Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động văn học tại Lớp Bé A trường Mầm non Ánh Hồng
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động văn học tại Lớp Bé A trường Mầm non Ánh Hồng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_tre_phat_trien_n.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động văn học tại Lớp Bé A trường Mầm non Ánh Hồng
- 3 chiều con luôn đáp ứng mọi yêu cầu đề nghị khi trẻ tỏ ra bực bội quấy khóc. Thay vì tìm tìm hiểu tâm tư nguyện vọng và lí giải để con hiểu việc đúng sai; cái gì được đáp ứng cái gì không được đáp ứng thì phụ huynh chọn cách đưa điện thoại cho trẻ nghịch để trẻ im lặng. Cho nên nhiều trẻ rất ít nói và thụ động trong giao tiếp dẫn đến ngôn ngữ của trẻ phát triển hạn chế. Để thực hiện tốt phát triển ngôn ngữ cho trẻ tôi tiến hành khảo sát về thực trạng tại lớp bé A ngay từ đầu năm học tôi được kết quả như sau: Nội dung giáo dục Kết quả khảo sát đầu năm học Khả năng nghe và hiểu ngôn ngữ 15/29 =51,7% Trẻ phát âm chính xác từ ngữ 16/29 = 55,2% Trẻ nói đủ câu và câu có nghĩa 17/29 =58,6 % Vốn từ của trẻ 10/29= 34,5% V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. + Biện pháp 1: Phối hợp với phụ huynh rèn luyện ngôn ngữ cho trẻ khi ở nhà. Như chúng ta đã thấy, môi trường tiếp xúc của trẻ chủ yếu là gia đình và nhà trường. Chính vì vậy việc kết hợp giữ gia đình và nhà trường là một biện pháp không thể thiếu. Phụ huynh chính là nhân tố quyết định trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trong cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi nêu tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng tháng tuyên truyền với phụ huynh thông qua biễu bảng nêu lên nội dung về chủ đề, chương trình học của trẻ. Qua đó, phụ huynh thấy được ngôn ngữ của trẻ phát triển như thế nào và có biện pháp kích thích ngôn ngữ cho trẻ tại gia đình. Ví dụ: Tôi trao đổi với phụ huynh những câu chuuyện trẻ đã học, yêu cầu phụ huynh về nhà cho trẻ nghe và kể lại câu chuyện. Như vậy ngôn ngữ của trẻ được phát triển một cách phong phú và đa dạng. Từ đầu năm học tôi làm bản tin về chương trình dạy theo chủ đề trong tuần để phụ huynh nắm bắt và phối hợp với giáo viên rèn thêm cho cháu lúc ở nhà. Tôi mong muốn phụ huynh hiểu rõ tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, từ đó tạo sự thống nhất giữa giáo viên và phụ huynh trong việc rèn trẻ. Để hiệu quả hơn, đầu chủ đề tôi soạn hết những câu chuyện, bài thơ, bài hát, đồng dao gửi vào nhóm zalo của lớp để phụ huynh nắm rõ về nội dung học mà rèn
- 4 luyện thêm ngôn ngữ cho trẻ khi ở nhà. Biện pháp này nhằm để tạo sự thống nhất chung giữ cô giáo và gia đình vì hiện nay với một đề tài bài thơ thì vô mạng tìm kiếm sẽ hiện ra nhiều kết quả khác nhau. Nếu không có sự thống nhất rõ ràng thì sẽ làm cho cháu lúng túng thắc mắc “Cô giáo con đọc lời thơ thế này, sao mẹ lại đọc thế kia”. Biện pháp này cũng thật sự hiệu quả vì tình hình dịch bệnh đang diễn ra phức tạp nhiều trẻ phải nghĩ dài ngày để dưỡng bệnh khi ở nhà. Hình ảnh giáo viên phối hợp với phụ huynh rèn luyện phát triển ngôn ngữ cho cháu ngoài giờ trên lớp Trong quá trình dạy cháu tôi luôn quan sát chú ý những cháu nói ngọng, nói lắp, phát âm chưa rõ từ và tôi ghi lại những từ ngữ cháu hay phát âm sai trong bài thơ, đồng dao đó để trao đổi với phụ huynh ở giờ trả trẻ. Vì vậy mà giáo viên phối hợp với phụ huynh kịp thời củng cố phát âm đúng cho cháu khi ở nhà. Biện pháp 2: Lựa chọn nhưng câu chuyện, bài thơ, đồng dao đưa vào giảng dạy phù hợp với độ tuổi, phù hợp với thực tế của lớp. Trong các truyện kể, thơ, đồng dao cho bé, có những câu chuyện, bài thơ, đồng dao có các mức độ phức tạp khác nhau. Quyết định bài nào phù hợp với nhóm tuổi nào là một vấn đề mà mỗi giáo viên mẫu giáo phải đối mặt khi muốn lên chương trình dạy trẻ. Trẻ độ tuổi 3-4 tuổi thì phù hợp với những câu chuyện, bài thơ, đồng dao ngắn ngọn, nội dung dễ hiểu, ngôn ngữ đơn giản, trong sáng. Qua đó trẻ sẽ được phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giàu hơn về vốn từ. Vì vậy tôi luôn tìm tòi lựa chọn và sưu tầm những câu chuyện, bài thơ, đồng dao ngắn gọn để đưa vào giảng dạy phù hợp với độ tuổi của trẻ, phù hợp với thực tế lớp. + Ví dụ: Chủ đề nghề nghiệp tôi lựa chọn và đưa vào giảng dạy câu chuyện “Cây rau của thỏ út”. Bởi vì câu chuyện này ngắn gọn, nội dung đơn giản, từ ngữ không phức tạp, hình ảnh nhân vật trong truyện gần gũi với trẻ và phù hợp với độ tuổi 3-4 tuổi. Khi giảng dạy tôi cũng đặc biệt chú ý hệ thống câu hỏi logic, đi từ dễ đến khó, luôn sử dụng câu hỏi gợi mở. Qua đó trẻ đươc phát triển ngôn ngữ mạch lạc qua trả lời câu hỏi của cô, giàu hơn về vốn từ qua giải thích các từ khó: “Ríu rít”, “Li ti”, “Thưa thớt”. Trẻ được đóng vai vào các nhân vật trong truyện và tự kể theo ngôn ngữ của riêng mình. Ngoài ra khi kể chuyện, trẻ biết thể hiện cảm xúc qua lời nói, gương mặt
- 5 và ngôn ngữ cơ thể khác. Nhờ đó vốn từ của trẻ ngày càng phong phú, ngôn từ phát triển hơn. Trẻ diễn kịch câu chuyện: Cây rau của thỏ út Khi trẻ diễn lại vai các nhân vật trong câu chuyện giúp trẻ vừa phát triển ngôn ngữ mạch lạc vừa khắc sâu ghi nhớ từng nhân vật trong câu chuyện. Quan trọng là trẻ hiểu được nội dung giáo dục phải biết vâng lời ông bà, cha mẹ, siêng năng chăm chỉ lao động thì sẽ có thành quả. Vụ rau mùa sau của thỏ út
- 6 Như chúng ta đã biết thơ ca có tầm ảnh hưởng rất lớn đến tâm hồn trẻ, ngay từ khi sinh ra trẻ đã được bà, mẹ hát ru cho nghe. Lớn thêm một chút khi đến lớp trẻ được các cô kể truyện, đọc thơ trẻ càng hiểu thêm về những vấn đề gần gũi xung quanh trẻ hơn. Hiểu được điều đó tôi đã sưu tầm và đưa vào giảng dạy bài thơ “Em làm thợ xây” trong chủ đề “Nghề nghiệp”. Bởi vì bài thơ này ngắn gọn, từ ngữ đơn giản, nội dung dễ hiểu, hình ảnh nhân vật gần gũi phù hợp với tâm sinh lý trẻ 3-4 tuổi. Lựa chọn bài thơ hay phù hợp với tâm sinh lý trẻ giúp trẻ dễ thuộc hơn, hiểu nội dung nhanh hơn, trả lời câu hỏi đàm thoại cùng cô trọn câu hơn. Qua đó làm nảy sinh ở trẻ sự quan tâm đến người khác và trên cơ sở đó phát triển những mối quan hệ thân thiện, gần gũi, cảm thông giữa trẻ với những người xung quanh. Tất cả những điều này tác động một cách tích cực lên trẻ, làm cho trẻ cảm thấy hứng thú muốn đến trường, muốn giao tiếp với cô, bạn bè; nhờ đó mà vốn từ của trẻ càng phong phú hơn. + Chủ đề thế giới thực vật tôi lựa chọn và đưa vào giảng dạy câu chuyện “Nhổ củ cải” Các trẻ độ tuổi 3-4 tuổi thường đã sẵn sàng để nghe các câu chuyện có phần lời ngắn gọn, dễ hiểu phù hợp mà đặc biệt có tính “tuần tự” như câu chuyện “Nhổ củ cải”. Đàm thoại theo nội dung truyện và kể lại truyện “Nhổ củ cải” sẽ rèn luyện thói quen phát âm rõ ràng, mạch lạc, cách sử dụng câu từ phù hợp. Mỗi khi trẻ phát âm sai cô giáo sẽ sửa ngay lập tức. Do đó mà phát âm đúng dần cải thiện. Ở chủ đề này thì tôi lựa chọn và đưa đồng dao “Đồng dao về rau quả” để giảng dạy trẻ bởi lẽ là bài đồng dao này nhắc đến những loại rau quả rất gần gũi với trẻ. Đồng dao thực chất là ngôn ngữ có tính thơ ca, có vần, có nhịp. Điều này kích thích, thu hút trẻ chú ý vào bài học. Bài hát “Đồng dao về rau quả” cũng chính là cuốn từ điển sống chứa đựng một kho từ vựng giàu có. Qua chơi với đồng dao trẻ được tiếp xúc, tập phát âm, khám phá và rèn luyện với ngôn ngữ tiếng Việt một cách có ý thức. + Chủ đề bản thân tôi lựa chọn câu chuyện “Mẹ con chuột túi đi siêu thị” Câu chuyện này tái hiện lại cuộc sống sinh động của trẻ ở ngoài đời thực trẻ được thỏa sức lựa chọn, suy luận, phán đoán và kể lại những hình ảnh mình vừa thấy trong tranh nhằm nâng cao khả năng diễn đạt, giúp trẻ mở rộng vốn từ, kích thích trí tưởng tượng sáng tạo tiềm ẩn trong trẻ. Bởi vậy, hoạt động kể chuyện góp phần không nhỏ trong việc phát triển năng lực tư duy, kích hoạt óc sáng tạo của trẻ. Bài thơ: “Bé ơi” là lựa chọn của tôi khi chọn thơ vào giảng dạy trong chủ đề này. Bài thơ này có câu thơ ngắn gọn – 4 tiếng, điệp vần cuối câu thơ giúp trẻ khi đọc lên rất dễ nhớ, dễ thuộc. Giọng thơ nhẹ nhàng chứa đựng sự khuyên bảo, khi vui chơi không nên chơi nghịch đất cát, khi trời nắng to thì vào bóng mát. Trẻ em thường yêu thích sự dỗ dành, quan tâm nên khi muốn khuyên ngăn gì đó cần phải nhẹ nhàng,
- 7 nói những từ dễ nghe sẽ khiến bé hiểu được. Khi trẻ hiểu được trẻ sẽ dùng từ chính xác hơn và đúng hoàn cảnh hơn. + Chủ đề Phương tiện giao thông tôi lựa chọn truyện “Xe lu và xe ca” Chuyện xe lu xe ca kể về những sự vật xung quanh rất gần gũi trẻ từ đó kích thích, thu hút trẻ phát triển về vốn từ, khả năng diễn đạt Từ những câu chuyện bản thân tôi tìm tòi lựa chọn để áp dụng vào dạy trẻ, năm học qua trẻ được phát triển vốn từ, ngôn ngữ thêm mạch lạc. Biện pháp 3: Sử dụng dụng cụ trực quan Khi sử dụng dụng cụ trực quan tôi sử dụng các loại tranh, ảnh, đồ chơi, vật thật, con rối, video đẹp mắt có nội dung phù hợp với đề tài. Trẻ 3-4 tuổi nhận thức chủ yếu trực quan hình tượng nên cháu sẽ chóng nhớ nhanh quên. Vì vậy hình ảnh trực quan là một yếu tố rất quan trọng để cháu khắc sâu và nhớ lâu hơn. Trong đó ngôn ngữ hình thể là cử chỉ, nét mặt, điệu bộ, ánh mắt của giáo viên kết hợp với tranh ảnh, con rối, hình ảnh trên công nghệ thông tin sẽ giúp cho trẻ phát triển tốt nhất về vốn từ, tư duy, óc sáng tạo hay về ngôn ngữ nói chung. Trong tất cả các đồ dùng trực quan đó thì tranh vẽ, hình ảnh trình chiếu có ý nghĩa rất to lớn để phát triển khả năng tư duy của trẻ. Xem tranh sẽ mang lại cho trẻ niềm vui, hứng thú cho trẻ nhỏ. Qua tranh ảnh sẽ giúp cho trẻ phát triển lời nói của chính trẻ, nhu cầu ấy là phương tiện quan trọng để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Bởi khi xem tranh- ảnh, trẻ sẽ không ngừng nói, vì vậy mà cô giáo phải tạo điều kiện để hỗ trợ cho trẻ cách phát âm rõ ràng, chính xác và tăng vốn từ cho trẻ. Như những năm về trước thường thì giáo viên chỉ sử dụng những loại tranh nhỏ trẻ phải cố gắng nhìn mới thấy rõ được nếu là lớp đông học sinh. vì thế, trẻ sẽ khó có thể ghi nhớ và cảm thụ hết cái hay cái hấp dẫn trong các tác phẩm văn học được. Qua đó tôi đã suy nghĩ và nghiên cứu để vẽ ra những bức tranh to hơn, hình ảnh của nhân vật tách riêng ra khỏi nền tranh bố cục, màu sắc tươi sáng, rõ nét đó là “Tranh nổi”. HÌnh ảnh cô sử dụng tranh nổi gây hứng thú cho trẻ
- 8 Nhằm mục đích cho trẻ được quan sát rõ nét hơn, khác biệt hơn so với tranh trước đây, sẽ rất hấp dẫn trẻ trong giờ văn học. Cùng với giọng đọc + ngôn ngữ hình thể của cô trẻ sẽ nhớ tên bài thơ, hiểu nội dung của bài thơ nhanh, lâu hơn. Nhớ tốt sẽ giúp trẻ trả lời trọn vẹn câu, đủ ý khi diễn đat. Trong tiết thơ, truyện ngoài tranh nổi ra cô có thể sử dụng rối dẹt. Hình ảnh cô sử dụng rối dẹt để dạy thơ “Ong và bướm” gây hứng thú cho trẻ.
- 9 Ví dụ: Dạy thơ “Ong và bướm” cô cần chuẩn bị rối dẹt nhân vật giống trong bài thơ. Rối có tay cầm để di chuyển dễ dàng kết hợp giọng đọc của cô phải truyền cảm nhấn giọng; sử dụng những nhân vật di chuyển phù hợp theo trình tự bài thơ gây được sự chú ý cho trẻ. Khi trẻ chơi với rối, đồ vật thật không những trẻ được phát triển về ngôn ngữ mà giúp trẻ phát triển hơn về trí tuệ, tư duy, óc sáng tạo, mở rộng thêm những hiểu biết về thế giới xung quanh. Tiếp nhận thêm những kiến thức gần gũi cũng như giáo dục được trẻ các mối quan hệ khi chơi: phải biết phối hợp nhau trong trò chơi, biết nhường nhịn lẫn nhau, giao lưu với nhau. Khi dạy cô giáo cần đặt dụng cụ ở vị trí vừa tầm nhìn của trẻ, tranh phải được sắp xếp theo đúng trình tự, bố cục chặt chẽ, hợp lý, khoa học, thuận tiện khi sử dụng. Giáo viên khuyến khính trẻ kể bằng lời thông qua tranh- ảnh, con rối, vật thật giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, hình thành những hành vi về đạo đức và giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Thông qua tranh-ảnh giúp trẻ càng thêm yêu thiên nhiên, đất nước, giúp trẻ khám phá về thế giới xung quanh, trẻ càng yêu trường lớp, bạn bè và những người xung quanh mình. Có thể nói đồ dùng dạy học với việc sử dụng có hiệu quả đồ dùng, thiết bị dạy học là một trong những yếu tố quyết định thành công của giờ dạy. Như vậy có thể khẳng định: Muốn phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giáo viên cần phải sử dụng tích cực, sáng tạo và phát huy tối đa những chức năng của đồ dùng trực quan nhất là sử dụng đồ dùng đồ chơi dễ kiếm ở địa phương. Dĩ nhiên trong khuôn khổ một giờ học không thể sử dụng mọi loại đồ dùng trực quan mà cần phải lựa chọn và biết cách sử dụng tùy theo tình hình cụ thể và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Biện pháp 4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng. Cùng với công nghệ thông tin phát triển ngày nay, giáo viên ứng dụng giáo án điện tử, slide trình chiếu theo nội dung bài học. Qua những hình ảnh rõ nét, đẹp, sống động như thật cùng với giọng kể, đọc thay đổi theo từng câu thơ, lúc trầm, lúc bổng đã lôi cuốn trẻ bước vào thế giới của những cái đẹp, kỳ thú hiện ra trước mắt mà ngày thường trẻ không để ý đến. Đó là cái đẹp về các mối quan hệ thiên nhiên, cảnh vật, về con người với con người, về con người với thiên nhiên ...Về những lời đối thoại, giao tiếp ứng xử hay, hành động cử chỉ đẹp...tất cả đều có trong văn học. Ví dụ: Sau khi cô đọc thơ “Ong và bướm” với rối dẹt cô cho trẻ đọc trích dẫn thơ với các hình ảnh trong slide máy tính để trẻ hiểu rõ hơn về nội dung bài thơ. Tiếp theo là lúc cô nêu câu hỏi để trẻ đàm thoại cùng cô theo nội dung thơ: - Trong bài thơ có những con gì? Trẻ trả lời xong cô cho trẻ xem hình ảnh con Ong và con Bướm trên màn hình cùng những tiếng vỗ tay bằng âm thanh điện tử nếu trả lời đúng. Hoặc âm thanh khích lệ động viên khi trả lời chưa đúng. Cho hiển thị trên màn hình kết quả đúng
- 10 để trẻ biết được câu trả lời của trẻ đúng hay sai. Như vậy sẽ kích thích được sự hứng thú của trẻ tích cực tham gia trả lời câu hỏi của nội dung bài thơ. Cứ như vậy trẻ vừa trả lời theo nội dung bài thơ đồng thời trẻ cũng khắc sâu nội dung bài thơ qua nhiều hình ảnh âm thanh sinh động. Ví dụ: Khi cho trẻ học bài thơ “Hoa kết trái” khi cô giải thích từ khó “Tim tím” Cô giải thích kết hợp cho trẻ xem hình ảnh hoa cà có màu tim tím cho trẻ xem, qua đó trẻ vừa biết được màu tím của hoa cà, đồng thời trẻ nhận biết được màu tím không chỉ thế cô còn có một số hình ảnh chỉ sự vật khác cũng liên quan đến màu sắc “Tim tím”. Ví dụ: Hình ảnh chiếc áo xinh xắn có màu tim tím, cái nơ xinh của bé cũng là màu tim tím... Như vậy khả năng hiểu nghĩa của trẻ sẽ cao hơn. Hay từ “Rung rinh” sau khi cô giải thích xong cô bật hình ảnh những bông hoa có làn gió nhẹ làm cho những bông hoa khẽ đung đưa theo gió từ đó trẻ liên hệ ra cuộc sống thiên nhiên bên ngoài trẻ. Như vậy qua biện pháp đưa công nghệ thông tin vào việc soạn giáo án điện tử và dạy trẻ học bài qua giáo án điện tử. Trẻ lớp tôi rất hứng thú học bài và trả lời bài, phát huy tính tích cực cho trẻ, phát triển vốn từ, phát triển ngôn ngữ mạch lạc. Ngoài ra hình thành ở trẻ lòng yêu thương con người và thiên nhiên, hình thành nhân cách con người trẻ một cách toàn diện. Biện pháp 6: Thay đổi hình thức tổ chức gây hứng thú cho trẻ: Một là, đổi mới hình thức đọc thơ. Thường thì giáo viên dùng rối để kể chuyện nhưng nay tôi dùng rối để đọc thơ tạo sự mới lạ gây trẻ hứng thú cho trẻ. Ví dụ: Vào giờ học thơ “Ong và bướm” tôi chuẩn bị vườn hoa hồng với đủ sắc màu và rối dẹt con ong và con bướm trắng để sẵn ở góc cổ tích. Cô dắt trẻ đi thăm quan xem lớp mình hôm nay có gì mới. Tại đây tôi thể hiện sự bất ngờ, sự thích thú, vui mừng khi gặp những đồ chơi mới qua nét mặt, lời nói, điệu bộ. Bằng sự tinh tế tôi gợi hỏi để trẻ trả lời logic theo những gì trẻ nhìn thấy được. Lúc này cô thể hiện sự thong thả dạo chơi của bướm; sự kiên quyết của bạn ong qua giọng đọc nhấn giọng lên xuống kết hợp ánh mắt, cử chỉ, nét mặt, điệu bộ khi đọc thơ để trẻ cảm nhận. Đang đà trẻ hứng thú chú ý lên cô, tôi linh hoạt chuyển tiếp đọc thơ kết hợp với rối trên vườn hoa hồng. Trẻ được quan sát cụ thể từng hành động của con rối cô diễn kích thích trẻ tập trung chú ý hơn vào giờ học. Thu hút sự tìm tòi khám phá của trẻ như: Vì sao cô làm được như vậy? Cô làm sao để con bướm bay vòng vòng? Trả lời bướm xong ong bay về đâu? Muôn vàng thắc mắc được đặt ra và cũng là lúc trẻ phải loay hoay tìm câu trả lời phù hợp. Trẻ trả lời được cũng là thành tích của cô về phát triển vốn từ, phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Khi dạy trẻ đọc thơ tôi đặc biệt quan tâm chú ý đến nhu cầu và hứng thú đọc thơ của trẻ.
- 11 Ví dụ: Trong giờ đọc thơ hai bạn Linh Chi, Minh Khang vẫn tiếp tục tự giác lên đọc khi cô mời bạn khác. Thay vì yêu cầu trẻ về ghế ngồi tôi lại tiếp tục mời Linh Chi, Minh Khang ở lại đọc cùng bạn. Đợi hai cháu đọc xong tôi nhẹ nhàng nói: có rất nhiều bạn giống các con muốn được thể hiện giọng thơ hay của mình nên các con hãy ngồi vào ghế và nhường phần để các bạn có cơ hội được thể hiện giống như con nhé. Làm như vậy tôi không những đáp ứng được hứng thú đọc thơ của Linh Chi, Minh Khang mà còn khơi gợi được những bạn nhút nhát trong lớp chưa có tinh thần tự giác cao. Hai là, cho trẻ kể lại sự việc trẻ chứng kiến. Ví dụ: Giờ hoạt động chiều tôi thường gọi trẻ lại ngồi xúm xít bên cô và tôi đặt các câu hỏi trẻ sẽ kể lại các sự việc mà trẻ đã được chứng kiến vào hoạt động trong ngày như các hoạt động buổi sáng chẳng hạn. Và khi đó tôi khuyến khích trẻ đứng lên kể lại bằng ngôn ngữ của mình theo sự việc diễn ra trong buổi sáng hôm ấy. Hay cho trẻ xúm xít lại góc cổ tích để lần lượt đọc và diễn lại rối theo nội dung bài đã học khi sáng. Nếu như trẻ quên thì tôi cho trẻ kể- đọc từng đoạn rồi cho trẻ khác kể- đọc đoạn tiếp theo. Những lần như vậy tôi khuyến khích, động viên trẻ kịp thời, để lần sau trẻ làm tốt hơn. Kể lại sự việc sự việc mà trẻ chứng kiến sẽ giúp trẻ phát triển vốn từ, khả năng ghi nhớ, diễn đạt lại câu chuyện, sự việc một cách mạch lạc. Ví dụ: Tôi hỏi và trò chuyện cùng trẻ trong giờ hoạt động buổi sáng trẻ đã được học và chơi những hoạt động gì? Hoặc tôi cho trẻ xem video về một bài kỹ năng tự phục vụ bản thân và cho trẻ kể lại những tình tiết trong video. Thông qua cách này, khi trẻ cố gắng diễn đạt lại sự việc cho người khác đây là lúc trẻ trẻ phát triển từ vựng và ngôn ngữ, không những vậy, điều này còn giúp trẻ nâng cao kỹ năng giao tiếp và học được cách chú ý. Bằng cách sử dụng câu chữ, giọng điệu, lời kể của mình để kể lại; trẻ sẽ phát triển tốt các khả năng ngôn ngữ, liên tưởng, sáng tạo Nhờ đó trẻ cũng học được sự tự tin khi trình bày. Ba là, chuẩn bị nhiều tranh ảnh rời theo nội dung truyện hoặc không theo nội dung truyện. Tôi chuẩn bị thật nhiều tranh ảnh để trẻ nhìn vào tranh sẽ tự sáng tạo nội dung, lời thoại của câu chuyện theo cách nghĩ của trẻ. Qua sự gợi ý của cô trẻ sẽ trả lời câu hỏi trọn câu và kể diễn cảm, sáng tạo ra nhiều tình tiết mới. Qua đó ngôn ngữ ngày càng phát triển, khả năng tư duy sáng tạo cho trẻ ngày càng cao. Cô có thể áp dụng cùng trẻ mỗi ngày lúc nào rảnh. Bên cạnh nhiều kỹ năng bé học được, việc dạy trẻ kể chuyện sáng tạo còn giúp bé tự tin, vui vẻ và phát triển trí thông minh+ cảm xúc tốt hơn. Đây là phương pháp dạy trẻ phát triển ngôn ngữ hiệu quả mà bản thân đã áp dụng. Bốn là, tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm. Trong quá trình giảng dạy tôi đã kịp nhận thấy trẻ thực sự hứng thú khi bản thân trẻ được trải nghiệm. Vì vậy, trong giờ học tôi luôn đặc biệt quan tâm tạo cơ
- 12 hội cho tất cả trẻ được tham gia trải nghiệm để khắc sâu những kiến thức mà cô vừa truyền thụ. Ví dụ: Sau khi cho trẻ đọc thơ "Đàn gà con” cô cho trẻ đi theo đường hẹp lên gắn những chú gà con thành đàn theo mẹ. Trong quá trình giảng dạy giúp trẻ cảm thụ tốt các tác phẩm văn học cô không xem nhẹ hình thức nào dù mọi lúc, mọi nơi hay trên tiết học, tôi luôn suy nghĩ và đưa ra yêu cầu phù hợp với từng hình thức để trẻ tiếp thu một cách thoải mái. Với hình thức tiết học nội dung phải chi tiết cụ thể những câu hỏi cô đưa ra đàm thoại phải phù hợp với bài thơ, câu hỏi ngắn gọn logic theo nội dung bài dạy, hệ thống câu hỏi đi từ dễ đến khó và luôn sử dụng câu hỏi mở. Với mục tiêu lấy trẻ làm trung tâm, trẻ thực sự được tham gia các hoạt động, được trải nghiệm một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Trong quá trình dạy tôi vận dụng tạo mọi cơ hội để trẻ học hỏi, hiểu biết thêm về thơ ca trong chương trình giáo dục mầm non. Càng nhiều cơ hội học và hỏi thì ngôn ngữ của trẻ ngày phát triển hơn. Chính vì vậy mà tôi chọn biện pháp 6 + Biện pháp 6: Dạy trẻ “ Làm quen văn học ” trong các hoạt động khác. Ngoài giờ hoạt động chung về bộ môn “Làm quen văn học ”, tôi cho trẻ tiếp xúc với các tác phẩm văn học trong tất cả các hoạt động diễn ra hằng ngày của trẻ bằng phương pháp dạy tích hợp. Hoạt động lồng ghép nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ vì ngôn ngữ và tư duy liên hệ chặt chẽ với các quá trình lao động và sự hoạt động của con người. Tổ chức dạy hoạt động “Làm quen với văn học” có thể lồng ghép vào bất kỳ một hoạt động nào của trẻ nhằm khai thác nhân tố, kích thích việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ . Việc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là rất quan trọng và cần thiết. Thông qua văn học, trẻ được phát triển ngôn ngữ, phát triển vốn từ phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ. Vì vậy tôi không những dạy trẻ làm quen các tác phẩm văn học trên các tiết học mà còn cho trẻ làm quen các tác phẩm văn học ở mọi lúc, mọi nơi. Dạy trẻ học thơ không chỉ trên tiết học mà tôi còn dạy trẻ qua các hoạt động khác như: Hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều, giờ ăn, giờ ngủ cũng là điều kiện tốt để trẻ có thêm kiến thức về thơ ca, tích hợp các môn học khác. Ví dụ: Khi hoạt động ngoài trời, đang thực hiện chủ đề động vật sau khi quan sát có mục đích: Con gà, tôi cho trẻ đọc bài thơ “Đàn gà con” Hay khi thực hiện chủ đề thực vật tôi cho trẻ quan sát có mục đích: Quan sát vườn hoa của trường khi quan sát xong tôi cho trẻ đọc bài thơ: “Hoa kết trái”. Ví dụ: Khi trẻ ngồi vào bàn ăn trước khi ăn tôi cho trẻ đọc những bài thơ có liên quan đến việc hình thành nề nếp khi ăn. Như bài “Giờ ăn đến rồi”, hay bài thơ “Rửa tay”. Giờ ngủ tôi cho trẻ đọc bài thơ “Giờ đi ngủ”. Còn hoạt động chiều tôi cho trẻ ôn lại các bài thơ đã học bằng hình thức tổ chức trò chơi hay chương trình để nhằm kích thích trẻ nhớ lại các bài thơ trẻ đã học và kích thích trẻ đọc lại các
- 13 bài thơ đó để trẻ củng cố lại các bài thơ mà trẻ đã học. Tổ chức hoạt động mọi lúc, mọi nơi như vậy sẽ giúp trẻ khắc sâu thêm kiến thức trẻ đã học. Mặt khác, học mọi lúc mọi nơi đặc biệt đối với tiết thơ, truyện làm cho trẻ lúc nào cũng cảm thấy vui tươi, hồn nhiên tạo điều kiện cho trẻ học các môn học khác có hiệu quả. Với các hoạt động khác như khám phá khoa học, toán, âm nhạc, tạo hình tôi cũng thường xuyên tích hợp những tác phẩm văn học để giúp trẻ không bị nhàm chán mất tập trung trong tiết học. Như dạy trẻ khám phá hoa cúc tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện “Sự tích bông hoa cúc trắng”. Hình thức này phải được tổ chức thực hiện thường xuyên, liên tục trong những điều kiện cụ thể và thuận lợi để giáo dục trẻ. Bởi thông qua hình thức này không những giúp trẻ làm quen với các tác phẩm văn học mà qua đó còn giúp trẻ ôn luyện, nâng cao kiến thức cũ, trẻ có thể đọc diễn cảm và đóng kịch. Tóm lại, chúng ta biết vận dụng các biện pháp trên vào trong giảng dạy cho trẻ “Làm quen với văn học” sẽ góp phần rất nhiều vào việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi 3-4 tuổi. Giúp trẻ học ngôn ngữ và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ trong học tập cũng như trong cuộc sống hằng ngày. VI. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU. Qua một thời gian nghiên cứu, phối hợp với phụ huynh áp dụng các biện pháp giúp trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động văn học cho trẻ, tôi thật sự vui mừng khi thấy sự tiến bộ rõ rệt ở trẻ trong lớp mình. Đến nay vốn từ của trẻ càng nhiều, khả năng nghe và hiểu ngôn ngữ của trẻ phát triển hơn. Trẻ phát âm chính xác hơn các từ ngữ; nói trọn vẹn câu hơn. Cụ thể kết quả đạt như sau: Nội dung giáo dục Kết quả trước khi áp Kết quả sau khi áp dụng dụng Khả năng nghe và 15/29 =51,7% 26/29 = 89,7% hiểu ngôn ngữ Trẻ phát âm chính 16/29 = 55,2% 25/29 = 86,2% xác từ ngữ Trẻ nói đủ câu và 17/29 =58,6 % 26/29= 89,7% câu có nghĩa Vốn từ của trẻ 10/29= 34,5% 22/29 = 75,9% Phụ huynh quan tâm đến con em hơn, tạo điều kiện để trò chuyện cùng con nhiều hơn, chủ động hơn trong phối hợp với giáo viên rèn luyện phát âm đúng cho cháu sau khi rời lớp học và chăm lo cung cấp vốn Tiếng Việt ở nhà cho trẻ nhiều hơn. Số lượng phụ huynh tham gia phối hợp rèn luyện ngôn ngữ với giáo viên đạt trên 80%.

