SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non

doc 23 trang Chăm Nguyễn 10/08/2026 180
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_chi_dao_nham_nang_cao_chat_luong_giao.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo trong trường Mầm non

  1. 3 PHẦN THỨ HAI NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề 1.1. Cơ sở lí luận Kỹ năng sống là một trong những nền tảng giúp trẻ mầm non hình thành và phát triển nhân cách. Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng tự kiểm soát, là rất quan trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép kĩ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi lứa tuổi mầm non vô cùng cần thiết và đó cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2022-2023. Dạy kĩ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn. Nhằm giúp trẻ có những kĩ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp Dạy kĩ năng sống cho trẻ là dạy cho trẻ những kĩ năng cần thiết. Trẻ biết vận dụng, những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp, biết thưa gửi, vâng dạ, không nói trống không, không nói leo, biết xưng hô thân mật, biết đảm nhận trách nhiệm khi được giao nhiệm vụ ...Trẻ được tiếp cận những kỹ năng cơ bản của lứa tuổi như kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng học tập, kỹ năng tự phục vụ trẻ biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm có cuộc sống hài hòa trong tương lai.. 1.2. Cơ sở thực tiễn Khi tìm hiểu thực trạng của các độ tuổi tại trường Mầm non tôi thấy các giáo viên thường giáo dục trẻ chỉ ở mức độ cung cấp kiến thức, thực hiện bằng cách trò chuyện, trò chơi phân vai hoặc trong hoạt động lồng ghép vào các môn học như dạy thơ truyện giáo dục thông qua các nhân vật để khơi dậy lòng nhân ái trong trẻ giúp trẻ có được những kỹ năng sống, trẻ thường được các cô giúp đỡ kể cả một số việc cá nhân trẻ cần tự phục vụ như lấy đồ dùng cá nhân. Đa số các bậc cha mẹ bận công việc, có ít thời gian gần gũi với con cái hoặc nuông chiều trẻ quá mức gây tác động đến kỹ năng ứng xử của trẻ như: Trẻ không biết chào hỏi khi khách đến nhà không thưa dạ lễ phép với người lớn tuổi
  2. 4 trong gia đình, thích chơi trò chơi bạo lực, không hài lòng thì trẻ khóc lóc . Nhiều phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho các con dù là việc nhỏ nhất như cháu không mặc áo, đội mũ, lười ăn cũng nhờ cô giáo nhắc nhở hộ. Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, ra vào lớp tự nhiên, hay nói leo, trả lời trống không, còn nhiều cháu ít nói và rụt rè trong giao tiếp với cô và bạn bè... Chính vì vậy là một cán bộ quản lý phụ trách chuyên môn tôi đã lựa chọn nghiên cứu “Một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ trong trường mầm non” góp phần thực hiện tốt phương pháp đổi mới giáo dục Mầm non của trường nói riêng và của ngành học nói chung. 2. Thực trạng 2.1. Đặc điểm tình hình chung Trường mầm non của tôi đang công tác nằm trên trục đường chính vào xã Phú Cường, hai bên đường có nhiều cửa hàng buôn bán, nhiều phương tiện giao thông qua lại. Trường có 3 khu 2 khu lẻ và 1 khu trung tâm, nhà rường đang trong thời gian xây dựng và sắp đến giai đoạn hoàn thành, chuẩn bị dự kiến năm học 2023 được công nhận trường chuẩn, mặc dù đang thời kì làm mới nhưng vẫn đảm bảo đủ lớp học để trẻ được đến lớp. Trường có tổng số 39 cán bộ giáo viên nhân viên. Trong đó: Ban giám hiệu : 03 người. GV trực tiếp giảng dạy 25 người. Y tế 01 người. Cô nuôi. 07 người. (1 cô nuôi kiêm nhiệm kế toán) Bảo vệ 03 người. 100% cán bộ giáo viên, nhân viên, đều đạt có trình độ chuẩn. Giáo viên có trình độ trên chuẩn là 24%. Tổng số lớp trong nhà trường hiện có là 10 lớp, với 270 trẻ trong đó: 03 lớp nhà trẻ 24-36 tháng = 66 trẻ 02 lớp mẫu giáo bé: = 66 trẻ. 02 lớp mẫu giáo nhỡ = 55 trẻ 03 lớp mẫu giáo lớn = 83 trẻ Cũng như các trường mầm non khác trong huyện, trường mầm non Phú Cường cũng có những thuận lợi và khó khăn riêng của mình.
  3. 5 2.2 Thuận lợi Đội ngũ giáo viên năng động, nhiệt tình, ham học hỏi. luân yêu nghề mến trẻ. Tích cực học tập để nâng cao trình độ chuyên nghiệp vụ. Luôn cố gắng phấn đấu vươn lên. Đoàn kết nội bộ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Phụ huynh tin tưởng cô giáo luôn ủng hộ các phong trào của trường, của lớp và đóng góp các khoản đầy đủ đúng thời gian theo quy định. 2.3. Khó khăn Bản thân tôi là cán bộ quản lý lâu năm, nhưng đây là năm đầu tiên được phân công phụ trách chuyên môn, nên chưa có nhiều kinh nghiệm. Giáo viên chưa nhận thức đầy đủ về phương pháp tổ chức và mục đích giáo dục hình thành kĩ năng sống cho trẻ là gì? Chưa biết tạo môi trường để trẻ học tập, thăm quan, khám phá ở mọi lúc, mọi nơi. Phương pháp tổ chức các hoạt động chưa có nhiều sáng tạo, cứng nhắc. Chưa thực sự nắm vững nội dung mục đích giáo dục hình thành kĩ năng sống cho trẻ là gì? Chưa chủ động tìm tòi, nghiên cứu phương pháp tổ chức trong các hoạt động. Diện tích lớp học còn chật hẹp, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đồ dùng đồ chơi của trẻ chưa đầy đủ để phục vụ các hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ. Nhận thức của một số phụ huynh về công tác giáo dục kĩ năng sống cho trẻ còn hạn chế. 2.4. Khảo sát thực trạng Để việc nghiên cứu đạt hiệu quả, ngay từ đầu năm học tôi đã khảo sát các nhóm lớp nhằm đánh giá vốn kĩ năng sống hiện tại của trẻ trước khi thực hiện đề tài và mức độ kiến thức dạy kĩ năng sống cho trẻ của giáo viên. Trước khi vào thực hiện đề tài tôi đã khảo sát những kỹ năng của trẻ và thu được kết quả rất là thấp chỉ đạt từ 39% - 45%. (Minh chứng 1: Bảng khảo sát thực tế trên trẻ đầu năm học trước khi thực hiện đề tài) Đầu năm tôi đã chỉ đạo các giáo viên khảo sát học sinh về kĩ năng sống và đã có kết quả như sau. (Minh chứng 2: Bảng khảo sát đội ngũ giáo viên về kiến thức dạy kĩ năng sống cho trẻ) Nhìn vào kết quả mà tôi khảo sát được tôi nhận thấy kỹ năng sống của trẻ chưa cao. Bản thân tôi mạnh dạn đưa ra các biện pháp sau để giúp trẻ có
  4. 6 những kỹ năng cơ bản của lứa tuổi như kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng học tập, kỹ năng tự phục vụ, biết được những điều nên làm và không nên làm, giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách xử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm có cuộc sống hài hòa trong tương lai. Đội ngũ giáo viên trẻ, còn thiếu kinh nghiệm, chưa mạnh dạn đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ về kĩ năng sống, khả năng tuyên truyền về cách giáo dục trẻ về kĩ năng sống tới phụ huynh còn hạn chế. Trước tình hình thực trạng của trường tôi, làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ vì vậy tôi đã mạnh dạn đề ra một số biện pháp sau. 3. Các biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho giáo viên. Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch giáo dục kĩ năng sống vào các tháng dựa trên chủ đề. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học rèn kĩ năng sống cho trẻ. Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua các trò chơi. Biện pháp 5: Chỉ đạo giáo viên Giáo dục trẻ kỹ năng sống đảm bảo an toàn bảo vệ bản thân. Biện pháp 6: Chỉ đạo giáo viên Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động. Biện pháp 7: Phối hợp với phụ huynh cách dạy trẻ kĩ năng sống. 4. Biện pháp thực hiện (Biện pháp thực hiện từng phần) 4.1. Biện pháp 1: Nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho giáo viên Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thì trước hết giáo viên phải có nhận thức hơn ai hết về những nội dung dạy trẻ, để giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kĩ năng sống cho trẻ thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là một việc làm không thể thiếu. Vào đầu năm tôi chỉ đạo tổ chuyên môn sinh hoạt theo định kì đều đặn, hàng tháng có kế hoạch nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, được ban giám hiệu nhà trường duyệt trước khi triển khai vào việc học tập một cách tốt nhất. Giúp
  5. 7 giáo viên xác định những kĩ năng sống cơ bản, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi khác nhau để giúp trẻ phát triển những kĩ năng sống phù hợp như: Sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Việc xác định được các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ. Triển khai tới 100% giáo viên những kĩ năng cơ bản mà giáo viên cần phải dạy trẻ. Kĩ năng sống tự tin: Một trong những kĩ năng đầu tiên mà giáo viên cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mối quan hệ với những người khác. Kĩ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin trong mọi tình huống ở mọi lúc mọi nơi. Kĩ năng sống hợp tác: Bằng các trò chơi, câu chuyện, bài hát. Giáo viên giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây là một công việc không nhỏ đối với trẻ ở lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn. Kĩ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu. Đây là một trong những kĩ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này, là sự khát khao được học. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Kĩ năng giao tiếp: Giáo viên cần dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh nó. Đây là một kĩ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở lên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn sang học mọi thứ. Kĩ năng giữ an toàn cá nhân: Trẻ biết kêu cứu khi gặp nguy hiểm, biết đề nghị sự giúp đỡ của người khác khi cần thiết, biết tránh xa những đồ vật và những nơi gây nguy hiểm. Tập huấn cho giáo viên về các kĩ năng làm việc với cha mẹ, tạo cơ hội tổ chức nhiều hoạt động nhằm giúp cho giáo viên tăng cường phối hợp nhất quán với gia đình để dạy trẻ kĩ năng sống đạt hiệu quả. Thông qua các hình thức bồi dưỡng này để giúp cho giáo viên nhận thức đúng đắn về yêu cầu, nội dung, hình thức cũng như phương pháp giáo dục trẻ kĩ năng sống để áp dụng vào dạy trẻ kĩ năng sống hàng ngày đạt hiệu quả cao.
  6. 8 (Minh chứng 3: Hình ảnh tổ chức họp chuyên môn) 4.2. Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên lập kế hoạch giáo dục kĩ năng sống vào các tháng dựa trên chủ đề Trước khi hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch giáo dục kĩ năng sống vào các tháng chủ dựa trên chủ đề tôi đã lập kế hoạch rèn kĩ năng sống cho từng tháng. Thời gian Nội dung Phân công - Xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ tới giáo viên. - Hướng dẫn giáo viên cho trẻ làm quen với một số kĩ năng sống đơn giản hàng ngày. BGH - TTCM - Hướng dẫn giáo viên lồng ghép nội dung Tháng 9 tuyên truyền qua các bảng tuyên truyền tại lớp theo từng chủ đề sao cho phù hợp. - Giúp trẻ nhận thức bản thân. Dạy trẻ chào hỏi người lớn, cách xưng hô. - Triển khai các tiết kiến tập có lồng ghép giáo dục kĩ năng sống, kĩ năng tự phục vụ tới 100 % giáo viên. - Tiếp tục hướng dẫn giáo viên rèn cho trẻ một số thói quen tốt và kĩ năng sống cơ bản BGH - TTCM Tháng 10 trong sinh hoạt như: Biết lắng nghe, biết tự bảo vệ sức khỏe của mình, biết phòng tránh một số nơi nguy hiểm. - Tập cho trẻ làm quen với các thao tác kĩ năng phòng chống các tai nạn thông thường hàng ngày trẻ hay gặp. - Hướng dẫn giáo viên tập cho trẻ một số thói quen tốt và các kĩ năng sống trong sinh hoạt hàng ngày như: vệ sinh thân thể. Tập BGH - TTCM Tháng 11+12 tính ngăn nắp, tính chính xác . - Chú ý lồng ghép kĩ năng sống vào giờ hoạt động có chủ đích, mọi lúc, mọi nơi và các
  7. 9 hoạt động khác. - Trẻ được thực hiện hoạt động khám phá trải nghiệm đơn giản về các kĩ năng sống hàng ngày. - Dạy trẻ lễ giáo. - Chỉ đạo giáo viên đưa giáo dục steam dạy trẻ kĩ năng trải nghiệm thực hành cuộc sống như: Làm bánh trưng, chợ quê - Giáo dục trẻ tự buộc tóc, thay quần áo, tự Tháng 01+02 mang giày dép, tự sắp xếp đồ dùng cá nhân ngăn nắp. - Trao đổi kinh nghiệm khi thực hiện kĩ năng sống cho trẻ trong các buổi sinh hoạt chuyên môn. - Chỉ đạo giáo viên dạy trẻ kĩ năng thực hành cuộc sống như: Làm bánh trùng, bánh trôi - Sưu tầm tranh ảnh về giáo dục kĩ năng sống của trẻ qua các hoạt động hàng ngày. - Tiếp tục hướng dẫn giáo viên rèn cho trẻ BGH- TTCM Tháng 03+04 một số thói quen tốt và kĩ năng sống cơ bản trong sinh hoạt như: Biết lắng nghe, biết tự bảo vệ sức khỏe của mình, biết phòng tránh một số nơi nguy hiểm. - Lồng ghép nội dung tuyên truyền qua nội dung của chủ đề trong tháng về những kĩ năng nhận thức. - Theo dõi sự tiến bộ của trẻ về thực hiện các kĩ năng sống cơ bản hàng ngày. BGH- Tháng 05+06 - Tham gia đánh giá kết quả trên trẻ qua TTCM phiếu khảo sát về kĩ năng sống.
  8. 10 Căn cứ vào mục đích yêu cầu và nội dung của từng tháng dựa trên chủ đề để lựa chọn nội dung giáo dục kĩ năng sống tích hợp một cách hợp lý tôi đã đưa ra một số kĩ năng phù hợp vào chủ đề để giáo viên cùng tham khảo và đi đến thống nhất. * Tháng 9 dựa trên chủ đề trường mầm non. Dạy trẻ kĩ năng sắp xếp đồ dùng. Đồ chơi gọn gàng. Giáo dục trẻ biết cách ứng xử với người lớn, biết cách xưng hô phù hợp với từng đối tượng. * Tháng 10 dựa trên chủ đề bản thân. Biết xây dựng môi trường xanh, sạch: Vứt rác đúng nơi quy định, không khạc nhổ bừa bãi, lau dọn đồ dùng Có ý thức tiết kiệm điện nước trong sinh hoạt hàng ngày. * Tháng 11 dựa trên chủ đề gia đình. Dạy trẻ phân biệt môi trường sạch và bẩn ở trường mầm non và gia đình. Biết bảo vệ sức khỏe. Rửa tay trước khi ăn, ăn chín, uống chín, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường, khi ngửi thấy mì lạ không ăn, không uống nước phẩm pha nhiều màu * Tháng 12 dựa trên chủ đề nghề nghiệp. Dạy trẻ biết trong xã hội có nhiều nghề, nghề nào cũng cao quý, có ích cho xã hôi, thông qua đó giáo dục trẻ kĩ năng giao tiếp và kĩ năng chia sẻ. * Tháng 1 dựa trên chủ đề thực vật. Rèn trẻ nhận biết con vật và cây cối có ích cho con người. Cây cối làm giảm ô nhiễm môi trường, giảm bụi, tiếng ồn, giảm nhiệt độ ngày hè. Con người cần chăm sóc bảo vệ vật nuôi, cây trồng. * Tháng 2 dựa trên chủ đề động vật. Dạy trẻ nhận biết con vật, quan tâm đến động vật, biết yêu quý chăm sóc bảo vệ những con vật gần gũi, tránh xa những động vật nguy hiểm. * Tháng 3 dựa trên chủ đề giao thông. Dạy trẻ kĩ năng tự bảo vệ bản thân đi đi trên đường hoặc đi trên các phương tiện giao thông. Dạy trẻ cách ứng xử có văn hóa khi đi trên các phương tiện giao thông, kĩ năng thực hiện các luật lệ giao thông. * Tháng 4 dựa trên chủ đề nước và các hiện tượng tự nhiên.
  9. 11 Dạy trẻ kĩ năng tự bảo vệ bản thân khi trời nắng, rét, khi thời tiết thay đổi, biết chia sẻ thông cảm với người khác khi bị tai nạn, thiên tai, biết cách phòng chống bão lũ, biết nguyên nhân gây ra lũ lụt: Con người chặt phá rừng làm cho nước chảy nhanh từ rừng về. Ngoài việc giáo gục trẻ có kĩ năng tự bảo vệ bản thân thì còn giáo dục trẻ có kĩ năng biết tỏ thái độ với những việc nên làm và không nên làm để bảo vệ thiên nhiên, tạo môi trường sống an toàn cho mọi người. * Tháng 5 dựa trên Chủ đề quê hương- đất nước- Bác Hồ và trường tiểu học. Dạy trẻ biết địa danh nơi trẻ sống. Biết các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, ngành nghề truyền thống. Biết cảm thông chia sẻ. Có ý thức giữ gìn khi đi thăm quan các di tích, các danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước. Tóm lại: Sau khi thực hiện biện pháp này giáo viên trường tôi đã biết cách đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống vào từng chủ đề, từng hoạt động phù hợp. Không những lồng ghép linh hoạt mà còn tránh được sự chồng chéo trong việc rèn kĩ năng sống cho trẻ. 4.3. Biện pháp 3: Xây dựng môi trường lớp học rèn kĩ năng sống cho trẻ Việc xây dựng môi trường giáo dục rất quan trọng, góp phần thực hiện đúng theo kế hoạch đề ra. Tôi đã nhắc giáo viên phải chú trọng đến công tác xây dựng môi trường nhằm giáo dục kĩ năng sống cho trẻ. Trước mỗi lớp học có bảng tuyên truyền đến các bậc cha mẹ với tiêu đề: “Những điều phụ huynh quan tâm” trong đó gồm có các nội dung như danh sách theo dõi cân đo theo định kì của trẻ, kết quả khám sức khỏe, các nội dung tuyên truyền về dịch bệnh, về giáo dục kĩ năng sống theo chủ đề .. các nội dung được trang trí đẹp mắt và nổi bật, gây được sự chú ý của phụ huynh khi đưa đón trẻ. Tôi chỉ đạo giáo viên trong lớp trang trí các góc mở cho trẻ được trải nghiệm và tham gia hoạt động phù hợp với từng lứa tuổi và dựa trên chủ đề tháng. Ngoài sách ra, trong mỗi góc còn có những bộ quần áo, giầy, mũ, dép .. để phát triển vận động tinh cũng như kĩ năng tự phục vụ cho trẻ. (Minh chứng 4: Hình ảnh trẻ tự tin làm một số công việc hàng ngày) Ví dụ: Ở bảng tin nhà tuyên truyền về giáo dục lễ giáo cho phụ huynh. Trẻ xem hình ảnh và sự hướng dẫn của cô trẻ có thể tự làm được các công việc một mình. (Minh chứng 5: Hình ảnh bảng tuyên truyền của nhà trường)
  10. 12 Ví dụ: Ở góc kỹ năng các lớp trang trí hình ảnh làm nổi bật về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ làm một số công việc hàng ngày như tự đánh răng, tự quét nhà, tự rửa tay .. (Minh chứng 6: Hình ảnh góc kĩ năng) 4.4. Biện pháp 4: Chỉ đạo giáo viên giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua các trò chơi Trẻ mầm non học mà chơi - Chơi mà học. Tổ chức cho trẻ tham gia các trò chơi vận động để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một biện pháp rất hữu hiệu mang lại hiệu quả cao trong giờ chơi cho trẻ. Chính vì vậy, mà tôi đã nghiên cứu ra một số trò chơi đưa vào các khối để chỉ đạo giáo viên hướng dẫn trẻ thực hiện. 4.4.1. Một số trò chơi rèn cho trẻ kỹ năng hợp tác cho trẻ 4.4.1.1. Trò chơi 1: Kéo co Cách chơi: Thi đua giữa 2 đội, mỗi đội 10 bạn. Tất cả các thành viên tham gia sẽ cùng nắm vào dây thừng. Mỗi đội được tự do lựa chọn cách sắp xếp thành viên, vị trí đứng. Khi có tín hiệu của trọng tài, hai đội dùng sức kéo dây thừng về phía mình, đội nào kéo phần dây đỏ lệch về phía mình trước thì sẽ giành chiến thắng. Luật chơi: Khi chưa có tin hiệu của trọng tài đội nào kéo trước sẽ bị thua. 4.4.1.2. Trò chơi 3: Cái kén khổng lồ Cách chơi: Cô cho trẻ cầm hai tay vào dù khi nhạc nổi lên trẻ dùng tay đưa dù tung lên hạ xuống nhanh chậm theo nhạc, cuối câu nhạc cho trẻ cùng nhau chui vào trong dù, nhạc tắt cô thu dù cho trẻ đứng tại chỗ làm động tác ngủ. Luật chơi: Khi bản nhạc tắt mà bạn nào chưa chui vào dù tạo kén thì bạn đấy phạm luật. 4.4.2. Một số trò chơi rèn luyện cho trẻ kỹ năng tự tin 4.4.2.1. Trò chơi: “Nhảy bao bố” Cách chơi: Có 2 đội chơi mỗi đội từ 5 đến 7 trẻ. Đảm bảo số thành viên của các đội như nhau. Các đội chơi đứng thành hàng dọc ở vạch xuất phát tại ô hàng dọc của mình. Người chơi đầu tiên, chui vào bao bố, chuẩn bị ở vạch xuất phát. Khi có hiệu lệnh thì bật liên tục lên tới vạch đích lấy hoa cắm vào rỏ, sau đó đến bạn tiếp theo. Luật chơi: Chơi theo luật tiếp sức, khi bạn trước chưa về đích, hoặc trong
  11. 13 khi nhảy mà tuật bao tải thì bông hoa đó sẽ không được tính 4.4.2.2 Trò chơi: “Bé là người dẫn chương trình” Cách chơi: Cho trẻ ngồi thành vòng tròn hoặc chữ u. Cô đưa ra 1 chủ đề diễn thuyết phù hợp với chủ đề đang học và mời trẻ đưa ra ý kiến của bản thân về chủ đề đó trước nhóm bạn. 4.5. Biện pháp 5: Chỉ đạo giáo viên Giáo dục kỹ năng sống đảm bảo an toàn bảo vệ bản thân Đối với lứa tuổi mầm non trẻ cần được học các kĩ năng tự phục vụ bản thân như đánh răng, rửa mặt, vệ sinh . Ngoài ra trẻ cần nhận biết được các nguy hiểm xung quanh mình như những nguy hiểm từ lửa, điện, nước, người lạ các con cần hiểu được đâu là đồ chơi, đâu là đồ dùng trong gia đình, trong lớp, đâu là đồ vật an toàn, đâu là vật không an toàn từ đó trẻ biết ứng phó với những tình huống có thể xảy ra. Thấy được tầm quan trọng như vậy tôi đã hướng dẫn 100% giáo viên trường tôi dạy trẻ kỹ năng xử lý một số tình huống bất trắc xảy đến với trẻ. 4.5.1. Dạy trẻ có kỹ năng an toàn khi tự chơi. Đây được coi là mối quan tâm hàng đầu của hầu hết các bậc phụ huynh. Trong quá trình chơi, các con có thể gặp phải những mối nguy hiểm từ những đồ vật ở lớp, trong gia đình như phích nước, ổ điện, bếp ga, đồ dùng nhà bếp, cầu thang, những vật nhỏ. Ví dụ: Cô cho trẻ xem một số hình ảnh về trẻ bị điện giật, bị bỏng, bị ngã ., hỏi trẻ “Bạn nhỏ bị làm sao? Vì sao bị như vậy? Để không bị bỏng thì phải làm như thế nào?” Cô hướng dẫn trẻ cách đi cầu thang, cách xử trí khi bị bỏng nước, không lại gần ổ điện, không tự tiện bật bếp ga 4.5.2. Dạy trẻ không nhận quà và đi theo người lạ. Ở địa bàn quê tôi nằm sát với Tỉnh Phú Thọ có cầu Văn Lang bắc qua nên có nhiều tệ nạn xã hội để đề phòng kẻ lạ mặt lợi dụng dụ dỗ trẻ em làm những việc sấu như cho quà, dụ đi chơi cùng . Nhận thấy việc này cũng rất quan trọng để đảm an toàn cho trẻ tôi đã chỉ đạo giáo viên dạy trẻ kỹ năng không nhận quà và đi theo người lạ Ví dụ: Cô tạo tình huống khi có người lạ cho bé bánh kẹo, bim bim, sữa hay đồ chơi .. Dạy trẻ kĩ năng tuyệt đối không được cầm, nhận, ăn. Không tiếp tục đứng gần, nói chuyện hay tiếp xúc với người đó nữa, hãy đi ra chỗ người