Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xử lý các tình huống sư phạm trong hoạt động giao tiếp ở trẻ Mẫu giáo bé (3 -4 tuổi)

doc 25 trang Chăm Nguyễn 30/04/2026 160
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xử lý các tình huống sư phạm trong hoạt động giao tiếp ở trẻ Mẫu giáo bé (3 -4 tuổi)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_xu_ly_cac_tinh_huong.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xử lý các tình huống sư phạm trong hoạt động giao tiếp ở trẻ Mẫu giáo bé (3 -4 tuổi)

  1. A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Ngay từ khi bé chào đời, thì giao tiếp đã là một kỹ năng quan trọng giúp bé tồn tại và phát triển, bé giao tiếp qua ánh mắt, qua các cử động của tay chân và đặc biệt là qua tiếng khóc Một người mẹ có sự quan tâm và gần gũi con chắc chắn sẽ hiểu khi nào bé khóc vì đói, khi nào bé khóc vì đau, vì sợ và cả khi nhõng nhẽo nữa !Khi biết nói ở lứa tuổi lên 3, thì bé bắt đầu sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, đồng thời với khả năng bộc lộ cảm xúc thông qua giao tiếp phi ngôn ngữ qua ánh mắt với những nét mặt và các dấu hiệu của cơ thể, nếu được đáp ứng đầy đủ sẽ giúp cho bé hình thành sự tự tin vào bản thân cũng như xây dựng những mối tương giao với mọi người xung quanh.Vì thế kỹ năng giao tiếp được xem là một năng lực cần thiết cho trẻ mở rộng quan hệ từ trong gia đình cho đến ngoài nhà trường và xã hội. Khi bước vào tuổi thứ 3 trẻ có thể tự ăn, tự rửa mặt và làm một số việc khác. Trẻ xuất hiện hành động không phụ thuộc vào người lớn trẻ từ chối sự chấp nhận của người lớn, khắc phục những khó khăn ngay cả những việc trẻ chưa làm được. Điều này thể hiện ở trong lời nói “Con tự làm”. Sự xuất hiện khuynh hướng tự lực đồng thời xuất hiện hình thức mới của nguyện vọng khômg trùng với ý muốn của người lớn.Điều này thể hiện trong lời nói khẳng định “Con muốn” khăng khăng. Sự mâu thuẫn giữa “ cái tôi muốn”và “ cái cần làm” đặt ra trước trẻ cần thiết phải lựa chọn. Từ đó những xúc cảm trái ngược nhau xuất hiện nảy sinh mối quan hệ tự tôn với người lớn và xác định mâu thuẫn trong hành vi của trẻ dẫn đến cuộc khủng hoảng của tuổi lên ba.L.I.BOZOVICH nhận định sự nảy sinh “Hệ thống cái tôi” sinh ra nhu cầu tự hành động là sự hình thành trung tâm mới của trẻ lên ba. Sự tự ý thức của trẻ được phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Sự hình thành “Hệ thống cái tôi” tạo điều kiện nảy sinh tự đánh giá và hướng tới những nhu cầu của người lớn tồn tại sự khủng hoảng chứng minh khả năng hình thành các mối quan hệ mới của trẻ và các hình thức giao tiếp khác.Ở độ tuổi này giao tiếp của bạn bè ảnh hưởng tới trẻ, giao tiếp với người lớn tạo tiền đề cho trẻ giao tiếp với bạn cùng tuổi được thể hiện trong các mối quan hệ giữa trẻ với nhau. Giao tiếp của đứa trẻ với người lớn và bạn cùng tuổi sự biến dạng của chính một dạng giao tiếp nào đó. Mục đích chính của dạng giao tiếp này là cùng tham gia những trò tinh nghịch cùng nhau. Quá trình hành động với đồ chơi làm cho trẻ vui sướng trẻ hào hứng hoàn thành chung. Trong giai đoạn này người lớn cần điều chỉnh giao tiếp một cách hợp lý. Giao tiếp xúc cảm trực tiếp với bạn cùng tuổi tạo điều kiện phát triển các phẩm chất nhân cách như chủ động tự do cho 1/20
  2. phép trẻ nhìn thấy khả năng của mình, giúp cho sự hình thành tính tự ý thức và phát triển tình cảm sau này.Ở trẻ 3 tuổi có hình thức giao tiếp mới với người lớn mà M.I.LIXINNA gọi là “Giao tiếp hợp tác trí tuệ”. Bởi dạng giao tiếp này có đặc điểm hợp tác trong hoạt động nhân cách.Sự phát triển ham hiểu biết buộc trẻ đặt ra cho mình những câu hỏi ngày càng phức tạp hơn. Trẻ giao tiếp với người lớn để trẻ được trả lời hay được đánh giá những suy nghĩ của mình.Ở mức độ giao tiếp ngoài tình huống trẻ nhu cầu tôn trọng người lớn, xuất hiện những tình cảm cao cấp trong mối quan hệ với trẻ. Trẻ sợ hãi, thiếu tự tin khi bị người khác chê cười. Vì vậy nhất thiết người lớn phải quan tâm nghiêm túc đến những câu hỏi của trẻ, xử lý các tình huống gioa tiếp dựa trên đặc điểm tình cảm và nhận thức của trẻ để duy trì tính ham hiểu biết cho trẻ. Ở trường mầm non, giao tiếp giữa cô và trẻ quyết định thành công hay thất bại ở các hoạt động giáo dục.Nhưng hầu hết mọi người kể cả giáo viên mầm non những người được đào tạo và có trình độ chuyên môn vẫn đang áp dụng cách dạy trẻ theo phương pháp cổ truyền.Người lớn giải quyết vấn đề với trẻ dựa vào tình cảm và nhận thức của người lớn chứ không đứng trên tình cảm và nhận thức của trẻ. Vì vậy trẻ tiếp thu một cách thụ động và có phần nào bị áp đặt dẫn đến kết quả giáo dục chưa đạt hiệu quả cao. Số trẻ biết giao tiếp: như bộc lộ cảm xúc của bản thân;biết lắng nghe người khác nói, chia sẻ cảm xúc với bạn bè;tích cực hợp tác với cô và bạn, trẻ hiểu các quy tắc trong xã hội vẫn còn hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, tôi mạnh dạn đưa ra đề tài sáng kiến kinh nghiệm" Một số biện pháp xử lý các tình huống sư phạm trong hoạt động giao tiếp ở trẻ mẫu giáo bé (3 -4 tuổi)".Đây là những kinh nghiệm nhỏ từ thực tế, từ sách báo, từ tư liệu trên internet mà tôi đã cóp nhặt. Sau khi áp dụng tại lớp, tôi thấy thực sự hiệu quả. Mong rằng đề tài này của tôi được các bạn biết đến và áp dụng linh hoạt trong việc giao tiếp ứng xử với trẻ để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất. 2/20
  3. B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I.Cơ sở lý luận Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữa mọi người trong xã hội. Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nói nhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết. Giao tiếp cũng có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác như: cử chỉ, điệu bộ, hành động, nét mặt, các phương tiện kĩ thuật (tất cả được gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ). Tuy nhiên phương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm, thái độ, quan hệ... để tổ chức xã hội hoạt động.Hoạt động giao tiếp có hai quá trình.Quá trình tạo lập (hay sản sinh) lời nói, văn bản. Quá trình này do người nói hoặc người viết thực hiện.Quá trình tiếp nhận (lĩnh hội) lời nói, văn bản do người nghe hoặc người đọc thực hiện.Hai quá trình của hoạt động giao tiếp luôn diễn ra trong quan hệ tương tác với nhau. Trong khi giao tiếp, người nói có thể vừa là người tạo lập nhưng cũng lại vừa là người tiếp nhận lời nói bởi các vai giao tiếp luôn luôn thay đổi. Chính vì vậy khi xem xét các quá trình giao tiếp, chúng ta phải đặc biệt chú ý tới các tình huống giao tiếp cụ thể khác nhau. II. Cơ sở thực tiễn 1. Thực trạng giao tiếp của trẻ trong lớp - Qua điều tra thực tế về vốn giao tiếp của trẻ tôi nhận thấy kết quả khảo sát: Qua các tiêu trí sau: Biết bộc lộ cảm xúc của bản thân, Biết lắng nghe người khác nói, Chia sẻ cảm xúc với bạn bè, Tích cực hợp tác với cô và bạn(kết quả của ứng xử công bằng), Trẻ hiểu các quy tắc trong xã hội và biết sửa đổi dần tật xấu của mình thông qua cách ứng xử này (Bảng khảo sát đầu năm:) Từ những số liệu trên cho thấy kỹ năng giao tiếp ứng xử của trẻ là rất thấp. Vì vậy tôi đã mạnh dạn tìm cách trang bị thêm các kiến thức về giao tiếp ứng xử với trẻ qua đề tài"Một số biện pháp xử lý tình huống sư phạm trong hoạt động giao tiếp ở trẻ mẫu giáo bé( 3-4 tuổi)" nhằm giải quyết các tình huống, đồng thời nâng cao kỹ năng giao tiếp ứng xử cho cô và trẻ. 2. Thuận lợi - Bản thân tôi là một giáo viên nhiệt tình với trẻ tâm huyết với nghề nghiệp - Sĩ số lớp ổn định, trẻ phát triển đều, không có trẻ bị khuyết tật hay tự kỷ - Giáo viên ở lớp phối kết hợp và thống nhất phương pháp, biện pháp dạy trẻ. - Trường mầm non khu tôi có khuôn viên rộng rãi thoáng mát. - Nhà trường có truyền thống và nhiều thành tích trong chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ. 3/20
  4. - Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao chuyên môn và mua sắm cũng như bổ sung cơ sở vật chất, đồ dùng, đồ chơi để đảm bảo thực hiện tốt chất lượng giảng dạy. - Có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy lớp mẫu giáo bé được tiếp xúc, nắm được tâm sinh lý của trẻ và những xu hướng phát triển của trẻ. 3. Khó khăn - Một số trẻ giao tiếp với cô và bạn còn hạn chế và đến lớp nên chưa có nề nếp. - Giáo viên giao tiếp với trẻ còn ảnh hưởng lối cũ dựa trên suy nghĩ và nhận thức của mình chưa dựa vào tình cảm và đặc điểm nhận thức của trẻ. - Đây là nội dung giáo dục còn khá mới mẻ trong chương trình giáo dục cho trẻ mầm non. Vì vậy còn ít tài liệu để tham khảo tìm hiểu. - Việc tổ chức các hoạt động tập thể, trò chơi nhằm hình thành rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho trẻ còn khó khăn. - Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tử - Nhiều phụ huynh chưa hiểu và quan tâm đến hoạt động giao tiếp của trẻ. III. Một số biện pháp xử lý tình huống trong hoạt động giao tiếp ở trẻ Biện pháp 1. Giúp trẻ đối diện với cảm xúc của mình 1.1Chuyên tâm lắng nghe. Thạch Gia Bảo, một bạn trai của lớp tôi, mẫu giáo bé 3- 4 tuổi. Tôi nhớ hồi mới đến lớp cháu là một đứa trẻ rất hồn nhiên, hay đùa cười cùng cô và các bạn. Nhưng dạo này con trầm tính ít nói hơn hẳn.Trong giờ học cháu không tập chung, có khi cô hỏi con ngạc nhiên không biết cô vừa hỏi gì. Một hôm vào tiết tạo hình với đề tài "Tô màu bức tranh gia đình bé".Nếu như bình thường Gia Bảo sẽ tô rất nhanh và thưa cô con xong rồi ạ! Cô cho con mang tranh lên treo nhé! Tôi để ý hôm đó khác hẳn Bảo tô rất lâu và mãi vẫn chưa hoàn thiện xong bức tranh. Cả lớp mang bài lên treo để cô nhận xét.Chỉ còn Bảo vẫn ngồi ở bàn. - Tôi lại gần hỏi con "Sao hôm nay con tô lâu vậy con".Nghe tôi hỏi "Bảo” òa lên khóc cô ơi con không biết tô thế nào ạ!" - Con không biết tô thì cô sẽ hướng dẫn sao phải khóc! - Cô cháu mình sẽ tô tóc cho Bố trước, sau đó tô quần áo, rồi đến mặt của Bố. Khi tô đến mặt của Bố lại dừng không tô và khóc. - Sao con lại khóc? Cô ơi! Cô ơi! Sao con? Hôm qua con không được về với bố! - Thế à ! - Bố ở nhà ông nội. Con ngủ với mẹ ở nhà bà Ngoại, Con nhớ bố! 4/20
  5. Ôi! cảm xúc của một đứa trẻ lên 3. Tôi trợn tròn mắt ngạc nhiên và không nói gì thêm,chỉ lắng nghe.Thấy vậy, cô giáo bên cạnh cũng quay sang định hỏi xem có chuyện gì xảy ra với cháu nhưng tôi kịp thời ra hiệu cho cô giáo đó giữ yên lặng, chúng tôi cùng lắng nghe. - Mẹ bảo không về nhà ông nội!, chỉ ở nhà bà ngoại không về vpwis bố nhưng con nhớ bố, ...(Tiếp tục kể với cao trào nhanh hơn, có cảm xúc khích động hơn)... rồi thế này, thế kia. Sự việc xảy ra như thế nào,bố mẹ nói gì, thái độ của mọi người hôm ấy ra sao. Bảo nói hết, rõ ràng, không để xót chi tiết nhỏ nào. Nếu thiếu, con lại bổ xung ngay sau khi kể. Sau mỗi tình huống của con, chúng tôi chỉ gật đầu và tỏ vẻ ngạc nhiên, dớm nước mắt rồi lại lắng nghe. Ngoài ra không nói gì thêm! Sau khi con kể xong và nguôi bớt giận, chúng tôi mới hỏi cháu: - Con muốn ở với bố hay ở với mẹ hay cả hai? - .... Con muốn ngủ cùng cả bố và mẹ! Thông thường, các cô nhà ta sẽ lại can thiệp vào trẻ bằng cách giáo dục trẻ phải yêu bố thế này, yêu mẹ thế kia, cả nhà đoàn tụ thì mới vui vẻ,hạnh phúc... Nhưng trong trường hợp này, chúng tôi chỉ lắng nghe trẻ nói, và dừng câu hỏi tại đấy, gần như trẻ độc thoại. Nhưng sau khi kể cho chúng tôi xong, nó vui mừng lắm, tự chạy chơi với các bạn khác. Cháu không cần và chắc không muốn nghe thêm những lời thuyết giáo nào hết. Trẻ nói ra là để tâm sự. Vậy lúc này, nó chỉ muốn có người lắng nghe. Thế là quá đủ! Sau đó chúng tôi đã gặp phụ huynh và trao đổi tình hình ấy với họ. Vậy cần phải xác định đâu là đối tượng cần can thiệp. Mục đích của cô bé chỉ muốn thế, chúng ta chỉ nên giúp con thỏa mãn nhu cầu của nó là nó vui lắm rồi! Hay như việc giải quyết tình huống trẻ hay mách: - Cô ơi bạn Dũng cứ " đánh " con! Hay: Cô ơi bạn ý cứ nhìn con! Hoặc: Cô ơi bạn ý không chơi với con!... Trong trường hợp này chỉ cần nhìn trẻ và lắng nghe trẻ nói. - (Trẻ vui mừng chạy về chỗ ngay, khoe bạn): Tớ mách cô rồi nhé! Vậy là trẻ mách chỉ để " mách cô rồi nhé", mà không cần cô phải xuống tận nơi hay gọi trẻ kia ra và làm thầy kiện. Nếu cô làm thế thật, trẻ vừa mách xong sẽ sợ lắm. Cháu đó sẽ tìm cách lảng tránh ra chỗ khác ngay. Và trong nó lại có cảm giác hối hận vì đã mách cô, thương bạn vì đã bị cô mắng. Và vô tình cô giáo đã trở thành người thiên vị với bạn kia. Trường hợp tiếp theo xảy ra: Nếu cô lắng nghe một trẻ"mách" và như vậy làm cho các trẻ khác a dua nhau lên" mách " thì cô giáo cần có thái độ dứt khoát 5/20
  6. với trẻ, nhưng không được cáu giận. Vì ta đã thống nhất với nhau cần phải chấp nhận những gì thuộc về trẻ, lắng nghe trẻ để xử lý tình huống. - Ừ! ( Kết hợp nhìn trẻ và gật đầu tỏ vẻ đồng ý) - Cô ơi bạn Phong lại chuyện nữa rồi! - Vậy à! ( Nghe thêm 1,2 trường hợp nữa và nói với cả lớp): Cô vừa lắng nghe rất nhiều ý kiến của các bạn. Còn bây giờ cô rất bận. Hy vọng rằng các con có thể tự chia sẻ với nhau những cảm xúc đó! ( Cô cần chắt lọc thông tin trẻ mách, để có biện pháp xử lý với những thông tin cần thiết) Giáo viên chỉ nên nói ra nhu cầu và mong muốn của mình, không đánh giá, xúc phạm trẻ. 1.2 Nói ra cảm xúc của trẻ Người lớn nói ra cảm xúc của trẻ đúng lúc làm cho trẻ thấy mình được đồng cảm và thỏa mãn tâm lý. Chúng ta cùng xem hai cách xử lý của một tình huống sau: Cách 1: Xử lý theo phương pháp thông thường, dựa trên tình cảm và nhận thức của người lớn: Buổi sáng hôm thứ năm tại khoảng sân trước cửa lớp tôi có một phụ huynh lớp đưa con đến lớp và mua cho con mang theo một quả bóng bay rất đẹp. Đột nhiên, đứa trẻ bị tuột tay và quả bóng bay lên trời mất. Đứa trẻ đứng tiếc ngẩn ngơ và mách mẹ: - Mẹ ơi quả bóng bay lên trời mất rồi! - Giời ạ! Cầm thế nào thế! Thôi mất rồi thì thôi, mai mẹ mua cho quả khác. - Không, con thích quả này cơ,mẹ lấy bóng cho con, hu hu... - Bay rồi làm sao mà lấy được! Đã bảo mai mẹ mua cho rồi mà không nghe, đánh cho một trận bây giờ đấy! - Không, con thích quả bóng đấy cơ, hu hu...( khóc to hơn) Bà mẹ bất lực, bảo mãi đứa con không nghe, nó cũng không chịu vào lớp. Đấy là cách xử lý tình huống thường thấy trong cuộc sống hàng ngày. Chúng ta thì cứ giải thích lôgic còn trẻ chẳng muốn nghe gì hết,dù mẹ nói gì, dù sự thực là gì,câu chốt của vấn đề vẫn là " Con muốn có quả bóng ấy"! Cách 2: Xử lý tình huống dựa trên tình cảm và nhận thức của trẻ: Nói ra cảm xúc của trẻ. Cũng tình huống gần như vậy, trường tôi có tổ chức "Ngày hội đến trường cho bé" - Tuệ Tâm là cháu của tôi học ở lớp bên cạnh. Cháu được cô giáo cho cầm chùm bóng để lên biểu diễn. Không may quả bóng cũng bay lên trời(bắt đầu khóc la 6/20
  7. kêu khủng khiếp...) Cô Oanh cũng dỗ tương tự như bà mẹ trên. Nhưng vẫn không hiệu quả. May quá lúc đó tôi đi qua - Chắc con buồn lắm hả? - Vâng, con buồn lắm ý cô ạ! ( Con vừa khóc vừa nói còn tôi và cô Quỳnh nhìn nhau cười ngạc nhiên) - Ừ.... - ( Mếu máo đòi bóng tiếp...) - Cô ước gì có thể lấy cho con quả bóng đó! - Cô bay lên để lấy à cô?( nín khóc và ngạc nhiên hỏi, tôi ra hiệu cho cô Oanh không được.. Vì bây giờ mà cười thì hỏng việc ngay,nó nghĩ là nó bị chế nhạo) - Ừ... - Mọc cánh ở đâu hả cô? - Đâu nhỉ? - Ở lưng chứ còn ở đâu nữa! ( Và rồi con sờ lưng tôi tìm cánh, tôi kêu nhột, thế là hai cô cháu cùng cười". ) Đấy,các bạn hãy thử cách này xem sao! Nhưng khi khác trẻ nhớ ra và đòi thì sao? - Bạn vẫn còn nhiều cách thức để áp dụng ở phía dưới 1.3.Dùng cách tưởng tượng để thực hiện nguyện vọng của trẻ. Vào một hôm thứ hai đầu tuần trong giờ ăn, như thường lệ tôi phụ trách một bàn vì bàn này nhiều bạn ăn chậm hơn. Cả bàn cầm thìa xúc cơm ăn gần hết bát cơm một rồi! Thế nhưng bạn "Minh Khang " vẫn chưa chịu cầm thìa. Tôi đứng sát lại và hỏi "Minh Khang sao hôm nay vẫn chưa được miếng nào vậy? Trẻ nói "Cô ơi con muốn ăn thìa bát như hôm qua ở nhà con cơ".Tôi đã dùng cách tưởng tượng để thực hiện nguyện vọng của trẻ cho việc xử lý tình huống này như sau: - Con sãn sàng ăn chưa? Có cần cô giúp gì không? - Con không xúc bằng thìa này đâu. Con phải xúc thìa kia cơ! - Vậy à, chắc thìa của con đẹp lắm nhỉ! - Vâng, thìa màu xanh có hình con thỏ đẹp lắm! - ( Tôi hiểu trẻ đang nói gì vì tôi biết cái đó). Nhưng bây giờ thì không thể có được, cô ước gì biến được ra cho con thìa màu xanh...để con xúc cơm ăn. - Không, cả bát nữa! - Ừ thì cả bát xanh con thỏ nữa này, - Trẻ vui mừng vô cùng thích thế, mình có cả thìa và bát con thỏ màu xanh rồi! 7/20
  8. Các bạn có nhận thấy câu ước này với câu ước lấy bóng ở ví dụ trên là giống nhau không? Vâng, nó giống nhau vì tôi sử dụng cùng một phương pháp " Dùng cách tưởng tượng để thực hiện nguyện vọng của trẻ". Cảm xúc không có khái niệm" mẫu" hay " chuẩn". Thế nên các bạn cũng có nhiều cách thức khác để có thể chọn áp dụng cho thỏa đáng. Chẳng hạn: - Con không xúc bằng thìa này đâu. Con phải xúc thì của con cơ! - Thật lắm chuyện! Thìa nào mà chẳng vẽ được! Con muốn dùng thì con thỏ màu xanh tối về nhà con nhé! Ở đây cô chỉ có thìa này cho con thôi! Ăn đi! Kẻo các bạn ăn hết rồi kìa!( Sợ, ấm ức, vừa ăn vừa khóc)! Vậy kết quả của hai cách giải quyết trong vấn đề này là khác nhau rõ nét. Hy vọng người lớn và cô giáo mầm non đồng tình và chọn cách 1 như tôi để được " vẹn cả đôi đường". 1.4. Mọi cảm nhận đều được đón nhận, nhưng một vài hành vi cần được hạn chế Chắc khi đọc đến đây, các bạn đã phần nào nhận ra được phương châm để ứng xử, xử lý các tình huống trên trẻ theo quan điểm mới nhất mà tôi vừa được tiếp cận. Đó chính là việc dựa vào cảm xúc của trẻ, lắng nghe nói và giải quyết tình huống dựa trên sự chia sẻ cảm xúc. Tuy nhiên, nếu không phân biệt được khi nào cần chia sẻ, khi nào cần nghiêm khắc thì sẽ lại vô tình làm hỏng trẻ. Thế nên, mọi cảm xúc của trẻ đều được đón nhận nhưng một vài hành vi cần được hạn chế. Hình ảnh 1: Dựa vào cảm xúc của trẻ. Trong một buổi chiều, sau đánh thức trẻ dạy để tôi nói với cả lớp"Các con ơi! sáng nay bạn Nam đến lớp không đi tất và mặc rất ít áo.Vậy nên,trong giờ ngủ hôm nay cô thấy bạn Nam ho nhiều lắm. Cả buổi trưa hôm nay bạn không ngủ được chút nào cả vì ho.Dạo này thời tiết lạnh lắm các con phải mặc áo ấm và đi tất để không bị ho nhiều như bạn Nam nhé! Tôi mới nói đến từ"ho" Ngay lập tức, " dàn đồng ca ho" xuất hiện cùng với những tiếng cười khoái trí. Tôi nhắc, " Thôi"! mà vẫn chưa hết hẳn tiếng ho. Sau đó tôi cáu lên và quát: " Các con có thôi đi không"Các con thích bị ho à? Lúc ấy bọn trẻ mới dừng hẳn nhưng vẫn vài đứa cười nhỏ với nhau. Tình huống đó, lúc này nghĩ lại tôi thấy mình xử lý thật tệ! Các cháu nhỏ hơn,mình lớn hơn nên sợ mình mà" thôi, chứ không phải mà bị thuyết phục mà "thôi". Với cách giải quyết mới, tôi đã áp dụng thành công lại vừa ngắn gọn là: Bạn cứ cho trẻ ho theo nốt phần đó. Hãy dừng lại vài dây để có khoảng trống cho chúng lắng nghe. Rồi nghiêm túc nhắc nhở: 8/20
  9. - Được rồi, cô biết là các con nhớ lời cô dặn.Nhưng thi nhau ho như thế lại là không ngoan, bạn bị ốm nên bạn mới ho chứ các con không ốm thì không nên giả vờ ho như vậy. Đừng nói quá nhiều. Chỉ dừng lại ở đó thôi là trẻ đủ hiểu chúng ta định nói gì và chúng đã làm gì sai. Biện pháp 2.Giao tiếp giúp khích lệ trẻ hợp tác với chúng ta. 2.1. Mô tả Mô tả sự việc bạn thấy hoặc vấn đề bạn biết cho trẻ hiểu. Vì khi người lớn mô tả một vấn đề cũng là cho trẻ biết nên làm cái gì! Hình ảnh 2: Cửa chưa đóng kìa con. Phản tác dụng Mô tả 1. Con vô ý tứ quá! Đi ra đi vào phải đóng cửa lại chứ. Trời lạnh thế này mà 1. Cửa chưa đóng kìa con cấm có nhớ! 2. Lại làm đổ bàn ra rồi. Biết ngay mà! Nghịch như giặc, không lúc nào chịu yên 2. Bàn đổ rồi kìa! chân tay. Con ngồi im một lúc cho cô nhờ! 3. Lại quên tắt vòi nước rồi! Cô nhắc bao nhiêu lần là dùng xong phải khóa vòi 3.Vòi nước rửa tay vẫn đang nước vào kẻo lãng phí! Con muốn lớp chảy đấy mình ngập hết à? 2.2 Nhắc nhở Phản tác dụng Nhắc nhở 1. Ai ăn xong không cất ghế vào đúng 1. Các con cất ghế vào đúng chỗ chỗ đấy? Ngày nào cô cũng nhắc mà cho gọn gàng không chịu tự giác. Để cô cất hộ nhé! 2. Trời ơi! ai vẽ bậy lên tường đây, lại 2. Sàn nhà không phải chỗ là để còn đầy cả thảm nữa. Cô mà trông thấy ai các con vẽ đâu. Muốn vẽ thì phải vẽ bậy ra sàn nhà là sẽ bị phạt ngay! lấy giấy ở đây ra mà vẽ nhé! 3. Các con không thấy lớp bừa bãi và bẩn vì giấy màu hay sao. Có ai biết tự 3. Ai có thể giúp cô dọn lớp giác giúp cô không? Biện pháp 3. Giao tiếp giúp khích lệ trẻ tự lập 3.1 Cho trẻ tự đưa ra lựa chọn Dạy cho trẻ biết cách tự chủ động lựa chọn để tránh sự ỷ lại dựa dẫm của trẻ vào chúng ta. Và chính sự dựa dẫm đó lại gây phiền toái cho chúng ta. 9/20
  10. - Con muốn đi chơi hay ngồi trong lớp? - Các con muốn chơi tiếp hay ngồi yên lặng? - Con muốn ngồi ghế ăn cơm hay đứng ăn? 3.2 Tôn trọng nỗ lực của trẻ Khi nỗ lực của bọn trẻ được tôn trọng, chúng sẽ tập chung giải quyết vấn đề.Đừng đánh giá hoạt động của trẻ hoặc so sánh trẻ với " chuẩn" nào đó! Phản tác dụng Tôn trọng nỗ lực của trẻ 1. Vẽ có mấy quả bóng bay sao mà 1. Vẽ bống bay không phải là việc lâu thế? rễ đâu nhé! phải biết vẽ nhiều nét liên kết với nhau đấy! 2. Đưa lọ đây cho cô. Mở mãi không 2. Lọ này chắc khó mở. Đôi khi được à? chúng ta chỉ xoay nhẹ đúng chiều là được. 3. Nhanh tay lên con, có đôi dày thôi 3. Đi giầy là thể hiện sự khéo léo mà đi mãi không được! của đôi tay đấy! 3.3. Không hỏi quá nhiều Hỏi quá nhiều dù trong tình huống nào cũng làm người khác bị ức chế, tạo tâm lý khó chịu cho người bị hỏi. Khi trẻ muốn nói, tự nhiên bạn sẽ biết hết mọi thứ cần biết. Phản tác dụng Không hỏi nhiều 1. - Hôm qua chủ nhật các con được 1. Ai có thể kể cho các bạn cùng đi chơi ở đâu? Đi với những ai? Đi nghe về ngày nghỉ chủ nhật của mình chơi các con thấy như thế nào? ở đó có nào! những gì? - ( Cô hỏi câu nào trẻ đáp lại đúng như ý rồi dừng lại nghe cô hỏi tiếp.) 2. Sinh nhật Bạn Trang được tặng gì? 2.Con hãy kể về những món quà Mẹ tặng quần áo màu gì?Bố tặng gì? trong ngày sinh nhật của mình? Còn ai tằng gì nữa không? 3.4.Đừng vội cho biết câu trả lời Khi trẻ đặt câu hỏi, ta phải cho trẻ tự tìm câu trả lời trước khi ta đưa ra ý kiến Phản tác dụng Đừng vội cho biết câu trả lời 1.Cô ơi, sao lại có mưa? 1. Cô ơi sao lại có mưa? - Đấy là do sự bốc hơi nước nó bị - Câu hỏi thật thú vị.Con đón xem ngưng tụ lại thành mây.Gió đưa nhiều tại sao? đám mây lại 2.Cô ơi,sao bạn Khánh An vẽ đẹp vậy 2.Cô ơi, sao bạn Khánh An vẽ đẹp 10/20
  11. mà bạn Tiến vẽ xấu thế nhỉ? vậy mà bạn Tiến vẽ xấu thế nhỉ? - Đúng vậy!Tại vì bạn Phương Anh rất - Cô cũng thấy vậy!Theo con thì tại chú ý nghe cô hướng dẫn. sao? 3.Cô ơi, sao quả này màu xanh con quả 3.Cô ơi, sao quả này màu xanh con kia màu vàng nhỉ? quả kia màu vàng nhỉ? - Quả màu xanh vì quả chưa chín còn - Câu hỏi này rất hay đấy! Cô và các khi chín quả sẽ có màu vàng con hãy suy xem vì sao? 3.5.Khích lệ trẻ dùng tư liệu bên ngoài - Trẻ thường có câu: Cô ơi con không biết vẽ? Cô ơi con không biết làm? - Con hãy xem bạn bên cạnh có giúp đỡ được không? Cô đang bận mất rồi! Đây là việc dạy trẻ cách tự giải quyết vấn đề của mình nhờ vào cách thức nào gần gũi nhất, hợp tình thế nhất mà không bị lệ thuộc vào một người nào đó. Cần hướng dẫn cho trẻ để tráng tình trạng: Muốn hỏi Phản tác dụng Khích trẻ dùng tư liệu bên ngoài 1.Cô ơi con muốn ăn kẹo cao su bây 1.Cô ơi con muốn ăn kẹo cao su bây giờ nhé! giờ nhé! - Không được... - Được, nhưng trước tiên chúng ta phải hỏi ý kiến bác sĩ xem con có được ăn không đã! 2.Cô có biết đôi tất của con ở đâu 2.Cô có biết đôi tất của con ở đâu không ạ? không ạ? - Không, cô đang bận. Con đã để ở - Cô đang tìm, con hãy hỏi xem có đâu?Con tự tìm nhé! bạn nào biết không? 3.Cô ơi con không biết vẽ con gà 3.Cô ơi con không biết vẽ con gà đâu?(Cô đang dãy ở bàn bên kia hướn đâu?(Cô đang dãy ở bàn bên kia dẫn cho bạn khác) hướn dẫn cho bạn khác) - Chờ cô chút nhé! đâu cái nào?Đây, - Con hãy hỏi bạn bên cạnh xem có trước tiên phải vẽ hình tròn nhỏ trước thể bảo con cách vẽ được không? làm đầu gà sau đó vẽ hình tròn to làm mình gà, vẽ thêm các nét xiên làm chân...(Trẻ bàn khác lại gọi cô ơi con không biết...? 3.6. Đừng hủy mất hy vọng của trẻ Không làm trẻ thất vọng, chính là bảo vệ hy vọng, ước mơ và sự nỗ lực thực hiện mơ ước của trẻ. Làm mất lòng tin với bản thân Cho trẻ cơ hội và thử nghiệm 1.Lớn lên con muốn làm chú công .Lớn lên con muốn làm chú công an(1 11/20