Báo cáo Sáng kiến Dạy học Sinh Học 8 theo định hướng gắn lí thuyết với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, phát triển năng lực học sinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Dạy học Sinh Học 8 theo định hướng gắn lí thuyết với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, phát triển năng lực học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
bao_cao_sang_kien_day_hoc_sinh_hoc_8_theo_dinh_huong_gan_li.docx
Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Dạy học Sinh Học 8 theo định hướng gắn lí thuyết với thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng, phát triển năng lực học sinh
- - Hằng ngày cơ thể chúng ta đào thải ra môi trường ngoài những sản phẩm thải nào? - Hoạt động đào thải này có vai trò gì đối với cơ thể của chúng ta? Học sinh sẽ trả lời theo những gì các em đã trải nghiệm. Từ các câu trả lời đó, giáo viên liên hệ vào bài mới. Như vậy, các tình huống thực tế trong phần Khởi động tạo hứng thú, động lực học tập tích cực cho học sinh, đồng thời với việc vận dụng kiến thức thực tế sẽ phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh. Từ đó, học sinh sẽ dễ dàng và thích thú khi bước vào bài mới. Hai là: lồng ghép liên hệ thực tế trong hoạt động Hình thành kiến thức. Đối với các bài học lý thuyết, tùy theo nội dung bài mà giáo viên có thể liên hệ thực tế để giảng dạy kiến thức mới hoặc mở rộng kiến thức cho các em. Đặc biệt, khi giáo viên liên hệ các kiến thức thực tế vào việc minh họa sẽ giúp giải thích được hiện tượng tự nhiên và thỏa mãn tính tò mò của học sinh, làm cho học sinh cảm thấy dễ hiểu và nhớ rất nhanh, rất lâu nội dung bài học vì thấy được ý nghĩa thực tiễn của kiến thức các em vừa được học. Hình thức này không những giúp các em thấy được sự gần gũi giữa Sinh học với thực tiễn mà từ đó, các em còn có thể tự mình giải thích được những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên liên quan đến những biến đổi vật lí, biến đổi hóa học. Nhờ vậy, nội dung bài học sẽ trở nên thiết thực và hiệu quả được nâng cao. Ở hoạt động này, giáo viên có thể lồng ghép bằng việc đưa ra các câu hỏi “tại sao?”, “như thế nào” để dẫn dắt các em vào nội dung cần truyền tải. Hoặc trong những tình huống cụ thể, gần gũi với đời sống thường ngày thì giáo viên đặt ra những câu hỏi mang tính gợi mở sẽ kích thích sự tò mò, đam mê khám phá của các em. Qua đó, học sinh dễ dàng nắm bắt được những kiến thức trọng tâm giáo viên muốn truyền đạt. Ví dụ 1: Khi tìm hiểu về hệ miễn dịch trong bài “Bạch cầu – Miễn dịch”, giáo viên đặt câu hỏi: Hiện nay, dịch Covid – 19 trên địa bàn xã Phước Thành đang diễn ra rất mạnh và tốc độ lây lan nhanh trên diện rộng. Có những bạn từng tiếp xúc gần với F0 (người bị bệnh) như ăn uống, nói chuyện trực tiếp không thực hiện 5K mà không bị lây bệnh, nhưng cũng có bạn vừa mới tiếp xúc lại bị lây bệnh? Tại sao như vậy? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên phân tích, giải thích thêm cho các em hiểu rồi rút ra kết luận liên quan đến hệ miễn dịch. Ví dụ 2: Khi tìm hiểu về tính chất của hoocmôn trong bài “Giới thiệu chung hệ nội tiết”, giáo viên đặt câu hỏi: - Khi đến tuổi dậy thì, cơ thể các bạn nam (hoặc các bạn nữ) có những thay đổi như thế nào?
- - Tại sao lại có sự thay đổi như vậy? Học sinh trả lời từ những trải nghiệm của bản thân. Sau đó giáo viên rút ra kết luận liên quan đến tính chất của hoocmôn. Hình thức liên hệ thực tế này gợi cho học sinh những hình ảnh thiết thực, gần gũi, cho các em thấy được mối quan hệ mật thiết giữa Sinh học với đời sống, với môi trường. Từ đó, biết vận dụng những kiến thức sinh học vào cuộc sống để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hay xây dựng, bảo vệ, cải tạo môi trường mà các em đang sống. Ba là: sử dụng các câu hỏi có tính liên hệ kiến thức thực tế trong hoạt động Luyện tập, vận dụng. Đây là khâu không kém phần quan trọng ngay sau khi học sinh đã được hình thành kiến thức. Bởi lẽ, ở phần này việc liên hệ kiến thức thực tế giúp rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng, giải quyết vấn đề, tư duy - sáng tạo cho học sinh. Khi học xong bất kỳ vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng cho thực tế cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn, hứng thú hơn. Từ đó các em sẽ tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ rõ hơn. Do đó, trong phần Luyện tập vận dụng, giáo viên nên đưa ra một vài bài tập vận dụng thực tế. Lưu ý ở bước này, giáo viên nên khéo léo lồng ghép những hiện tượng mà các em đã được nghe qua báo đài hay thấy trực tiếp trong cuộc sống và yêu cầu các em dùng kiến thức lý thuyết mình đã học để giải thích, giải quyết các hiện tượng, sự việc đó. Ví dụ 1: Trong bài “Vệ sinh hô hấp”, ở phần Luyện tập vận dụng, giáo viên ra bài tập sau: - Trước hậu quả nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, theo em, nguyên nhân nào khiến cho dịch bệnh lây lan nhanh ở khắp mọi nơi như vậy? Làm thế nào để phòng tránh dịch Covid – 19? Học sinh sẽ tự liên hệ với thực tế, qua những thông tin các em được nghe, được thấy, được trải nghiệm để hoàn thành bài tập. Từ câu trả lời của học sinh, giáo viên giáo dục và nhắc nhở học sinh về “quy tắc 5K” Ví dụ 2: Trong bài “Bạch cầu – miễn dịch”, ở phần Luyện tập vận dụng, giáo viên ra bài tập: - Em hãy giải thích vì sao trẻ em khi tiêm văc-xin về thường hay ốm sốt? Học sinh sẽ tự liên hệ với những kiến thức các em vừa được học trong bài để giải thích được hiện tượng thực tế. Từ câu trả lời của học sinh, giáo viên kết luận. Liên hệ thực tế trong giảng dạy, giáo viên có thể giúp học sinh khắc sâu kiến thức thông qua các bài tập thực hành. Qua đó, kiến thức và kĩ năng của các em sẽ được củng cố một cách vững chắc, kết quả học tập không ngừng được nâng cao. Học sinh sẽ chủ động, không còn gượng ép và biết tự lĩnh hội tri thức cho mình, từ đó tạo niềm say mê và hứng thú trong học tập môn Sinh học. b. Liên hệ thực tế sau khi kết thúc bài học:
- Sau khi kết thúc bài học, giáo viên có thể đặt ra một số câu hỏi liên quan đến nội dung vừa học và yêu cầu học sinh về nhà tìm hiểu để trả lời các câu hỏi đó. Những câu hỏi này đơn giản nhưng phải mang tính gợi mở và phải thật gần gũi với những hiện tượng, sự việc xảy ra xung quanh các em. Hoặc giáo viên có thể khuyến khích học sinh tự đặt câu hỏi ngay tại lớp và dành một vài phút để các bạn cùng bàn luận câu trả lời. Rồi sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà tìm hiểu thêm (lưu ý là sẽ giải quyết vấn đề trong câu hỏi ấy ở tiết học sau). Cách liên hệ này làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái hiện kiến thức thông qua những lúc bắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong cuộc sống. Giáo viên có thể sưu tầm và đưa vào những hình ảnh cụ thể để minh hoạ cho nội dung liên hệ thực tế có kết hợp bảo vệ sức khỏe, bảo vệ môi trường, đó là biện pháp tốt vừa bổ sung tài liệu cho sách giáo khoa, vừa gây hứng thú học tập cho học sinh đối với môn học. Ví dụ 1: Khi học sinh học xong bài: “Giới thiệu chung hệ nội tiết”, các em được biết đến bệnh tiểu đường là do tuyến tụy tiết không đủ lượng insulin để chuyển hóa đường glucozơ thành glycogen, làm tăng đường huyết trong cơ thể, lâu ngày gây ra bệnh tiểu đường. Từ đó, giáo viên yêu cầu học sinh tìm hiểu một số biện pháp để hạn chế bệnh tiểu đường (ăn uống .) Ví dụ 2: Khi học xong bài “Vệ sinh hệ tiêu hóa”, các em được biết đến các tác nhân có hại cho hệ tiêu hóa. Từ đó, giáo viên yêu cầu học sinh tìm các biện pháp bảo vệ hệ tiêu hóa tránh các tác nhân có hại. Sau khi kết thúc bài học, việc liên hệ thực tế để củng cố kiến thức giúp các em khắc sâu kiến thức, phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống, giải quyết vấn đề thông qua môn Sinh học. c. Liên hệ thực tế qua các kênh hình khi dạy: Kiến thức bộ môn Sinh học 8 khá trừu tượng và khó đối với trình độ và năng lực tiếp nhận của học sinh. Song kho hình ảnh, video liên quan đến kiến thức Sinh học lại vô cùng phong phú, đa dạng. Vì vậy, nếu chúng ta biết cách khai thác và vận dụng những hình ảnh, video có nội dung thực tế, phù hợp với kiến thức bài học sẽ thu hút sự tập trung chú ý, sự tò mò khám phá của học sinh giúp tăng tính hiệu quả trong giờ học. Thông thường, một đoạn phim hay một hình ảnh thực tế tuy dung lượng ngắn, không tốn nhiều thời gian nhưng vẫn đảm bảo truyền tải được đầy đủ thông tin đến học sinh. Vì vậy, giáo viên chú ý lựa chọn kiến thức liên hệ thực tế phù hợp sao cho đạt hiệu quả cao nhất. Không nhất thiết lồng ghép liên hệ thật nhiều dẫn đến lan man, làm học sinh sao nhãng nội dung chính của bài học. Ví dụ 1: Khi dạy bài “Máu và môi trường trong cơ thể”, giáo viên cho học sinh xem đoạn phóng sự ngắn về hiện tượng ngạt khí khi đốt than trong phòng đóng kín cửa. Sau khi học sinh xem xong, giáo viên nêu ra một số câu hỏi:
- - Vì sao những người trong đoạn phóng sự trên lại bị ngạt khí? Học sinh trả lời, giáo viên chuẩn kiến thức và hỏi tiếp: - Vậy, chúng ta nên làm gì để tránh sự việc trên? Học sinh trả lời, giáo viên liên hệ và lưu ý cho các em về việc bảo vệ sức khỏe trước những tình huống dễ dẫn đến rủi ro trong cuộc sống. Ví dụ 2: Khi dạy bài “Cấu tạo và tính chất của cơ”, giáo viên cho học sinh xem đoạn phim về vấn đề chuột rút khi đang bơi dẫn đến đuối nước. Sau khi học sinh xem xong, giáo viên nêu ra một số câu hỏi; - Vì sao người trong đoạn phim bị đuối nước? Dựa vào câu trả lời của học sinh, giáo viên hỏi tiếp: - Để tránh trường hợp đuối nước khi bơi, chúng ta nên làm gì trước khi bơi? Từ câu trả lời của học sinh, giáo viên lồng ghép giáo dục các em rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe. Việc liên hệ các hiện tượng, tình huống thực tế thông qua các kênh hình, video giúp tăng tính sinh động cho tiết học, học sinh sẽ cảm nhận được sự gần gũi giữa Sinh học với đời sống thường ngày, các em sẽ hiểu biết nhiều hơn, sâu hơn và có kinh nghiệm hơn trong việc xử lí một số tình huống xảy ra trong cuộc sống. d. Liên hệ thực tế qua một số mẫu chuyện liên quan đến bài học: Đây cũng là một cách tuyệt vời để thay đổi “khẩu vị” bài giảng. Vì sao học sinh thường rất thích nghe kể chuyện? Đơn giản vì điều đó làm giải tỏa những căng thẳng trong quá trình học tập. Các em được tự do tưởng tượng theo những gì thầy cô kể thay vì nhìn chằm chằm vào sách vở hay chiếc bảng đen, những thứ đôi khi khiến chúng nhàm chán. Tùy theo nội dung của từng bài học, giáo viên có thể khéo léo lồng ghép những mẩu chuyện có liên quan để kể cho các em nghe. Có thể đó là những chuyện đời thường hay chuyện cổ tích, chuyện vui, Song song với việc kể, giáo viên nên giáo dục kĩ năng sống, ca ngợi những đức tính tốt và khơi gợi thái độ sống tích cực của các em. Ví dụ 1: Khi dạy bài “Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện”, giáo viên trình bày và hướng dẫn HS tìm hiểu về thí nghiệm của I.P. Paplôp: phản xạ có điều kiện tiết nước bọt đối với ánh đèn hoặc một kích thích bất kì, giáo viên lồng ghép vào các câu chuyện như “Câu chuyện Tào Tháo và rừng mơ”, “Câu chuyện Mèo của Trạng Quỳnh” để kể cho học sinh nghe. Từ nội dung câu chuyện, các em sẽ hiểu sâu hơn và khắc sâu kiến thức về nội dung của sự hình thành phản xạ có điều kiện. Ví dụ 2: Trong bài: “Giới thiệu chung hệ nội tiết”, giáo viên có thể lồng ghép câu chuyện của thầy giáo “tí hon” Nguyễn Văn Hùng, là tấm gương sáng về nghị lực sống phi thường. Thầy Hùng mắc bệnh lùn tuyến yên vì thiếu hoocmôn sinh trưởng. Dù đã ngoài 30 tuổi nhưng thầy có ngoại hình như học sinh tiểu học, chỉ cao
- 1m17 và nặng 19kg. Thầy Hùng hiện đang quản lý và giảng dạy Thiết kế đồ hoạ tại trung tâm dạy nghề cho người khuyết tật. Từ câu chuyện thực tế, giáo viên vừa củng cố kiến thức bài học, vừa giáo dục các em học sinh thái độ sống tích cực, vượt qua khó khăn để thành công trong cuộc sống, đồng thời giáo dục các em những đức tính tốt cần có như không kì thị mà thay vào đó là sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ. Qua các mẩu chuyện được nghe, các em không chỉ khắc sâu được kiến thức bài học mà còn được bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm; biết tự nhìn nhận bản thân để sống tốt hơn, sống tích cực hơn. 1.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết: Trong chương trình Sinh học cấp THCS, Sinh học 8 đi sâu nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và chức năng của cơ thể người trong mối quan hệ với môi trường và những cơ chế điều hòa quá trình sống. Qua các bài học hữu ích, các em sẽ hiểu rõ hơn về các cơ quan, cách chúng hoạt động để duy trì sự sống và mối liên hệ giữa chúng trong một thể thống nhất – chính là cơ thể con người. Từ đó có các biện pháp rèn luyện thân thể, bảo vệ sức khỏe, giúp học sinh có hiểu biết khoa học để có ý thức và hành vi bảo vệ môi trường. Trên thực tế, kiến thức khoa học trong chương trình Sinh học 8 nhiều và khó hơn so với các lớp dưới. Trong khi đó, ở vùng cao huyện Phước Sơn nói chung và trường TH&THCS Phước Thành nói riêng, học sinh còn xao nhãng việc học tập bộ môn, năng lực tiếp nhận kiến thức của các em còn hạn chế, ý thức tự học chưa cao. Đồng thời, các em ít được sự quan tâm sâu sát từ phía gia đình, phần lớn các em đều thuộc hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, Điều đó khiến cho kết quả học tập bộ môn Sinh học của học sinh chưa cao. Bên cạnh đó, phương pháp dạy học của giáo viên chưa gây hứng thú cao trong giờ học dẫn đến các em chán nản, uể oải và gượng ép trong giờ học. 1.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại: Trong điều kiện hiện nay, giáo dục nước ta đang đổi mới từ “dạy học định hướng nội dung” chuyển sang “dạy học định hướng năng lực”, thay vì quan tâm học sinh “học được gì?” chuyển sang chú trọng học xong học sinh “làm được gì?”. Vậy nên, người giáo viên phải: + Đổi mới hình thức, phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng học tập bộ môn, phát triển năng lực cho học sinh. + Giáo viên cần vận dụng nhiều hình thức, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, trong đó liên hệ kiến thức thực tế gắn liền với bài học là một trong những phương pháp giúp học sinh yêu thích môn học và nâng cao hiệu quả, chất lượng học tập. Khi bộ môn Sinh học được gắn liền với thực tiễn, việc giải thích và vận dụng kiến thức đã học sẽ làm cho học sinh cảm thấy môn học gần gũi, có nhiều ứng dụng
- trong cuộc sống. Từ đó hiệu quả giảng dạy bộ môn được nâng cao, góp phần phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất và tư duy của học sinh. 1.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến: Giải pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học, có thể áp dụng cho môn Sinh học ở các khối lớp khác và các môn khoa học thực nghiệm, các môn học khác ở cấp THCS. Giải pháp là tư liệu có giá trị cho bạn bè đồng nghiệp, có thể thực hiện tốt tại các cơ sở giáo dục mà điều kiện cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng các yêu cầu dạy học môn Sinh học. Nội dung giải pháp phù hợp với định hướng chuyên môn của Bộ GD – ĐT, quy định hướng dẫn chuyên môn của Sở GD – ĐT tỉnh Quảng Nam, Phòng GD – ĐT huyện Phước Sơn. 1.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Đối với học sinh: cần có sự quan tâm từ phía gia đình, mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập, đôn đốc nhắc nhở các em ý thức tự học ở nhà, đi học chuyên cần, nghiêm túc. - Đối với giáo viên: phải có chuyên môn vững vàng; nắm vững chương trình giáo dục phổ thông; có sự hiểu biết về các kiến thức thực tế quanh cuộc sống hằng ngày liên quan đến chương trình giảng dạy; chuẩn bị bài kĩ trước giờ lên lớp; luôn cập nhật thường xuyên các thông tin trên báo đài, internet, - Đối với tổ chuyên môn: cần tăng cường tổ chức các chuyên đề dạy học, hội thảo về các phương pháp dạy học đổi mới, dạy học định hướng năng lực học sinh để trao đổi chuyên môn cho các thành viên trong tổ. - Đối với nhà trường: cần đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và tạo mọi điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp tập huấn nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. 1.6. Hiệu quả sáng kiến mang lại: Điểm tổng kết môn Sinh học 8 năm học 2020-2021 (trước khi áp dụng giải pháp): Điểm ≥ 9,0 Điểm 7,0-8,9 Điểm 5,0-6,9 Điểm 3,5-4,9 Điểm ≤ 3,5 SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 1 3.2% 7 22,6% 10 32,3% 12 38,7% 1 3,2% Điểm tổng kết môn Sinh học 8 cuối học kì I năm học 2021-2022 (sau khi áp dụng giải pháp): Điểm ≥ 9,0 Điểm 7,0-8,9 Điểm 5,0-6,9 Điểm 3,5-4,9 Điểm ≤ 3,5 SL TL SL TL SL TL SL TL SL TL 2 5.6% 14 44,4% 13 36,1% 7 19,4% 0% 0% Bảng so sánh cho thấy kết quả học tập bộ môn tăng rõ rệt, đa số học sinh có năng lực vận dụng kiến thức Sinh học vào cuộc sống. Số liệu trên khẳng định việc liên hệ thực tế trong bài học đã tạo không khí học tập vui vẻ, học sinh tích cực, sáng
- tạo trong giờ học. Chất lượng bài kiểm tra nâng lên rõ rệt, học sinh có năng lực sử dụng kiến thức sinh học vào cuộc sống và có kĩ năng giải quyết vấn đề tốt hơn thông qua việc kiểm tra phản xạ nhanh của các em trong một số giờ học. 2. Những thông tin cần được bảo mật: không có. 3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu: TT Họ và tên Nơi công tác Nơi áp dụng sáng Ghi chú kiến 1 Nguyễn Thị Quý Trâm Trường TH&THCS Trường TH&THCS Phước Thành Phước Thành 4. Hồ sơ kèm theo: Một số kiến thức thực tế có thể lồng ghép vào các hoạt động dạy học thuộc một số chủ đề Sinh học 8. CÁC KIẾN THỨC THỰC TẾ CHỦ ĐỀ “HỆ VẬN ĐỘNG” Ứng dụng Giải thích Kiến thức tương ứng trong SGK Bài 7: Bộ xương: Xương sọ Khối xương sọ gồm 8 Không nên xương ghép lại tạo hộp chạm tay vào sọ. đỉnh đầu của * Mở rộng: Bộ xương em bé mới Thóp hay còn gọi là “cửa đình đầu”, người khi mới sinh ra sinh nơi xương đỉnh đầu của trẻ chưa khép có 300 chiếc, khi lớn hết. Thóp trước là khe hở hình thoi lên một số xương ghép giữa xương đỉnh và xương trán. Vùng lại với nhau khi trưởng thóp mềm và đàn hồi, các xương chưa thành chỉ còn 206 khép hết nên còn yếu, dễ bị tổn chiếc thương. Thóp dần khép lại, sau 24 tháng sẽ đóng lại hoàn toàn. Các mảnh xương đầu sẽ khép lại hoàn toàn thành hộp sọ lớn chứa não. - Khi bẻ các khớp ngón tay sẽ phát ra Bài 7: Bộ xương tiếng kêu rắc rắc bởi vì hầu hết khớp Khớp xương Bẻ khớp ngón xương đều bao gồm các túi nhỏ hoặc - Khớp xương là nơi tay sẽ phát ra khoảng trống chứa chất hoạt dịch tiếp giáp giữa các đầu tiếng kêu khớp. Chất lỏng này có tác dụng bôi xương. trơn và giảm sự va chạm của các đoạn
- xương khi vận động. - Khớp ở xương ngón - Khi bẻ khớp ngón tay, không gian tay là khớp động. trống giữa các khớp xương giãn ra, áp * Mở rộng: suất giảm khiến chất hoạt dịch bị hút - Không nên thường vào các khoảng trống gây ra tiếng rắc xuyên bẻ khớp ngón rắc mà chúng ta thường nghe. tay. Vì: + Gây mất thẩm mỹ. + Dãn, rách dây chằng quanh khớp tay. + Hao mòn mặt khớp. - Còi xương là một dạng rối loạn Bài 8: Cấu tạo và tính Trẻ em mắc thường gặp nhất là ở trẻ em do thiếu chất của xương bệnh còi rất nhiều vitamin D, canxi hoặc phốt xương nên pho trong cơ thể. Bệnh sẽ làm xương thường xuyên mềm và suy yếu, dẫn đến trẻ phát triển tắm nắng chậm về cả thể chất lẫn tinh thần. Còi xương có thể điều trị bằng cách bổ sung vitamin D và luyện tập thói quen ăn uống khoa học cho trẻ. - Vitamin D có thể được cơ thể tự tổng hợp dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. - Thời gian phơi nắng: tốt nhất là vào buổi sáng (khoảng 7h-8h). Trung bình yêu cầu 2 tiếng/tuần hay 10 -15 phút/ ngày tùy vào khả năng phơi nắng của trẻ và mức độ phát triển xương vận động.
- Bài 9: Cấu tạo và tính Hiện tượng chất của cơ chuột rút - Tính chất của cơ là co và dãn. - Cơ chế co cơ: khi tơ cơ mảnh đâm xuyên - Chuột rút là hiện tượng khá thường vào vùng phân bố của gặp, nguyên nhân chủ yếu là do sự co tơ cơ dày, làm tế bào thắt chặt cơ liên tục, ngoài ý muốn. cơ ngắn lại. Khi bị chuột rút bạn thường có cảm * Mở rộng: Một số giác đau đớn, thậm chí là rất đau và lưu ý: không có khả năng cử động cơ đó nữa - Cần khởi động kĩ trong chốc lát. trước khi vận động - Nguyên nhân: mạnh. + Vận động quá sức - Uống đủ nước. + Do thiếu canxi, magiê và kali - Bổ sung các chất dinh + Sự hoạt động thái quá của hệ thần dưỡng đầy đủ theo kinh cơ bắp khẩu phần ăn. + Mất nước, mất cân bằng chất điện giải + Phụ nữ mang thai. CÁC KIẾN THỨC THỰC TẾ CHỦ ĐỀ “HỆ TIÊU HÓA” Ứng dụng Giải thích Kiến thức tương ứng trong SGK Ruột thừa là Bài 24: Tiêu hóa và gì? các cơ quan tiêu hóa. - Các cơ quan tiêu hóa Ruột thừa là một phần trong ống tiêu hóa của con người, nằm ở đáy manh tràng, gần chỗ tiếp nối giữa ruột non và đại tràng bên phải. Ruột thừa là một ống nhỏ hình ngón tay, ở người lớn dài khoảng 3-13cm, lòng ruột thừa có đường kính khoảng 6mm. Thông thường, ruột thừa nằm ở bụng dưới bên phải. Ngoài
- ra còn có thể gặp ruột thừa ở những vùng khác như giữa ổ bụng, vùng dưới gan phải, nằm giữa các quai ruột non hoặc hiếm hơn là nằm bên trái bụng dưới. Đoạn ruột này không có tác dụng trong quá trình tiêu hóa nên được gọi là ruột thừa. Đau ruột thừa có thể do nhiều nguyên Bài 24: Tiêu hóa và Tại sao đau nhân gây ra, có thể do ruột thừa bị viêm các cơ quan tiêu hóa. ruột thừa lại hoặc xuất hiện khối u ruột thừa. Trong - Các cơ quan tiêu hóa nguy hiểm, đó, viêm ruột thừa chiếm tỷ lệ cao và là cần cấp cứu nguyên nhân chính gây nên chứng đau ngay? ruột thừa. Bệnh viêm ruột thừa có thể gây ra các biến chứng như: viêm phúc mạc toàn bộ, áp xe ruột thừa, vỡ ruột, thậm chí có nguy cơ tử vong. Do đó khi thấy có những dấu hiệu bất thường cần đến ngay cơ sở y tế để được thăm khám và có can thiệp kịp thời. Đau ruột thừa do viêm thể điển hình có Bài 24: Tiêu hóa và Dấu hiệu tính chất như sau: cơn đau khởi ở vùng các cơ quan tiêu hóa. nhận biết quanh rốn hoặc trên rốn. Sau khoảng 2- - Các cơ quan tiêu hóa đau ruột 12 giờ, đau tăng dần và di chuyển xuống thừa vùng hố chậu phải, đau âm ỉ liên tục, tăng lên khi ho hoặc khi thay đổi tư thế,... . Đây là triệu chứng đáng tin cậy nhất để nhận biết 1 trường hợp viêm ruột thừa cấp. Ngoài ra, như đã nói ở trên, vị trí của ruột thừa rất đa dạng. Do đó tùy vào vị trí của ruột thừa mà người bệnh sẽ có cảm nhận rất khác nhau về vị trí của đau ruột thừa: đau hông lưng (ruột thừa sau manh tràng), đau hạ vị (ruột
- thừa thể tiểu khung), đau dưới sườn phải (ruột thừa dưới gan), ... - Khi ta nhai cơm lâu trong miệng thấy Bài 25: Tiêu hóa ở Khi nhai có cảm giác ngọt vì tinh bột trong cơm khoang miệng cơm/bánh mì đã chịu tác dụng của enzim amilaza - Hoạt động của enzim lâu sẽ thấy trong nước bọt và biến đổi một thành amilaza trong nước bọt có vị ngọt phần thành đường mantôzơ, đường này đã biến đổi một phần đã tác động vào các gai vị giác trên lưỡi tinh bột trong thức ăn cho ta cảm giác ngọt. thành đường mantôzơ. Bài 25: Tiêu hóa ở Hiện tượng khoang miệng. hắt xì hơi ra - Quá trình nuốt và đẩy thức ăn thức ăn qua thực quản. Thức ăn được nuốt xuống thực quản nhờ Tai, mũi và họng thông lẫn nhau, giữa hoạt động chủ yếu của họng và mũi được ngăn cách bởi khẩu lưỡi và được đẩy qua cái mềm. Khi nuốt thức ăn, khẩu cái thực quản xuống dạ mềm sẽ nâng lên đóng kín 2 lỗ thông lên dày nhờ hoạt động của mũi nên thức ăn sẽ trôi xuống họng, tuy các cơ thực quản. nhiên nếu vừa ăn vừa cười đùa hoặc ăn quá nhanh sẽ làm khẩu cái mềm không kịp nâng lên, tạo nên đường thông nhau giữa mũi và họng. Gây ra hiện tượng hắt xì ra thức ăn. => Khi ăn uống không được cười đùa. Ý nghĩa câu Nghĩa đen về mặt sinh học của thành Bài 24. Tiêu hóa và tục ngữ ngữ "Nhai kĩ no lâu" là khi nhai càng kĩ các cơ quan tiêu hóa “Nhai kĩ no thì hiệu suất tiêu hóa càng cao, cơ thể lâu” hấp thụ được nhiều chất dinh dưỡng nên no lâu hơn. => Khi ăn uống cần nhai kĩ, nuốt chậm để tăng hiệu quả tiêu hóa.

