Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh Lớp 5

docx 12 trang Chăm Nguyễn 16/06/2026 180
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh Lớp 5", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_giai_phap_nang_cao_chat_luong_d.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học phân môn Luyện từ và câu cho học sinh Lớp 5

  1. - Giáo viên khi dạy học còn ảnh hưởng phương pháp truyền thống, chưa tích cực đổi mới phương pháp theo hướng phát huy tính tích cực,lấy học sinh làm trung tâm ở phân môn Luyện từ và câu. Tổ chức dạy học ở phân môn này còn khô khan, lúng túng chưa mang lại hiệu quả cao. - Hoạt động dạy và học cung cấp kiến thức cho học sinh nhớ máy móc là chủ yếu, chưa chú trọng đến vận dụng thực hành. - Người giáo viên chưa định hướng cách học cho học sinh nên khi tìm hiểu về nghĩa, cách dùng từ, sử dụng từ ngữ và ngữ pháp học sinh chưa có cách học chủ động, tích cực và sáng tạo. 2.3.2. Về phía học sinh: - Vốn từ còn hạn chế, kiến thức về từ loại và thành phần câu chưa chắc. - Khả năng tiếp thu của học sinh trong lớp không đồng đều. - Một số học sinh còn thụ động trong các giờ học, chưa thích học phân môn Luyện từ và câu. 3
  2. III. CÁC BIỆN PHÁP ĐÃ TIẾN HÀNH 1. Biện pháp 1. Nghiên cứu kĩ về kiến thức trọng tâm, mục tiêu cần đạt cho học sinh và thay đổi ngữ liệu, yêu cầu của bài trong sách giáo khoa sao cho phù hợp; a. Kiến thức trọng tâm: Qua nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa lớp 5, tôi nhận thấy mạch kiến thức của phân môn Luyện từ và câu trong chương trình lớp 5 gồm: + Nghĩa của từ (Từ đồng âm, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ nhiều nghĩa) + Mở rộng vốn từ (Tổ quốc, nhân dân, hòa bình, hữu nghị - hợp tác, thiên nhiên, bảo vệ môi trường, hạnh phúc, công dân, Trật tự - An ninh, truyền thống, nam và nữ, trẻ em, quyền và bổn phận,truyền thống ) + Từ loại: Đại từ; quan hệ từ, tổng kết vốn từ + Câu: Câu ghép;Nối câu ghép bằng QHT; Các phép liên kết câu; Ôn tập về dấu câu:“dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than, dấu phẩy, dấu hai chấm, dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang”. b. Mục tiêu đạt được: - Học sinh cần nắm vững khái niệm của các lớp từ vựng, từ loại, các kiểu câu, dấu câu. Biết vận dụng trong giao tiếp hoặc trong viết văn.. Ví dụ: c. Thay đổi ngữ liệu, yêu cầu cho phù hợp với đặc điểm học sinh của lớp mình. - Kiến thức tiếng Việt vốn bắt nguồn từ đời sống thực tế, nếu trong khi dạy, giáo viên liên hệ thực tế để học sinh tìm kiến thức thì các em làm bài tập tốt hơn, hứng thú hơn. Ngược lại sau mỗi hoạt động hoặc mỗi bài, giáo viên cần liên hệ thực tế để giáo dục các em vận dụng những điều đã học vào cuộc sống. Có như vậy, các em mới cảm thấy kiến thức bài học thật gần gũi, yêu thích môn học hơn. Ví dụ: 2. Biện pháp 2: Khơi gợi sự tò mò, nuôi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh. - Tạo hứng thú trong học tập cho học sinh cũng là một nghệ thuật trong quá trình dạy học của người giáo dục. Tạo hấp dẫn cuốn hút học sinh vào hoạt động học và nhất là môn Luyện từ và câu đòi hỏi giáo viên cần có phương pháp và tổ chức phong phú. Giảm bớt sự căng thẳng, nhàm chán. - Để tạo được sự hứng thú học tập cho các em, tôi luôn tạo được sự thoải mái trong học tập, phải làm cho các em cảm nhận được vẻ đẹp và khả năng kì diệu của ngôn từ, để kích thích vốn từ sẵn có của từng em. Vì vậy tôi luôn biết gây hứng thú học tập cho học sinh sẽ làm cho các em thích thú học tập không còn 4
  3. gây cảm giác khô khan, chán học. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài tôi sử dụng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau (Phương pháp trò chơi, phương pháp động não, phương pháp hỏi đáp ) phù hợp với từng dạng bài. Ví dụ: a. Khơi gợi sự tò mò tạo hứng thú từ cách giới thiệu bài. Để bắt đầu tiết học thật thoải mái tôi thường gợi mở, dẫn dắt cho các em vào vấn đề dễ nhất, hiệu quả nhất, vừa giúp các em nắm vững kiến thức cũng vừa giúp các em không áp dụng máy móc trong thực tế cuộc sống. Ví dụ 1: Bài Từ trái nghĩa * Tổ chức thực hiện: Giáo viên giới thiệu bằng cách tổ chức trò chơi: Nhìn hình đoán từ ngữ - Chiếu các hình ảnh thể hiện cảm xúc vui > < đen. - Cho HS nêu nhận xét về nghĩa của những từ ngữ đó. - GV giới thiệu: Những từ có nghĩa trái ngược nhau được gọi là gì? Chúng ta tìm hiểu qua bài Từ trái nghĩa. b. Khơi gợi hứng thú, thu hút sự chú ý của học sinh trong quá trình tìm kiếm kiến thức mới cũng như trong thực hành làm bài tập. Trong mỗi bài học, tôi luôn nghiên cứu lựa chọn những phương pháp phù hợp mỗi dạng bài để tạo kiến thức cho học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức mới. Để thu hút học sinh trong khi thực hành làm bài tập tôi cũng luôn tạo không khí học tập để khơi gợi sự hứng thú đối với học sinh như sử dụng các trò chơi học tập. Trò chơi chủ yếu là vui chơi, giải trí, thư giãn, tạo cơ hội giao lưu, hợp tác với bạn bè trong nhóm trong tổ. Sử dụng trò chơi trong học tập sẽ đạt được hiệu quả hơn, làm thay đổi hình thức học tập. Thông qua trò chơi không khí lớp học trở nên thoải mái dễ chịu. Học sinh tiếp thu bài tự nhiên nhẹ nhàng và hiệu quả. Ví dụ 1: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Hữu nghị - hợp tác, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi "Tìm đúng, gắn nhanh" khi làm bài tập 1. * Cách làm lâu nay là: Một số giáo viên vẫn thường áp dạng cách dạy máy móc như sách giáo viên là cho học sinh làm việc cá nhân rồi kết luận. * Tôi đã thực hiện là: Từ mức độ kiến thức của bài tôi có thể tổ chức được trò chơi. Giúp học sinh có khả năng phân biệt nhanh, rèn tính nhanh nhẹn chính xác, tạo khí thế cho các em. Giáo viên cần chuẩn bị các tấm thẻ có ghi sẵn các từ đã cho trong bài ( hữu nghị, hữu hiệu, chiến hữu, hữu tình, thân hữu, hữu ích, hữu hảo, bằng hữu, hữu dụng) a. Hữu có nghĩa là “bạn bè” b. Hữu có nghĩa là “ có” 5
  4. ........................................................... .. . .......................................................... - Hình thức tổ chức: Giáo viên chia lớp thành 3 đội, mỗi đội có 5 em tham gia. Thời gian: 3 phút. Tôi cho các em từng đội nhận giấy bìa, trong thời gian 3 phút các em đính các tấm thẻ đúng vào bảng phụ. Hết thời gian đội nào phân biệt đúng nhất, nhanh nhất thì đội đó thắng cuộc . Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Câu ghép” , tôi tổ chức cho học sinh khởi động bằng bài hát “Đảng là mùa xuân”. Sau đó sử dụng lời bài hát là tư liệu để kiểm tra bài cũ và dạy bài mới. Phân môn Luyện từ và câu được đánh giá là phân môn khó trong môn Tiếng Việt nên việc gây hứng thú đối với học sinh là rất quan trọng. Tuy nhiên trong quá trình lên lớp giảng dạy mỗi giáo viên phải tổ chức tiết học theo phương châm: “ Học mà chơi, chơi mà học” để tạo hứng thú đặc biệt đối với các em nhưng chú ý không biến giờ học thành giờ chơi vô ích Biện pháp 4. Phối hợp bài dạy với các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Ngoài việc dạy học ở trên lớp nên tổ chức cho học sinh những giờ học ngoại khóa thật bổ ích như tổ chức các trò chơi đố vui để học, . Các hội thi tìm từ nhanh, đặt câu đúng, để các em tăng thêm vốn hiểu biết tạo ra sự thi đua, hứng khởi trong học tập Tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu nói riêng. Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp như các giờ chơi, chào cờ, ccs cuộc tọa đàm trao đổi học sinh sẽ tích lũy được vốn từ cho mình. Ví dụ: Như vậy, Luyện từ và câu được đánh giá là khô khan trong các phân môn Tiếng Việt. Vì vậy việc phối hợp với các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ tạo hứng thú cho học sinh trong việc tiếp thu kiến thức. Khi học sinh có hứng thú, các em sẽ tự giác, chủ động học tập chủ động nắm được kĩ năng, kiến thức. Không chỉ vậy, nó còn giúp các em có thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, biết quý, biết giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. IV. KẾT QUẢ Sau khi áp dụng các biện pháp trên, tôi thấy kết quả học tập của học sinh đã thay đổi rõ rệt. Từ chỗ học sinh hiểu kiến thức cơ bản đến vận dụng nhuần nhuyễn, nhiều em đã có tiến bộ rất nhiều. Đặc biệt, nhiều em không còn thái độ ngại khi gặp các bài tập Luyện từ và câu. Làm tốt các biện pháp trên, tôi còn đạt được một mục đích nữa là giúp các em học môn Tiếng Việt nhanh hơn, dễ hiểu hơn, các em yêu thích bộ môn hơn. Điều đó được thể hiện ở kết quả khảo sát cuối năm về Luyện từ và câu. Kết quả như sau: TRƯỚC KHI VẬN DỤNG SAU KHI VẬN DỤNG XẾP 6
  5. LOẠI Số bài Tỉ lệ Số bài Tỉ lệ Hoàn thành 9 20% 18 40% tổt Hoàn 31 68,89% 27 60 % thành Chưa hoàn 5 11,11% 0 0 % thành Nhìn vào bảng đối chiếu so sánh trên cho thấy, khi tôi áp dụng biện pháp ở trên thì : - Các em đón nhận tiết học rất sôi nổi, hào hứng và tự giác.Giờ học vui vẻ, nhẹ nhàng, không còn căng thẳng, nặng nề như trước. - Biết cách trình bày, trao đổi, tranh luận về những vấn đề gần gũi với đời sống và phù hợp với trình độ của học sinh lớp 5. - Các em được rèn 4 kĩ năng nghe, nói, viết, đọc. Nhiều em không những nói đúng, sử dụng đúng từ ngữ trong nói và viết mà còn nói được hay hơn. - Hơn nữa các em cảm thấy yêu quý, tự hào và có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt thông qua phân môn Luyện từ và câu. PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN. Qua quá trình nghiên cứu, bản thân tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm về việc dạy Luyện từ và câu cho học sinh 5 như sau : - Giáo viên cần phải nghiên cứu bài thật kỹ trước khi dạy. - Giáo viên nắm vững nội dung cần dạy cho học sinh. - Giáo viên phải có những phương pháp dạy học thoả đáng. - Đồ dùng dạy học cần chuẩn bị đa dạng phong phú càng nhiều vật thật càng tốt. - Giáo viên chịu khó sưu tầm hoặc sáng tác các bài thơ, câu đố vui liên quan đến bài học. - Giáo viên cần linh hoạt lựa chọn phương pháp thích hợp cho từng bài dạy để hấp dẫn học sinh. - Giáo viên cần có những hình thức động viên kịp thời đối với những học sinh có tiến bộ. - Cố gắng phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập. 2. KHUYẾN NGHỊ. - Đối với Phòng giáo dục: Tổ chức các chuyên đề dạy Luyện từ và câu trong các khối lớp. Chuyên đề dạy các môn học tích hợp Luyện từ và câu - Đối với nhà trường: 7
  6. Trên đây là một số kinh nghiệm trong việc dạy Luyện từ và câu lớp 5. Rất mong Hội đồng khoa học các cấp đánh giá góp ý để kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cũng như có thể góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục có hiệu quả. Tôi xin chân thành cảm ơn! PHẦN IV. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách giáo viên, Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5. 2. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5 (Trần Mạnh Hưởng, Lê Hữu Tình). 3. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt ở Tiểu học (Lê Phương Nga). 4. 40 đề ôn luyện cuối cấp Tiểu học (Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Trí) 5. Vở bài tâp nâng cao Từ và câu lớp 5 (Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh) 6. Cùng em học Tiếng Việt lớp 5 (Phan Phương Dung, Nguyễn Trí Dũng, Hoàng Minh Hương, Nguyễn Thanh Thủy) 7. Bài tập trắc nghiệm Tiếng Việt lớp 5 (Lê Phương Nga, Nguyễn Thu Hà) 8. Chương trình Giáo dục phổ thông mới 2018. ĐỀ KHẢO SÁT HỌC SINH Câu 1: Phân biệt sắc thái nghĩa của những từ đồng nghĩa (được gạch chân) trong các dòng thơ sau : a- Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao. (Nguyễn Khuyến ) b- Tháng Tám mùa thu xanh thắm. ( Tố Hữu ) c- Một vùng cỏ mọc xanh rì. (Nguyễn Du ) d- Nhớ từ sóng Hạ Long xanh biếc. (Chế Lan Viên ) e- Suối dài xanh mướt nương ngô. (Tố Hữu ) Câu 2: Trong các từ gạch chân dưới đây, từ nào là từ đồng âm, từ nào là từ nhiều nghĩa: a)Vàng : - Giá vàng trong nước tăng đột biến. - Tấm lòng vàng. - Chiếc lá vàng rơi xuống sân trường. b) Bay : - Bác thợ nề đang cầm bay trát tường. - Đàn cò đang bay trên trời. - Đạn bay vèo vèo. - Chiếc áo đã bay màu. Câu 3: Cho các từ sau: “ xanh, xanh biếc, xanh lè, đỏ au, đỏ bừng, đỏ chạch, đỏ chói, đỏ chót, Đồng (tiền), (cánh ) đồng, bàn (việc), (cái) bàn, (Thè) lưỡi, lưỡi liềm, lưỡi hái, lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi lê, lưỡi gươm” Yêu cầu HS xác định và phân thành 3 nhóm : Từ đồng nghĩa; từ nhiều nghĩa; từ đồng âm 8
  7. Ví dụ minh họa BIỆN PHÁP 2 Ví dụ 1: Khi dạy bài “Từ đồng nghĩa” * Cách làm lâu nay: Cho học sinh tìm hiểu ví dụ nhận xét, rút ra ghi nhớ và làm bài tập thực hành. * Tôi đã thực hiện thay đổi ngữ liệu như sau: Phần nhận xét: 1. Học sinh quan sát tranh, so sánh nghĩa của các cặp từ và trình bày cách hiểu về nghĩa của những từ đó. a. học sinh – học trò Nghĩa của hai từ học sinh, học trò có điểm nào giống nhau? (Hai từ này cùng chỉ ai?) b. Khiêng – vác - Quan sát tranh và lời giải nghĩa dưới tranh: Khiêng : Nâng và chuyển vật nặng Vác: nâng, chuyển vật nặng hoặc cồng kềnh bằng sức của hai hay nhiều hoặc cồng kềnh bằng cách đặt lên người hợp lại. vai. - Nghĩa của hai từ khiêng , vác có điểm nào giống nhau, điểm nào khác nhau? (Sau khi học sinh thực hiện một trong hai bài tập trên, giáo viên sẽ gợi ý để các em nêu được định nghĩa ( ghi nhớ)). Phần luyện tập: Bài tập: Giúp bạn Lan Anh chọn từ nào trong hai trường hợp sau? 9
  8. a. Cô giáo mặc một chiếc áo in hình những bông hoa hướng dương tuyệt đẹp. Bạn Lan Anh ôm lấy cô và nói: “Cô ơi! Chiếc áo cô mặc có những bông hoa vàng rực rỡ/ vàng chóe, trông thật đáng yêu.” b. Buổi sáng, những tia nắng lấp lánh buông nhẹ bên hiên nhà. Lan Anh liền viết mấy câu thơ: “Mùa thu gọi về tia nắng – Vàng mơ / vàng rộm bên những hiên nhà ” Ví dụ: Khi dạy bài Câu ghép, với bài tập 3 đề bài là “Thêm một vế câu thích hợp để tạo thành câu ghép”.Tôi đã thay đổi đề bài thành “Thêm vế câu thích hợp để tạo thành câu ghép” và chuyển phần d thành câu cho vế thứhai trước, yêu cầu học sinh thêm vế một. Mục đích để học sinh phát huy được năng lực. Bài 3: Thêm vế câu thích hợp vào chỗ trống để tạo thành câu ghép? a.Mùa xuân đã về, b. Mặt trời mọc, c. Trời đã khuya nhưng d. , em phải nghỉ học. Với việc thay đổi ngữ liệu bài học, tôi nhận thấy khả năng làm bài của học sinh rất tốt. Học sinh thêm được nhiều vế câu Ví dụ minh họa BIỆN PHÁP 4 Ví dụ 2: Bài “Mở rộng vốn từ: “Trật tự -an ninh”(TV 5 tập 2, Tuần 24 – chủ điểm “Vì cuộc sống thanh bình”), giáo viên sưu tầm các đoạn phim nói về các hoạt động trật tự - an ninh và các hình ảnh về những công việc liên quan đến bài tập 3 như: công an, đồn biên phòng, tòa án , từ đó các em sẽ làm được các câu hỏi ở bài tập 2 và 3 (SGK trang 59). Kết quả có nhiều học sinh tìm đúng từ và có vốn từ do mình tìm được, học sinh có hứng thú tích cực hơn và nhớ lâu hơn. Có vốn hiểu biết cơ bản khi vận dụng học tập cho phân môn cũng như các môn học khác tốt hơn => Với cách làm này, học sinh dễ dàng tìm từ mà không bị nhầm và sai từ, các em tìm được nhiều từ khá phong phú. c. Hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức bài học nhẹ nhàng, tự nhiên, phát huy được tính tích cực của học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài Từ trái nghĩa (tiết 1 tuần 4). Khi dạy loại bài này, tôi dùng bài thơ sau để giúp học sinh nhận biết từ trái nghĩa. Dòng sông bên lở bên bồi Bên lở thì đụcbên bồi thì trong Khôn nhà dại chợ long đong Việc này hẳn có tay trong tay ngoài Lươn ngắn lại chê trạch dài 10
  9. Vụng chèo khéo chống khen ai vững vàng Vào sinh ra tử gian nan Ăn không nói có làm càn chớ nên Xấu người đẹp nết là hơn Đầu đuôi kể rõ dưới trên ngọn ngành Trống xuôi kèn ngược sao đành Áo rách khéo vá hơn lành vụng may (TNTP số 19 tháng 3/2007) Muốn tìm được cặp từ trái nghĩa, trước các cặp từ còn đang “Nghi vấn”, học sinh cần trả lời 2 câu hỏi nhỏ sau: thứ nhất “nghĩa của 2 từ trong mỗi câu thơ có đối lập nhau không, trái ngược nhau không?”, thứ hai : “cơ sở chung của sự đối lập về nghĩa của 2 từ là gì ?”. Trả lời được 2 câu hỏi trên, học sinh đã xác định có cơ sở chắc chắn về từ trái nghĩa. Cuối tiết 2, tôi củng cố kiến thức bằng cách tổ chức thi sử dụng từ trái nghĩa dưới dạng 2 loại bài tập sau: Loại bài tập 1: Điền từ trái nghĩa vào chỗ trống trong từng câu thơ sau Loại bài tập 1: Điền từ trái nghĩa vào chỗ trống trong từng câu thơ sau: Yếu trâu còn hơn ............bò (khoẻ) Có bé lại xé ra ............đáng buồn (to) Lành làm gáo,...........làm muôi (vỡ) Ở ....người cười, ở hẹp người che (rộng) (TNTP số 39 A + 39B tháng 3/2002). Loại bài tập 2: Đặt câu với cặp từ trái nghĩa. * Ví dụ: Đặt câu với cặp từ béo - gầy. Ở dạng bài tập điền từ, học sinh cần được dựa vào từ cho sẵn (từ in đậm trong câu thơ), coi đó là từ “điểm tựa” để tìm từ có nghĩa trái ngược, tạo nên một cặp từ trái nghĩa hoàn chỉnh. Còn ở dạng bài tập đặt câu, học sinh cần căn cứ vào đặc trưng về nghĩa của cặp từ trái nghĩa đó để đặt câu có nội dung thích hợp. Ví dụ minh họa BIỆN PHÁP 5 Ví dụ: Trong năm học 2019- 2020, tôi đã tổ chức cho học sinh trong lớp tôi chủ nhiệm tham gia giao lưu “Em yêu Tiếng Việt” Tôi đã cung cấp hệ thống câu hỏi thuộc Luyện từ và câu lớp 5 như sau: Câu 1: Từ nào dưới đây có tiếng đồng không có nghĩa là “cùng”? A. Đồng hươngB. Thần đồngC. Đồng nghĩaD. Đồng chí Câu 2: Những cặp từ nào dưới đây cùng nghĩa với nhau? A. Leo - chạy B. Chịu đựng - rèn luyện C. Luyện tập - rèn luyện D. Đứng - ngồi 11
  10. Câu 3: Dòng nào dưới đây nêu đúng nghĩa của từ tự trọng? A. Tin vào bản thân mình B. Coi trọng và giữ gìn phẩm giá của mình C. Đánh giá mình quá cao và coi thường người khác D. Coi trọng mình và xem thường người khác Câu 4: Trong các câu sau, câu nào là câu ghép? A. Mấy con chim chào mào từ hốc cây nào đó bay ra hót râm ran. B. Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh mùa đông. C. Mỗi lần dời nhà đi, bao giờ con khỉ cũng nhảy phóc lên ngồi trên lưng con chó to. D. Mưa rào rào trên sân gạch, mưa đồm độp trên phên nứa. Câu 5: Thành ngữ, tục ngữ nào sau đây ca ngợi đạo lý thủy chung, luôn biết ơn những người có công với nước với dân? A. Muôn người như một B. Chịu thương, chịu khó C. Dám nghĩ dám làm D. Uống nước nhớ nguồn Câu 6: Câu ghép nào biểu thị quan hệ tương phản trong các câu sau đây? A. Nếu trời trở rét thì con phải mặc áo ấm. B. Tuy Hoàng không được khỏe nhưng Hoàng vẫn đi học. C. Do được dạy dỗ nên em bé rất ngoan. D. Chúng em chăm học nên cô giáo rất mực thương yêu. Câu 7: Từ “trong” ở cụm từ “phấp phới trong gió” và từ “trong” ở cụm từ “nắng đẹp trời trong” có quan hệ với nhau như thế nào? A. Đó là một từ nhiều nghĩa B. Đó là hai từ đồng nghĩa C. Đó là hai từ đồng âm D. Đó là hai từ trái nghĩa . 12