cơ sở Môn KHTN được xây dựng và phát triển trên nền tảng các khoa học vật lí, hóa học, sinh học và khoa học Trái Đất. Đối tượng nghiên cứu của KHTN là các sự vật, hiện tượng, quá trình, các thuộc tính cơ bản về sự tồn tại, vận động của thế giới tự nhiên. Trong chương trình môn KHTN, nội dung giáo dục về những nguyên lí và khái niệm chung nhất của thế giới tự nhiên được tích hợp theo nguyên lí của tự nhiên, bảo đảm tính logic bên trong của từng mạch nội dung. Đối tượng nghiên cứu của môn KHTN gần gũi với đời sống hằng ngày của HS. KHTN là khoa học thực nghiệm. Vì vậy, thực hành thí nghiệm trong phòng thực hành và phòng học bộ môn, ở thực địa và các cơ sở sản xuất có vai trò, ý nghĩa quan trọng và là đặc trưng của môn học này. Thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm, môn KHTN giúp HS khám phá thế giới tự nhiên, phát triển nhận thức, tư duy 6
  6. logic góp phần phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành nhân cách phẩm chất của người lao động mới năng động, sáng tạo và biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Tổ chức hoạt động trải nghiệm thường sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Trong khuôn khổ của sáng kiến kinh nghiệm, tôi xin đề cập sâu hơn về tổ chức hoạt động trải nghiệm như thế nào trong thiết kế bài giảng môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực hóa học nhằm phát triển năng lực học sinh. 1.1.3. Hoạt động trải nghiệm và các bước tiến hành. 1.1.3.1. Mô hình học trải nghiệm của David Kolb Thuyết Học theo trải nghiệm của David Kolb đã nhấn mạnh, kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập: “Học tập là quá trình mà kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh nghiệm. Kiến thức là kết quả của sự kết hợp giữa nắm bắt kinh nghiệm và chuyển đổi nó” (Kolb, 1984, tr 21). Năm 1984, David Kolb đã đưa ra mô hình học trải nghiệm gồm 04 giai đoạn sau: - Trải nghiệm cụ thể: Học tập thông qua các hoạt động, hành vi, thao tác cụ thể, trực tiếp gắn với bối cảnh thực tế, người học tham gia vào một trải nghiệm mới, kinh nghiệm có được thông qua làm, hoạt động trong hoàn cảnh cụ thể. Người học có thể đã đọc một số tài liệu, tham dự bài giảng, xem một số video trên Internet về chủ đề đang học tập,... Tất cả các yếu tố đó sẽ tạo ra những kinh nghiệm rời rạc nhất định cho người học. - Quan sát, phản ánh: Người học quan sát các hoạt động và hệ thống lại những kinh nghiệm đã có, khám phá các đặc điểm, ý nghĩa của kiến thức; từ đó, cùng nhau chia sẻ, phân tích, thảo luận để thống nhất quan điểm, nhận xét vấn đề một cách hệ thống. Tạp chí Giáo dục (2022), 22(5), 37-41 ISSN: 2354-075339. - Trừu tượng hóa khái niệm: Sau khi quan sát kĩ, chi tiết, người học tiến hành khái niệm hóa các kinh nghiệm đã thu được, học tập thông qua việc xây dựng khái niệm, tổng hợp và phân tích những gì quan sát được, giải thích các quan sát, khái niệm trừu tượng; thông qua thao tác tư duy, chủ thể có được sự nhận biết bản chất về trừu tượng; thông qua thao tác tư duy, chủ thể có được sự nhận biết bản chất về đối tượng. - Thử nghiệm tích cực: Người học đã rút kinh nghiệm từ thực tiễn với các luận cứ và suy luận được liên kết chặt chẽ, sau đó vận dụng kinh nghiệm đó vào thực tiễn để xác nhận hoặc phủ nhận các khái niệm từ bước trước. - Như vậy, vận dụng mô hình học trải nghiệm của David Kolb, GV có thể thiết kế hoạt động học tập cho HS thông qua 04 giai đoạn. Việc bắt đầu từ giai đoạn nào 7
  7. cho phù hợp và có hiệu quả sẽ dựa vào nội dung, đặc điểm của người học và mục tiêu dạy học. GV cần xác định được những kiến thức, kinh nghiệm đã có của người học, từ đó thiết kế các nhiệm vụ học tập trong vùng phát triển gần và tạo môi trường học tập tương tác để người học tự lực học tập, chuyển hóa thành kinh nghiệm của bản thân. 1.1.3.2. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm: Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018: “HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó HS dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kĩ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn, tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng, dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành các phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực đặc thù của hoạt động này” (Bộ GD-ĐT, 2018b). Như vậy, HĐTN có thể coi là trải nghiệm với những hoạt động có các mục tiêu, nội dung rõ ràng, đòi hỏi người tham gia phải tự giác, tích cực, chủ động vào quá trình hoạt động mới có hiệu quả: “Trong HĐTN, HS được thực hành, trải nghiệm những kiến thức, kĩ năng đã học trong các môn học; đồng thời, tiếp tục tìm tòi, mở rộng và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Khi đặt ra một yêu cầu trải nghiệm, HS cần hoạt động, hoàn thành một sản phẩm và sản phẩm đó chính là kết quả của HĐTN. Do vậy, HĐTN có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS” (Bộ GD-ĐT, 2015). 1.1.3.3. Ưu điểm và hạn chế của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm: + Ưu điểm: * Tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú, học sinh được tham gia vào các hoạt động với các nhiệm vụ khác nhau và mức độ yêu cầu khác nhau. * Yêu cầu học sinh phải tích cực, nỗ lực tham gia: thông qua các hoạt động giúp hình thành ở học sinh tính chủ động, linh hoạt và tinh thần trách nhiệm trong học tập đối với chính mình và các bạn trong lớp. * Hình thành ở học sinh các kĩ năng giao tiếp, trình bày, hợp tác, giải quyết vấn đề * Phát triển năng lực học sinh. * Học sinh nắm vững kiến thức thông qua thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức để tính toán, xây dựng phương án và thực hành theo phương án của nhóm dưới sự hỗ trợ giám sát của giáo viên. Qua hoạt động trải nghiệm, học sinh được phát triển rất nhiều năng lực như: + Hạn chế: * Trong điều kiện phòng học hiện nay việc tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực Hóa học vẫn còn chút khó khăn đó là 8
  8. trường chưa có nhân viên đồ dùng chuyên trách nên giáo viên phải tự chuẩn bị đồ dùng, hóa chất. Hoạt động ở nhóm đòi hỏi mỗi thành viên phải tích cực, chủ động tìm hiểu các nội dung của bài học. 1.1.3.4. Một số lưu ý khi tổ chức hoạt động trải nghiệm trong môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực hóa học: + Đảm bảo các thành viên trong nhóm đều hoạt động thông qua hoạt động đánh giá trong nhóm, đánh giá nhóm bạn và sự đánh giá của giáo viên. + Phải có tiêu chí chấm rõ ràng cho từng hoạt động cũng như hướng dẫn để học sinh hiểu rõ từng tiêu chí chấm điểm. + Trước khi lên lớp, giáo viên phải cung cấp một số tài liệu hoặc nơi tìm hiểu kiến thức cũng như giao nhiệm vụ để học sinh tìm hiểu trước kiến thức của bài, từ đó có thể đưa ra ý kiến của mình về vấn đề mình cần trao đổi. 1.2. Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm nhằm phát triển năng lực học sinh trong dạy học môn Khoa học tự nhiên lớp 8. Đối với học sinh THCS các em chỉ thích môn nào mình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó. Trong quá trình giảng dạy tôi đã phát hiện ra rằng nhiều học sinh chưa hứng thú tham gia xây dựng bài. Nhiều học sinh tỏ ra lúng túng, không tìm ra cách xử lí, ngay cả những vấn đề hết sức đơn giản trong cuộc sống hàng ngày. Với môn học Khoa học tự nhiên, lĩnh vực hóa học, các em càng lúng túng với các khái niệm trong hóa học, các thí nghiệm hóa học hay vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong thực tế nên việc chủ động tiếp thu kiến thức ở các em còn hạn chế. Vì vậy, nếu giảng bài theo phương pháp dạy học cũ, hoặc không phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh thì học sinh sẽ ít được hoạt động, nặng về nghe giảng, ghi chép rồi học thuộc, ít được suy luận, động não. Thời gian dành cho học sinh hoạt động trong một tiết học là quá ít, kể cả hoạt động tay chân và hoạt động tư duy. Học sinh chưa được trở thành chủ thể hoạt động. Hình thức hoạt động của học sinh cũng đơn điệu, HS ít được động não và thường ít được chủ động tích cực. Đối mặt với thực trạng đó, tôi đã cố gắng nâng cao hiệu quả giảng dạy bằng cách áp dụng những phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực, đặc biệt là tổ chức hoạt động trải nghiệm phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất của học sinh. Các bài dạy đều hướng tới học sinh được trải nghiệm, được tiếp cận thế giới tri thức bằng thí nghiệm, hoạt động nhóm, làm dự án, học theo chủ đề... được thực hành và đề xuất các thí nghiệm minh họa... và đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực của học sinh. Trong số đó, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm vào giảng dạy đã góp 9
  9. phần giải quyết mục tiêu chung của quá trình dạy học tích cực trong học tập môn Khoa học tự nhiên lớp 8. CHƯƠNG 2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8. 2.1. Thiết kế bài giảng môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực hóa học có tổ chức hoạt động trải nghiệm. 2.1.1. Nguyên tắc xây dựng bài giảng có tổ chức hoạt động trải nghiệm: - Sự hình thành khái niệm hóa học ban đầu phải dựa trên các kiến thức thực tiễn đơn giản, thí nghiệm hóa học, vốn kiến thức hóa học mà học sinh học được từ môn khác. Các khái niệm hóa học hình thành phải chính xác, thống nhất, chặt chẽ, ấn tượng để học sinh nhớ lâu. - Trong dạy học cần sử dụng triệt để các phương tiện trực quan thích hợp và tận dụng triệt để thí nghiệm hóa học để giúp học sinh hiểu bài, tăng tính hứng thú với học sinh. - Cần chú ý rèn luyện cho học sinh thói quen sử dụng ngôn ngữ hóa học chính xác, khoa học, thường xuyên. - Trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên phải là người tổ chức để học sinh hoạt động một cách tích cực, chủ động, sáng tạo như quan sát, thực nghiệm, tìm tòi, thảo luận nhóm,... qua đó học sinh lĩnh hội kiến thức. - Giáo viên cần rèn cho học sinh phương pháp tự học để nâng cao hiệu quả dạy học bằng cách sử dụng các phương pháp suy lí quy nạp, đàm thoại gợi mở. - Khi thiết kế bài giảng có tổ chức hoạt động trải nghiệm cần lưu ý một số nguyên tắc sau: + Lựa chọn bài giảng phù hợp để áp dụng: với những bài học có nhiều hoạt động, lượng kiến thức của các hoạt động tương đương nhau và có mối liên hệ với nhau, giáo viên có thể xây dựng những bài học đó theo hướng tổ chức hoạt động trải nghiệm. Ví dụ như trong sách giáo khoa Khoa học tự nhiên 8, một số bài có thể thiết kế tổ chức hoạt động trải nghiệm như: Nồng độ dung dịch; Thang pH; 2.1.2. Quy trình thiết kế bài giảng có tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực hóa học theo hướng phát triển năng lực học sinh. Từ đặc trưng của môn học, nhiệm vụ dạy học của môn KHTN, các năng lực chung và năng lực đặc thù môn học của mỗi hoạt động, vận dụng mô hình học trải nghiệm của David Kolb, cũng như dựa trên các tài liệu mà tôi nghiên cứu, tôi xin đề 10
  10. xuất các bước tổ chức HĐTN theo hướng phát triển năng lực HS trong dạy học môn KHTN gồm: Bước 1: Xác định mục tiêu của HĐTN. Xác định được mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực HS cần hướng tới sau khi học tập thông qua HĐTN. GV cần căn cứ vào năng lực chung và năng lực đặc thù để xác định các năng lực cụ thể mà HS sẽ đạt được thông qua HĐTN. Bước 2: Tổ chức cho HS tham gia vào các trải nghiệm cụ thể: GV tổ chức cho HS tham gia vào hoạt động hay một tình huống cụ thể nhằm khai thác những kinh nghiệm đã có của HS, kết nối với tình huống mới, có thể là một câu chuyện, bản nhạc, bức tranh, hoặc nội dung học tập các môn học,... Bước 3: Tổ chức phân tích/trải nghiệm: HS trực tiếp tham gia vào hoạt động, quan sát, thường xuyên đặt câu hỏi và tìm phương án trả lời. Bước 4: Tổng quát/khái quát hóa: HS miêu tả những điều đã trải nghiệm, phân tích ý nghĩa của các trải nghiệm đó; từ đó khái quát hóa, lĩnh hội kiến thức. Những kinh nghiệm mới của HS được thể hiện phong phú, đa dạng thông qua các sản phẩm, hoạt động khác nhau như: những chia sẻ bằng lời, bài viết ngắn, bài thu hoạch, bài thuyết trình, sản phẩm học tập của môn học,... Bước 5: Ứng dụng/thử nghiệm tích cực: HS nêu cách thức áp dụng những kiến thức vừa học vào thực hiện các nhiệm vụ học tập hoặc trong cuộc sống, thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng vào một tình huống học tập mới. HS có thể áp dụng, thảo luận hoặc chia sẻ kiến thức đã học với các bạn. Bước 6: Đánh giá HS trong quá trình trải nghiệm: Phương pháp đánh giá cần đảm bảo độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng đối tượng, lứa tuổi, với các hình thức kiểm tra, đánh giá như: bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, kết hợp bài kiểm tra tự luận, bài tập thực hành, bảng kiểm tra/bảng hỏi, bài tiểu luận, đề tài nghiên cứu, dự án vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc đánh giá bằng bảng quan sát của GV. Như vậy, khi GV tổ chức cho HS tham gia các HĐTN, từ những kinh nghiệm đã có của bản thân, các em liên hệ với tình huống mới, tham gia thảo luận, tranh luận, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa bằng sản phẩm môn học và ứng dụng vào từng bài tập hay tình huống cụ thể, giúp HS học tập tích cực, hứng thú, qua đó phát triển các năng lực học tập như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực tìm hiểu KHTN, 11
  11. 2.2. Ví dụ minh họa tổ chức hoạt động trải nghiệm trong các bài giảng môn Khoa học tự nhiên 8, lĩnh vực hóa học nhằm phát triển năng lực của học sinh. 2.2.1. Tổ chức hoạt động trải nghiệm trong bài giảng “ Nồng độ dung dịch, phần kiến thức nồng độ phần trăm” * Bước 1: Xác định mục tiêu của HĐTN 1. Năng lực: 1.1. Năng lực khoa học tự nhiên - Trình bày được khái niệm nồng độ phần trăm, công thức tính nồng độ phần trăm và các công thức chuyển đổi. - Lập kế hoạch và thực hiện pha chế một dung dịch theo nồng độ phần trăm cho trước. Viết, trình bày báo cáo và thảo luận nhóm. 1.2. Năng lực chung - Năng lực tự chủ và tự học: Chủ động, tích cực tìm hiểu về khái niệm nồng độ phần trăm, công thức tính nồng độ phần trăm và các công thức chuyển đổi. - Năng lực giao tiếp và hợp tác: Sử dụng ngôn ngữ khoa học để diễn đạt về khái niệm nồng độ mol, công thức tính nồng độ phần trăm và các công thức chuyển đổi. Hoạt động nhóm một cách hiệu quả theo đúng yêu cầu của GV, đảm bảo các thành viên trong nhóm đều được tham gia thảo luận và trình bày ý kiến. - Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Thảo luận với các thành viên trong nhóm nhằm giải quyết các vấn đề trong bài học để hoàn thành nhiệm vụ học tập. 2. Phẩm chất: - Chăm học, chịu khó tìm tòi tài liệu và thực hiện các nhiệm vụ nhằm tìm hiểu về nồng độ phần trăm. - Có trách nhiệm trong hoạt động nhóm, chủ động nhận và thực hiện nhiệm vụ pha chế dung dịch. - Trung thực, cẩn thận trong báo cáo tìm hiểu về pha chế dung dịch và trong quá trình pha chế dung dịch. * Bước 2: Tổ chức cho HS tham gia vào các trải nghiệm cụ thể HOẠT ĐỘNG 1: Xác định nhiệm vụ học tập (3’) 1.1. Mục tiêu - HS xác định được nhiệm vụ học tập: Biết khái niệm nồng phần trăm, công thức tính nồng độ phần trăm, biết cách pha chế dung dịch theo nồng độ phần trăm cho trước. 1.2. Nội dung - HS chú ý lắng nghe tình huống để xác định nhiệm vụ học tập của mình. 12