Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả - Lớp Năm

doc 21 trang Chăm Nguyễn 14/07/2026 70
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả - Lớp Năm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_hoc_tot.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn chính tả - Lớp Năm

  1. - Một số bài viết chính tả của học sinh khối lớp Năm các năm học trước, đặc biệt là học sinh lớp 5B Trường Tiểu học Lê Hông Phong năm học 2017 - 2018. 4. Giới hạn của đề tài: - Chương trình và nội dung của phân môn chính tả lớp Năm. - Tài liệu hướng dẫn học môn Tiếng Việt lớp 5. - Nghiên cứu các tài liệu về “Phương pháp dạy học môn chính tả ở tiểu học” 5. Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này, tôi đã dùng một số phương pháp sau: a. Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến phân môn Chính tả lớp Năm b. Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thu thập các số liệu trong điều kiện cho phép để đảm bảo cho sự thể hiện tích cực các nội dung nghiên cứu. c. Phương pháp trò chuyện – phỏng vấn: Bản thân trực tiếp trò chuyện, trao đổi với một số giáo viên trong trường, đặc biệt giáo viên khối Năm trường Tiểu học Lê Hồng Phong. d. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích, đánh giá bài làm của học sinh ở phân môn Chính tả lớp Năm, qua từng đợt kiểm tra định kì của năm học 2017-2018. e. Phương pháp phân tích- tổng hợp. g. Phương pháp thống kê. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận của đề tài: Các lĩnh vực ngôn ngữ như: ngôn ngữ học, ngữ pháp học, phong cách học đều có những đóng góp về mặt lý luận để các nhà khoa học giáo dục biên soạn chương trình học Tiếng Việt cho từng cấp học. Ở phân môn chính tả, các lĩnh vực của ngôn ngữ học đều có sự đóng góp để hình thành cơ sở khoa học. Chẳng hạn như ngữ pháp 3
  2. văn bản giúp cho việc xác định rõ nghĩa của từ trong văn bản, xác định rõ các âm tiết của từ đó mà viết đúng chính tả. Riêng lĩnh vực ngữ âm học là cơ sở lý luận gắn bó mật thiết với vấn đề chính tả. Chữ viết của tiếng Việt là chữ viết ghi âm cho nên nguyên tắc chính tả tiếng Việt chủ yếu là nguyên tắc ngữ âm học. Ngoài ra, chính tả tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc nữa như nguyên tắc truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt, Những nguyên tắc này có lúc không đồng nhất với nguyên tắc ngữ âm học, do vậy chính tả tiếng Việt cũng còn có những trường hợp không thống nhất. Cụ thể trong tiếng Việt cách phát âm ở những vùng miền có khác nhau (phương ngữ). Bên cạnh đó lại có trường hợp từ mang hai biến thể phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn. Ví dụ: tròng trành - chòng chành ; lang thang – lan than; sung sướng – xung xướng ; sum sê - xum xuê; tuyên truyền – tiên triền ; giường chiếu – dường chíu; Hoặc có khi một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết. Ví dụ: i: trong lí luận, mĩ thuật, / i / y: trong Lý Thái Tổ, thư ký, Bản thân hệ thống âm vị tiếng Việt còn có một số âm vị không ghi thống nhất, một âm có thể ghi bằng nhiều con chữ. Ví dụ: c: con cuốc / cờ / k: cái kim q: tổ quốc Trước những khó khăn trên, việc xác định trọng điểm chính tả cần cho dạy học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng hệ thống âm chuẩn toàn dân, mặt khác phải tham khảo biến thể phát âm địa phương, đồng thời phải dùng nghĩa để sử dụng dựa vào các văn cảnh. 2. Thực trạng của vấn đề: Dân tộc Việt Nam trải qua bốn nghìn năm văn hiến, đã tích lũy được một kho tàng tập quán văn học và văn hóa rất đa dạng, phong phú. Chữ viết (theo mẫu tự La tinh) của dân tộc ta tuy mới hình thành hơn một trăm năm nay, nhưng đã thành trụ cột 4
  3. then chốt của nền văn hóa nước nhà. Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cả trong lời nói, lẫn chữ viết là việc làm hết sức cần thiết của tất cả mọi người dân Việt Nam. Thế nhưng hiện tượng viết sai chính tả đang là mối quan tâm của nhiều người, của cộng đồng xã hội. Việc viết sai chính tả xuất hiện ngày càng nhiều, không chỉ là học sinh Tiểu học, học sinh Trung học, sinh viên, đôi khi có cả một số giáo viên và những người thành đạt, và trên một số pa- nô, bảng hiệu, quảng cáo nữa,... Hiện nay đa số học sinh thường thích xem truyện tranh như: Đô-rê-mon, Co-nan, Thủy thủ Mặt trăng, Bảy viên ngọc rồng, hơn là đọc sách, tạp chí văn học, Việc không có thói quen, không có niềm đam mê đọc sách dẫn tới vốn từ ngữ nghèo nàn, ít ỏi. Người đọc sách nhiều sẽ có vốn từ càng nhiều thì ít khi viết sai chính tả. Thông thường môn chính tả mới có yêu cầu về viết đúng, viết đẹp. Còn lại một số môn học khác, giáo viên thường bỏ qua việc soát lỗi, thậm chí chỉ yêu cầu học sinh học thuộc, tính toán đúng. Hơn nữa bài vở thì nhiều, thời gian hạn hẹp, áp lực công việc khá lớn và giáo viên chưa quan tâm đúng mức, nên việc sửa lỗi chính tả cũng chưa toàn tâm, toàn ý, chưa có hiệu quả. Mặc khác một bộ phận không nhỏ học sinh còn ham chơi lười học, không chịu suy nghĩ, tư duy trong việc nói và viết một cách chuẩn mực tiếng Việt (vì có bài mẫu, sách mẫu, học thêm ) Từ những vấn đề nêu trên để hạn chế việc học sinh viết sai chính tả, tôi đã đi sâu về bộ môn này, nghiên cứu, suy nghĩ để tìm ra giải pháp giúp các em viết đúng chính tả. “Nét chữ là nết người” viết đúng chính tả thể hiện ý thức của người học sinh trong học tập đối với chữ viết - một thứ chữ gắn liền với nền văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện lòng tự tôn dân tộc đối với tiếng Việt. Đầu năm học, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5B. Sau khi khảo sát chất lượng đầu năm, để nắm bắt tình hình học tập của các em, tôi đã lập bảng thống kê lấy điểm riêng về phân môn Chính tả, trong bài làm môn Tiếng Việt. Tôi đã rút ra được một số điều như sau: 5
  4. Một số em đã nắm bắt được phương pháp học theo mô hình trường học mới VNEN, theo mô hình học trong Tài liệu hướng dẫn học dưới sự hướng dẫn của thầy cô, bài làm của các em ít sai lỗi chính tả, chữ viết đẹp, rõ ràng, trình bày đúng văn bản. Nhưng số em này không nhiều (khoảng từ 35 đến 40%), chủ yếu là những em học giỏi môn Tiếng Việt. Còn hầu hết các em đều sai lỗi chính tả, có em thì viết sai ở âm đầu: s/x; d/gi; ch/tr; Có em thì viết sai ở âm cuối: c/t; n/ng. Có em thì viết sai ở âm chính: iê/i ; yê/i . Có em thì viết tiếng có âm đệm trở thành tiếng không có âm đệm; nhiều em viết sai ở dấu thanh không phân biệt giữa dấu hỏi và dấu ngã; . Qua khảo sát, tôi thống kê được tỉ lệ học sinh lớp 5B chất lượng phân môn chính tả như sau: Tổng số Kỹ năng nghe – Kỹ năng nghe – viết Nghe – viết còn hay viết tốt. Viết đúng tốt. Viết chưa đúng sai lỗi chính tả. Viết tốc độ tốc độ chưa đúng tốc độ SL TL SL TL SL TL 31 6 19,4% 15 48,4% 10 32,2% Dựa vào những kết quả trên, tôi liền tiến hành vạch ra cho mình một kế hoạch để làm thế nào tỉ lệ học sinh viết sai lỗi chính tả ở điểm trung bình và yếu giảm đến mức tối thiểu. Một điều đáng mừng là học sinh tôi dạy 97,8% là học sinh dân tộc Kinh, 3,2% là học sinh dân tộc thiểu số 2/5 học sinh có giọng nói là giọng miền Trung, bản thân tôi cũng là người có giọng miền Trung, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường cũng tạm ổn, trường có tổ chức dạy 2 buổi/ngày. Đó cũng là một yếu tố giúp tôi có thể thực hiện được nghiên cứu này. Song yếu tố quan trọng là làm thế nào để các em có thể nắm bắt được khi nào các em viết sai chính tả.Tỉ lệ viết sai chính cũng tương đối nhiều mà tài liệu về môn 6
  5. Chính tả ở thư viện cũng hạn chế. Việc tiếp thu của các em cũng có phần hạn chế, các em cứ viết theo thói quen, đọc sao viết vậy, sửa rồi lại quên. Qua trao đổi, dự giờ các đồng nghiệp cùng khối; thông qua việc nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt và kết quả khảo sát của học sinh, tôi nhận thấy tình trạng dạy và học chính tả hiện nay hiệu quả đạt chưa được cao, cụ thể là: - Kết quả khảo sát học tập của học sinh, các em còn mắc nhiều lỗi chính tả, tình trạng này có cả nguyên nhân ở nội dung và phương pháp dạy học của phân môn này. - Từ thực tiễn, tôi thấy giáo viên chuẩn bị bài giảng rất chu đáo, tận tâm giảng dạy tỉ mỉ cho học sinh cách viết từng chữ, từng câu nhưng cuối cùng vẫn có không ít học sinh viết sai, ngay cả những từ giáo viên mới vừa phân tích hướng dẫn xong. - Nguyên nhân dẫn đến cái sai là do một số học sinh đọc chậm, đọc ngắc ngứ, cách phát âm không chuẩn. Nói - đọc như thế nào thì viết như thế đó; học sinh phân biệt chưa rõ cách đọc nhất là “ tr ” và “ ch ”, “ s ” và “ x ”, “ gi - d ”, thường hay lẫn lộn về sai thanh điệu do sự phát âm không phân biệt giữa thanh hỏi và thanh ngã, . - Một số học sinh ráp âm, ráp vần để tạo thành tiếng chưa thành thạo, nhất là đối với một số tiếng khó viết, ít gặp. Ví dụ: lấp loáng, suy thoái, gọn ghẽ, khoét, ngọ nguậy, ngoằn ngoèo, . - Phần lớn bị ảnh hưởng bởi môi trường sống nên các em chưa thật chú tâm đến học tập, tiếp thu kiến thức chậm, khó nhớ mau quên. Những kỹ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết còn nhiều hạn chế. Trong quá trình giảng dạy và theo dõi chất lượng bộ môn, tôi thấy học sinh thường mắc phải hai loại chính tả như sau: 1. Sai về nguyên tắc chính tả hiện hành: Là loại lỗi do người viết không nắm được các đặc điểm và nguyên tắc kết hợp các chữ cái, quy tắc viết hoa trong tiếng Việt 1.1. Đặc điểm chính tả Tiếng Việt: - Tiếng Việt là ngôn ngữ phân tiết tính: các âm tiết được tách bạch rõ ràng 7
  6. trong khi nói. Vì thế khi viết, các chữ biểu thị âm tiết được viết rời, cách biệt nhau. Ví dụ: Bầm ơi sớm sớm chiều chiều (6 âm tiết) Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe ( 8 âm tiết) - Mỗi âm tiết tiếng Việt đều mang một thanh điệu nhất định. Khi viết chữ phải đánh dấu ghi thanh điệu lên âm chính (hoặc bộ phận chính, đối với âm chính là nguyên âm đôi) của âm tiết. + Cấu tạo âm tiết của tiếng Việt rất chặt chẽ và ổn định. Ở dạng đầy đủ, âm tiết tiếng Việt có cấu tạo như sau: THANH ĐIỆU VẦN Phụ âm đầu Âm đệm Âm chính Âm cuối Trong đó, âm chính và thanh điệu là hai bộ phận không thể thiếu được trong cấu tạo của bất kỳ âm tiết nào. + Cách xác định ký hiệu ghi âm chính trong chữ: Muốn xác định ký hiệu ghi âm chính trong chữ, ta đặt chữ vào mô hình cấu tạo vần. Ví dụ: Vần Tiếng Phụ âm đầu Âm Âm Thanh điệu Âm cuối đệm chính Em e m ngang yêu yê u ngang màu m a u huyền đen đ e n ngang Hòn H o n huyền than th a n ngang óng o ng sắc ánh a nh sắc 8
  7. + Khi viết một tiếng, dấu thanh luôn được đặt ở âm chính: dấu nặng đặt bên dưới âm chính, các dấu khác được đặt ở phía trên âm chính. Ví dụ: hình, phận, rộng, đúng, tìm, tạo, + Khi viết các tiếng có nguyên âm đôi mà không có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở chữ cái đầu ghi nguyên âm. Ví dụ: mía, nghĩa, giữa, của, múa, lửa, + Những tiếng có nguyên âm đôi mà có âm cuối thì dấu thanh được đặt ở chữ cái thứ hai ghi nguyên âm đôi. Ví dụ: biển, người, quốc, nước, luận, hoàng, 1.2 Quy tắc viết hoa hiện hành: - Tình trạng viết hoa trong chính tả hiện hành: + Đánh dấu sự bắt đầu một câu. + Ghi tên riêng của người, địa danh, tên cơ quan, tổ chức ... + Biểu thị sự tôn kính: Bác Hồ, Người ... Hai chức năng a và c nhìn chung được thực hiện một cách nhất quán trong chính tả tiếng Việt. Duy có chức năng b là còn nhiều điểm chưa thống nhất trong sử dụng. Ví dụ: Cùng một tên tổ chức, cơ quan cũng tồn tại những cách viết khác nhau: Trường tiểu học Lê Hồng Phong. Trường Tiểu học Lê Hồng Phong. - Quy định về cách viết hoa tên riêng: (của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & đào tạo ban hành). đang áp dụng trong nhà trường. + Đối với tên người và tên địa lý: viết hoa chữ cái đầu tất cả các tiếng tạo nên tên đó, không dùng gạch nối. Ví dụ: Võ Thị Sáu, Hà Nội, Bình Trị Thiên, Bình Dương + Đối với tên người và tên địa lý nước ngoài: viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên riêng đó. Các tiếng trong một bộ phận của tên riêng được ngăn 9
  8. cách bằng dấu gạch nối. Ví dụ: Tên người: Ê-đi-xơn, Giu-li-ét-ta, Ét-man Hin-la-ro, Tên địa lí: I-ta-li-a, Hi-ma-lay-a, Niu-di-lân, Ê-vơ-rét, + Đối với tên tổ chức, cơ quan, đơn vị được viết hoa chữ cái đầu của mỗi bộ phận tạo thành tên đó. Ví dụ: Trường Tiểu học Lê Hồng Phong. Nhà xuất bản Giáo dục. 2. Sai cách phát âm chuẩn: 2.1. Lỗi viết sai thanh điệu: Tiếng Việt có 6 thanh ( ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng ) thì nhiều học sinh không phân biệt được 2 thanh hỏi, ngã. Số lượng tiếng mang 2 thanh này rất nhiều và rất khó nhớ - kể cả những người có trình độ văn hoá cao. Ví dụ: Sữa xe đạp, hướng dẩn, giử gìn, dổ dành, lẩn lộn, 2.2 Lỗi viết sai phụ âm đầu: Học sinh viết lẫn lộn một số chữ cái ghi các âm đầu sau đây: + c/k: Céo co + g/gh: Con ghà , gê gớm + ng/ngh: Ngỉ ngơi, nge nhạc, nghành nghề + ch/tr: Cây che, chiến chanh + s/x: Cây xả , xa mạc 2.3 Lỗi viết sai âm cuối, vần: Học sinh thường viết lẫn lộn chữ ghi âm cuối trong các vần sau đây: + at/ac; ăt/ât/âc: mác mẻ, lường gạc, gặc lúa, nổi bậc, lấc phấc + an/ang; ân/âng: cây bàn, bàng bạc, khoai lan, hụt hẫn, tần lầu... + ên/ênh: bấp bên, nhẹ tên, ghập ghền, khấp khển Nguyên nhân chủ yếu viết sai: * Lỗi khi viết về thanh điệu: Thực tế qua ngôn ngữ nói, trong phương ngữ từ khu vực miền Trung và miền Nam không có thanh ngã. Trong khi số lượng từ mang hai thanh này khá 10
  9. lớn. Do đó đây là lỗi rất phổ biến trong học sinh. * Lỗi khi viết phụ âm đầu: Trong phương ngữ Bắc và Nam có sự lẫn lộn giữa các chữ ghi âm đầu ch/tr, d/gi, s/x. Ngoài ra, trong quy ước về chữ quốc ngữ, một âm ghi bằng 2 hoặc 3 dạng (ví dụ: âm “cờ ” ghi bằng 3 chữ cái c / k /qu, âm “ngờ” ghi bằng ng/ngh, âm “gờ” ghi bằng g/gh ) dù có những quy định riêng cho mỗi dạng khi ghép chữ, nhưng đối với học sinh tiểu học thì rất dễ lẫn lộn do không nhớ các quy định. * Lỗi khi viết âm cuối, vần: Đối với người Miền Nam, có thể nói việc phát âm hoàn toàn không phân biệt các vần có âm cuối n/ng và t/c. Mà số từ mang các vần này không nhỏ. Mặt khác hai bán âm cuối i,u/ lại được ghi bằng 4 con chữ i/y (trong: lai/lây), u/o (trong: sau/sao), do đó lỗi về âm cuối là lỗi khó khắc phục đối với học sinh các tỉnh phía Nam. Tóm lại: Qua tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến việc viết sai lỗi chính tả của học sinh, vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm, việc tìm ra các giải pháp phù hợp là hết sức cấp bách đối với những ai làm công tác giáo dục, 3. Nội dung và hình thức của giải pháp: a. Mục tiêu của giải pháp: Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy chính tả, tôi nhận thấy rằng nếu chỉ dùng tài liệu hướng dẫn học, thì chưa đáp ứng đầy đủ với các yêu cầu dạy cho học sinh học yếu chính tả ở tiểu học. Vì vậy, để khắc phục lỗi chính tả mà học sinh mắc phải, tôi đã nghiên cứu và vận dụng một vài biện pháp để giúp các em nắm được các quy tắc chính tả, các mẹo luật chính tả phù hợp với trình độ tiếp thu của các em, hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tả, bỏ thói quen phát âm sai dẫn đến việc viết sai. b. Nội dung và cách thực hiện giải pháp: Sau đây là một vài biện pháp mà tôi đã áp dụng trong những năm trực tiếp giảng dạy như sau: 11
  10. * Biện pháp 1: Củng cố quy tắc chính tả cho học sinh: - Là giúp cho học sinh nắm vững các quy tắc chính tả. - Để khắc phục được tình trạng học sinh hay mắc lỗi chính tả thì giáo viên cần tập trung vào các loại bài chính tả phân biệt. Qua loại bài chính tả phân biệt này học sinh được ôn luyện nhiều lần, nắm chắc được các quy tắc chính tả, mẹo chính tả. Cũng qua bài chính tả so sánh này, học sinh nắm vững nghĩa của từng cách viết, từ đó hạn chế được các lỗi sai. Ví dụ: Khi dạy bài chính tả phân biệt dấu hỏi, dấu ngã. - Chúng ta cung cấp cho học sinh quy luật bổng trầm, hệ bổng gồm các thanh: ngang, hỏi, sắc; hệ trầm gồm các thanh: huyền, nặng, ngã. Do vậy khi gặp một tiếng mà ta không biết là thanh hỏi hay thanh ngã, ta tạo ra một từ láy. Nếu tiếng đó láy với tiếng bổng ta có thanh hỏi, nếu tiếng đó láy với tiếng trầm ta có thanh ngã. Ví dụ: Mở (trong mở mang) -Thanh hỏi; Nghỉ (nghỉ ngơi) - Thanh hỏi Mỡ (trong mỡ màng) -Thanh ngã; Nghĩ (nghĩ ngợi) - Thanh ngã Ngoài ra ta cho học sinh hiểu nếu tạo ra một từ ngữ có ý nghĩa sẽ nắm được nghĩa và hình thức chữ viết của từ. Ví dụ: Deo dai, em thử điền dấu hỏi sẽ thành Dẻo dai. Dẻo dai là từ có nghĩa chỉ sự bền bỉ không giảm của sức lực, vậy ta điền dấu hỏi. Nếu điền dấu ngã sẽ thành Dẽo dai, dẽo dai không có nghĩa vậy không thể điền dấu ngã. - Đối với những từ Hán -Việt phát âm không phân biệt dấu hỏi, dấu ngã. Gặp những từ bắt đầu bằng một trong các phụ âm: m, n, nh, v, l, d, ng và ngh hãy nhớ câu: “ Mình Nên Nhớ Viết Là Dấu Ngã ” thì đánh dấu ngã. Ví dụ: Vĩ nhân, cần mẫn, nhã nhặn, lãnh đạm, vãng lai, phụ lão, dã man, ngôn ngữ, tín ngưỡng ... Trừ "ngải" trong "ngải cứu". Còn những từ bắt đầu bằng các phụ âm khác, hoặc không có phụ âm đầu thì đánh dấu hỏi. Ví dụ: đảo điên, tưởng tượng, kiểu cách , . Nhưng vẫn có một số trường hợp ngoại lệ vẫn viết bằng dấu ngã 12
  11. Ví dụ: kỹ (kỹ thuật, kỹ xão), bãi (bãi bỏ, bãi khóa), hữu (bằng hữu, hữu nghị), phẫu (phẫu thuật, giải phẫu ), tiễn (tiễn đưa, tiễn biệt), Khi dạy bài chính tả phân biệt k/q/c. Học sinh tự tìm ra những từ có âm đầu là k/q/c, từ các ví dụ cụ thể mà học sinh nắm lại quy tắc chính tả. * Chữ cái c: Luôn đứng trước các vần bắt đầu các nguyên âm : a, ă, à, o, ô, u, ư ... Ví dụ: Cần cù, còn, cặm cụi, cũng ... * Chữ cái k: Luôn đứng trước các vần bắt đầu bằng các nguyên âm : e, ê, i ... Ví dụ: Kính, kể, kèo ... * Chữ cái q: Luôn kết hợp với u thành qu (đọc là quờ). Qu luôn đứng trước hầu hết các nguyên âm (trừ các nguyên âm o, u, ư ). Ví dụ: Quan trọng, quanh quẩn. Ngoài ra cần cung cấp cho học sinh một số mẹo luật chính tả. Ví dụ: Khi nào viết là da , khi nào viết là gia? + Da: Chỉ lớp bao bên ngoài các loại động vật + Gia: Chỉ mối quan hệ dòng họ. * Biện pháp 2: Yêu cầu học sinh tự phát hiện ra lỗi chính tả và tự sửa lỗi chính tả: - Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự phát hiện ra những lỗi viết sai và tự bản thân các em sửa lỗi qua các hình thức khác nhau. - Giáo viên đọc lại bài văn hay khổ thơ mà trong đoạn bài yêu cầu học sinh viết cho học sinh soát lỗi. - Giáo viên chỉ ra cho học sinh thấy được các lỗi sai, từ đó học sinh có ý thức được các lỗi mà mình mắc phải, bằng cách viết lại các lỗi sai đó vào một quyển vở sửa lỗi, các lần sau mà gặp phải các lỗi này học sinh sẽ thận trọng hơn trong khi viết. Qua đó hình thành cho học sinh bản năng tự kiểm tra soát lỗi và có ý thức tự sửa. - Giáo viên cho học sinh phát hiện ra lỗi chính tả qua các dạng bài tập khác nhau. Ví dụ: Chép một đoạn bài có viết sai chính tả, yêu cầu học sinh viết lại cho 13