Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng thực hành cuộc sống, cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường Mầm non

docx 95 trang Chăm Nguyễn 12/08/2026 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng thực hành cuộc sống, cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_ren_ky_nang_thuc_hanh.docx

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kỹ năng thực hành cuộc sống, cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường Mầm non

  1. Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Theo nghiên cứu của PGS-TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: Kỹ năng cứng không đủ để giúp bạn thăng tiến mà cần phải có cả những kỹ năng mềm. Thực tế cho thấy những người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được quyết định bởi kỹ năng mềm – chính là kỹ năng sống mà họ được trang bị. Hòa chung với sự phát triển của thế giới, kỹ năng sống đã và đang được quan tâm rất nhiều ở Việt Nam. Đặc biệt, là việc xây dựng và phát triển kỹ năng sống cho trẻ em. Kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh, tích cực, cho phép mỗi cá nhân đối mặt với những thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng sống bao gồm kỹ năng mềm và kỹ năng cứng. Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng thuộc trí tuệ, cảm xúc của con người còn kỹ năng cứng lại là khả năng học vấn và trình độ chuyên môn của bản thân Trong những năm gần đây, ngành học mầm non đã triển khai xây dựng lồng ghép chuyên đề “Giáo dục kỹ năng sống” vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực giúp trẻ có được những nhận thức, kiến thức, hành vi, thái độ và kỹ năng thích hợp. Tùy theo lứa tuổi, trẻ sẽ được bắt đầu làm quen với các kỹ năng giao tiếp, thích nghi, khám phá thế giới xung quanh, kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng tạo niềm vui, tự bảo vệ, kỹ năng làm việc nhóm và kỹ năng tự quyết một số tình huống phù hợp với lứa tuổi. Tuy nhiên, với khả năng tiếp thu và nhận thức của trẻ mầm non, trẻ rất dễ nhớ nhưng lại mau quên, đặc biệt là lứa tuổi trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng. Ở lứa tuổi này, trẻ còn thực hiện theo ý thích, chưa tự ý thức được hành động, hành vi của mình, chưa có nề nếp thói quen tốt trong sinh hoạt. Trẻ chưa nhận biết và thể hiện được một số trạng thái cảm xúc của bản thân và những người xung quanh để trẻ có những hành động đúng. Hơn nữa, trẻ ở lứa tuổi này còn non nớt, trẻ đã quen được ông bà bố mẹ chiều chuộng, đòi gì được nấy chính vì vậy trẻ chưa có kỹ năng tự phục vụ, chưa có nề nếp trong sinh hoạt hàng ngày. Là giáo viên đứng lớp, tôi luôn băn khoăn, suy nghĩ làm thế nào để giáo dục, uốn nắn cho trẻ những hành vi đúng, cách cư xử lịch sự, văn minh, làm thế nào để giúp trẻ có kỹ năng như: Tự nhận thức, tự phục vụ, biết đoàn kết với bạn bè..... làm thế nào để cung cấp những kỹ năng sống cho trẻ một cách có hiệu quả nhất. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp rèn kỹ năng thực hành cuộc sống, cho trẻ nhà trẻ 24 - 36 tháng tuổi ở trường mầm non”.
  2. 2 * Mục đích nghiên cứu: Với đề tài trên tôi muốn giúp trẻ có những kỹ năng ban đầu về cuộc sống, có những kinh nghiệm sống, biết được những điều nên làm và không nên làm giúp trẻ tự tin, chủ động và biết cách sử lý các tình huống trong cuộc sống, khơi gợi khả năng tư duy sáng tạo của trẻ, đặt nền tảng cho trẻ trở thành người có trách nhiệm và có cuộc sống hài hòa trong tương lai. * Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp giúp phát triển kỹ năng sống cơ bản cho trẻ, hình thành các kỹ năng như: Tự phục vụ, giao tiếp, tự nhận thức, hợp tác... * Đối tượng khảo sát, thực nghiệm: Trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng ở trường mầm non. * Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu: Năm học 2022- 2023. * Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp nghiên cứu lý luận - Phương pháp tham khảo tài liệu - Phương pháp điều tra thực trạng - Phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát
  3. 3 Phần 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. NHỮNG NỘI DUNG LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TỔNG KẾT KINH NGHIỆM Công ước về quyền trẻ em đã khẳng định: “Mọi trẻ em đều có quyền phát triển”. Chính phủ Việt Nam đã đã ký công ước về quyền trẻ em và cam kết thực hiện mục tiêu giáo dục cho mọi người theo kế hoạch hành động: Nâng cao ảnh hưởng của nền giáo dục có chất lượng, đặc biệt là giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Trong cuộc sống hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn thách thức, những áp lực tiêu cực. Thiếu kỹ năng sống, trẻ dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, lối sống ích kỉ thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Đặc biệt, lứa tuổi 24 - 36 tháng, là giai đoạn nền tảng trong quá trình phát triển của mọi cá nhân. Ở độ tuổi này, trẻ cần được giáo dục kỹ năng sống ở cả gia đình và trường mầm non. Điều này giúp trẻ an toàn, khỏe mạnh, tự lực, tự tin, giàu sáng tạo. Tuy nhiên, do đặc thù của lứa tuổi nên khả năng nhận thức của trẻ còn có nhiều hạn chế, trẻ dễ nhớ, dễ quên và hay hành động theo ý muốn. Vì vậy, dạy những kỹ năng sống cho trẻ chỉ là những bước đầu giúp trẻ có các kỹ năng như: Biết về bản thân mình, mạnh dạn tự tin, kỹ năng giao tiếp, tự phục vụ bản thân, biết hợp tác chơi với các bạn, kỹ năng thích nghi với môi trường,... Để trẻ có được những kỹ năng ở lứa tuổi này, cô giáo cần nhẹ nhàng, linh hoạt, sáng tạo, lồng ghép các hoạt động để truyền thụ các kỹ năng cho trẻ. Ngoài ra cô giáo nên trang bị cho trẻ kiến thức, giúp trẻ có ý thức và niềm tin để thay đổi. Trẻ phải được thực hành, trẻ cần được hướng dẫn, vận dụng kỹ năng vào các sinh hoạt thường ngày của trẻ. Để những kỹ năng này trở thành một thói quen tốt, đặc biệt lứa tuổi 24- 36 tháng là tuổi đầu tiên đi học tại trường mầm non nơi tôi công tác. II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ 1. Đặc điểm tình hình chung: Trường mầm non nơi tôi đang công tác là một ngôi trường nằm ở ngoại ô thành phố Hà Nội. Ban giám hiệu đã đầu tư rất nhiều các trang thiết bị và cơ sở vật chất cho các lớp, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho giáo viên và nhân viên trong toàn trường làm tốt công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Trường Mầm non xã Hữu Hòa có 3 điểm trường. Trẻ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tại khu Hữu Từ với 6 lớp học, khu trung tâm tại thôn Hữu trung với 8 lớp học. Khu phú Diễn được xây mới và mới nhận bàn giao tháng 3 năm 2023. Hiện tại nhà trường đang tiếp nhận trang thiết bị được đầu tư, bên cạnh
  4. 4 đó ban giám hiệu đang chỉ đạo xây dựng môi trường, làm công tác tuyên truyền chuẩn bị cho việc tiếp nhận trẻ vào thời điểm tuyển sinh năm học 2023 - 2024. - Nhà trường đã được công nhận kiểm định chất lượng cấp độ 2 và công nhận lại trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 vào tháng 01/2021. Đời sống nhân dân trong toàn xã với 2/3 sống bằng nghề trồng trọt và buôn bán nhỏ lẻ. Năm học 2022- 2023 tôi được ban giám hiệu phân công phụ trách lớp nhà trẻ 24 - 36 tháng, 3/3 giáo viên trên lớp đều đạt trên chuẩn. Lớp tôi có 32 trẻ trong đó có 17 cháu nam và 15 cháu nữ. Phần lớn trẻ lần đầu đến trường nên còn nhút nhát, nhiều trẻ phát âm chưa tốt, đặc biệt trẻ được bố mẹ nuông chiều nên hay ỷ lại, khả năng tự phục vụ gần như không có. Từ thực tế trên khi thực hiện đề tài tôi đã gặp một số thuận lợi và khó khăn sau: 2. Thuận lợi: - Về ban giám hiệu: + Ban giám hiệu luôn quan tâm, đầu tư về cơ sở vật chất, đặc biệt, rất sát sao trong việc nâng cao kiến thức cho giáo viên: cụ thể hàng tháng chúng tôi đều tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo khối 2 lần một tháng, trong những buổi họp này, tôi luôn trao đổi việc lồng ghép việc dạy kỹ năng sống cho trẻ, qua đó cùng các chị em giáo dục kỹ năng sống cho trẻ một cách nhẹ nhàng và đem lại hiệu quả cao nhất. + Ban giám hiệu cũng quan tâm đầu tư, bổ sung thêm tài liệu về kỹ năng sống cho giáo viên giúp chúng tôi có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. + Lớp rộng rãi, thoáng mát, được trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại như: Ti vi to, máy vi tính - Về giáo viên: + Giáo viên có trình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, đoàn kết, học hỏi có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc nuôi dạy trẻ. Luôn học hỏi, tìm hiểu về kiến thức dạy trẻ kỹ năng sống. - Về phụ huynh: + Các bậc phụ huynh quan tâm, tin tưởng cô, nhiệt tình trao đổi, phối hợp với giáo viên trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. Khi thực hiện đề tài dạy kỹ năng sống cho trẻ, tôi nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của phụ huynh cũng như của Ban giám hiệu, cùng các chị em đồng nghiệp 3. Khó khăn: - Về giáo viên:
  5. 5 + Giáo viên còn nhiều hạn chế về phương pháp tổ chức rèn kỹ năng sống cho trẻ. - Về phía trẻ: + Đa số trẻ lần đầu đến lớp nên còn nhiều bỡ ngỡ, cần có thời gian để làm quen với chế độ sinh hoạt của nhà trẻ. + Nhiều trẻ còn nhút nhát, khả năng phát âm của trẻ còn hạn chế, một số trẻ sức khỏe yếu, hay nghỉ học, thời gian chăm sóc trẻ nhiều. + Ở nhiều gia đình trẻ được nuông chiều, khiến cho trẻ không có kỹ năng tự phục vụ. - Về phụ huynh: + Đa số trẻ là con gia đình nông thôn, điều kiện gia đình còn khó khăn nên dù rất quan tâm đến con nhưng thời gian giành cho con còn hạn chế. Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau: III. CÁC BIỆN PHÁP 1. Khảo sát, xác định các loại kỹ năng sống phù hợp độ tuổi để dạy trẻ. Kỹ năng sống là khả năng biết làm, biết thực hiện việc gì đó một cách tự giác, thành thạo trong mọi hoàn cảnh. Có người nói: Dạy trẻ 24 - 36 tháng tuổi những kỹ năng sống như vậy có quá sớm không, trẻ có thực hiện được không? Thật ra việc học kinh nghiệm sống với trẻ chẳng bao giờ là sớm, có hàng trăm kỹ năng sống cần thiết với trẻ. Tùy theo lứa tuổi của trẻ, để chọn ra nội dung chương trình dưới nhiều hình thức khác nhau. Người giáo viên phải có nhiệm vụ quan trọng để lựa chọn, xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi. Là một giáo viên mầm non, hàng ngày trực tiếp chăm sóc giáo dục trẻ, ngoài việc tổ chức tốt các hoạt động trong ngày, tôi luôn quan tâm giúp trẻ hình thành nhân cách, cách ứng xử với con người, với thiên nhiên, giúp trẻ những kiến thức ban đầu về kỹ năng sống, giúp trẻ phát triển hài hòa cân đối giữa các mặt để khi lớn tuổi hơn trẻ không bỡ ngỡ, xa lạ trước những cuộc sống mới lạ xung quanh. Trẻ sẽ học tốt nhất khi có được một cách tiếp cận cân bằng về các mặt, các kỹ năng nhận thức, tình cảm quan hệ xã hội, các hành vi ứng xử cơ bản với bạn bè, cô giáo, trẻ sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng vào việc tập trung tiếp thu các kiến thức ở từng môn học một cách tốt nhất. Để việc thực hiện được thuận lợi tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm nhằm nắm được tình hình của trẻ và có kế hoạch dạy trẻ cho phù hợp.
  6. 6 BẢNG KHẢO SÁT TỈ LỆ TRẺ ĐẦU NĂM Số trẻ đầu năm: 32 trẻ Nội dung Số trẻ Tỉ lệ Kỹ năng tự phục vụ 22/32 69 % Kỹ năng giao tiếp 24/32 75 % Kỹ năng tự nhận thức 25/32 78 % Kỹ năng hợp tác 22/32 63 % Qua bảng khảo sát trên tôi thấy các kỹ năng sống cơ bản của trẻ còn khá thấp, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng hợp tác của trẻ còn hạn chế, kỹ năng giao tiếp của trẻ với mọi người xung quanh còn chưa linh hoạt, chưa nhanh nhẹn, khả năng tự nhận thức của trẻ chưa cao nên tôi luôn băn khoăn làm sao để tỉ lệ các kỹ năng sống đó được nâng cao lên. Tôi đã lựa chọn một số kỹ năng sống cơ bản để cung cấp cho trẻ 24 - 36 tháng tuổi và nghiên cứu xây dựng kế hoạch hoạt động để lập ra ngân hàng kỹ năng phù hợp nhằm hình thành cho trẻ các kỹ năng cơ bản cần thiết, cụ thể như sau: Kỹ năng Nội dung lựa chọn - Biết cất dép đúng nơi quy định - Biết cất ba lô đúng tủ của mình còn tủ của bạn nào cao quá thì trẻ sẽ chỉ tủ của trẻ để cô giúp đỡ. - Biết bê ghế về tổ, về bàn. Tự phục vụ - Biết nhặt cơm rơi vãi vào khay. - Đa số trẻ biết tự súc cơm ăn. - Biết lấy và cất đồ dùng đồ chơi đúng nơi quy định. - Biết lấy khăn, cốc để dùng. - Bước đầu biết cách xưng hô chào hỏi cùng cô và một số trẻ tự xưng hô tốt với người khác khi không có cô giúp đỡ. Giao tiếp - Biết lắng nghe cô nói và trả lời câu hỏi của cô khi được hỏi. - Trẻ mạnh dạn tự tin khi giao tiếp với mọi người. - Trẻ tò mò ham hiểu biết, thích khám phá thế giới xung quanh. - Trẻ nhận biết được tên, tuổi của mình, người thân và địa chỉ Tự nhận thức gia đình, biết được tên trường, tên lớp và tên cô giáo, biết được tên những người xung quanh khi được hỏi đến. - Trẻ biết kết hợp với bạn khi chơi. - Trẻ biết đoàn kết với bạn. Hợp tác - Trẻ có thái độ cư sử đúng mực với bạn và mọi người xung quanh.
  7. 7 * Kết quả: Với biện pháp trên tôi đã xác định được một số kỹ năng sống cơ bản, cần thiết và quan trọng với trẻ, lập ra được một ngân hàng kỹ năng sống theo từng tháng, từng tuần để phục vụ cho việc rèn kỹ năng, thực hành kỹ năng sống cho trẻ nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện về năm mặt: Đức, trí, thể, mỹ, lao động (tài liệu tại phụ lục). 2. Dạy thực hành các kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động. Trong việc cung cấp các kỹ năng sống cho trẻ, tôi vẫn luôn lấy trẻ làm trung tâm, giáo viên là người trực tiếp định hướng những kinh nghiệm sống cho trẻ. Bởi vậy, tôi luôn gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ. 2.1. Dạy thực hành các kỹ năng sống cho trẻ thông qua các bài thơ, câu chuyện. Có thể nói, đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng nói riêng thì những tác phẩm văn học luôn luôn có một sức hút rất lớn đối với trẻ. Chính vì vậy, trong năm học này tôi đã cố gắng lựa chọn những bài thơ, câu chuyện phù hợp lứa tuổi và đặc biệt hơn là chúng đều mang nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Qua đây, tôi dạy trẻ biết yêu thương ông bà, bố mẹ, biết chơi đoàn kết với bạn, giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn hơn nữa còn gợi mở ở trẻ tính tò mò, ham học hỏi. Ví dụ: Cô kể chuyện “ Vườn hoa nhà bé Bi” cô đưa ra các câu hỏi gợi mở: - Nhà bé Bi có vườn gì? - Ai đã cùng bé Bi tưới nước cho hoa? - Vườn hoa nhà bé Bi có những loại hoa gì? Câu chuyện giáo dục trẻ biết quan tâm, chia sẻ với mọi người bằng những việc nhỏ vừa sức của mình. (Hình ảnh 2.1.1) Ngoài hoạt động học tôi còn tận dụng những khoảng thời gian khác để kể chuyện cho trẻ nghe như: Trong giờ hoạt động góc, trước khi trẻ ngủ, trong giờ chơi tự do theo nhóm...kể cho trẻ nghe các câu chuyện về tinh thần đoàn kết hợp tác với nhau, bé đi học không khóc nhè, bé là bé ngoan, bé vui đến trường, bé biết vâng lời, tình cảm yêu quý bạn bè, tình cảm gia đình, bé yêu lao động, tính trung thực như: chuyện: “Đôi bạn tốt”, “Vịt con nói dối”, “Mời bạn đến chơi nhà”, “Vì sao bé Bin nín khóc”, “Con yêu mẹ lắm”. (Hình ảnh 2.1.2) VD: Khi trẻ mới đi học cô có thể kể cho trẻ nghe câu truyện “Vì sao bé Bin nín khóc” để trẻ hiểu được nội dung và trẻ đi học sẽ không khóc nhè nữa. (Hình ảnh 2.1.3)
  8. 8 VD: Khi tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện “Vịt con nói dối” thông qua nội dung truyện trẻ biết được trong cuộc sống trẻ không nên nói dối, phải thật thà từ đó giáo dục kỹ năng sống như tính trung thực cho trẻ trong cuộc sống hàng ngày. (Hình ảnh 2.1.4) * Kết quả: Trẻ tích cực trong các giờ hoạt động cùng cô và bạn, trẻ biết thể hiện tình cảm với bà, mẹ, cô giáo, biết chia sẻ đồ chơi với bạn, xin lỗi bạn ... ( Hình ảnh 2.1.5) 2.2 Dạy thực hành các kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động ngoài trời. Hoạt động ngoài trời là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ. Bởi thông qua đó trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu không khí trong lành, đồng thời được khám phá, thoả mãn trí tò mò của trẻ. Với trẻ nhà trẻ, đây là giai đoạn phát triển quan trọng trong cuộc đời của bé. Ở giai đoạn này, trẻ hình thành, phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội, phát triển về mặt tư duy, trí tuệ, thể chất và nhiều kỹ năng khác. Nếu không được tham gia các hoạt động ngoài trời, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kỹ năng giao tiếp của trẻ, có thể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng Vì vậy, trong các hoạt động dạy kỹ năng sống cho trẻ không thể thiếu các hoạt động ngoài trời. Đây là một trong những hoạt động vui chơi mà trẻ hứng thú nhất, mang lại cho trẻ nhiều niềm vui và kiến thức cần thiết về thế giới xung quanh trẻ. Có nhiều phụ huynh cho con đến trường ăn sáng rồi vứt luôn vỏ hộp sữa, túi ni lông ra sân trường, hành lang, thậm chí là nhét vào khe cầu thang rất mất vệ sinh và gây nhiều khó khăn cho cô lao công. Mặc dù trường đã đầu tư nhiều thùng rác thân thiện nhưng phụ huynh vẫn còn hiện tượng chưa thực sự chú ý đến con, để con mang đồ ăn đến trường rồi ăn xong vứt rác không đúng chỗ. Hơn nữa, còn ảnh hưởng đến nhận thức của trẻ trong việc giữ vệ sinh nơi công cộng. Vì vậy, khi tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ tôi thường lồng ghép hoạt động lao động tập thể vào mỗi chủ đề như: Cho trẻ tham gia nhặt lá cây, vỏ hộp sữa trên sân trường, qua đó giúp trẻ hình thành thói quen văn minh, biết giữ vệ sinh chung. Sau nhiều lần tổ chức như vậy, trẻ lớp tôi đã có thể tự bỏ rác vào đúng nơi quy định hay cũng tự nhặt các vỏ hộp sữa hoặc túi ni lông bỏ vào thùng rác khi thấy chúng ở trên sân trường. Nhờ vậy nên sân trường tôi giờ đây rất sạch sẽ, các cháu có thể thỏa sức vui chơi, tình trạng vứt rác bừa bãi đã được hạn chế rất nhiều. (Hình ảnh 2.2.1); (Hình ảnh 2.2.2) Ngoài ra, sân trường tôi sau khi được cải tạo lại đã có rất nhiều không gian xanh để trồng cây, trồng hoa tạo điều kiện thuận lợi cho việc quan sát của trẻ khi
  9. 9 tham gia hoạt động ngoài trời. Hơn nữa, nhà trường đã phân cho mỗi lớp một ô đất khá rộng để trồng hoa. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của phụ huynh, sau một thời gian ngắn lớp chúng tôi đã có được luống hoa cẩm chướng rất nhiều màu sắc khiến cho sân trường rực rỡ hẳn lên. Không những thế trẻ còn được tham gia cùng các cô chăm sóc vườn hoa của lớp, tạo cho trẻ có ý thức bảo vệ cây xanh từ khi còn rất nhỏ. Khi tổ chức hoạt động có chủ đích tôi thường đưa ra các câu hỏi, các tình huống để trẻ có thể hiểu hơn và giải quyết tình huống tốt hơn qua đó giúp trẻ có các kỹ năng giao tiếp phù hợp với lứa tuổi. VD: Khi cho trẻ quan sát vườn hoa tôi thường đặt ra những câu hỏi mang tính gợi mở để cho trẻ suy nghĩ trả lời như: - Có ai biết đây là hoa gì ? - Hoa có màu sắc như thế nào ? - Con ngửi xem hoa có mùi như thế nào ? - Con sẽ làm gì để vườn hoa luôn đẹp ? Khi đó trẻ sẽ suy nghĩ để có trẻ trả lời được các câu hỏi của cô, trẻ thảo luận về các câu trả lời với các bạn trong lớp sẽ giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp. Ngoài ra, trẻ sẽ dễ dàng thích nghi, hòa nhập khi đến các môi trường khác. (Hình ảnh 2.2.3) Ngoài ra khi trẻ tham gia vào hoạt động có chú đích, trẻ có thêm một số kinh nghiệm sống, hình thành những thói quen tốt như: Biết giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, yêu thiên nhiên, biết chăm sóc và bảo vệ cây không ngắt lá bẻ cành cây. * Kết quả: Thông qua việc tổ chức các trò chơi vận động và chơi tự do sẽ hình kỹ năng hợp tác ở trẻ như biết chơi cùng bạn, biết nhường nhịn, không chen lẫn xô đẩy khi chơi. Để phát triển kỹ năng này được tốt ở trẻ, tôi thường tạo ra tình huống, yêu cầu, trò chơi mà cần đến sự hợp tác của 2 nhóm bạn để trẻ cùng nhau giải quyết vấn đề. 2.3. Dạy thực hành các kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi. Với đặc điểm của trẻ nhà trẻ: “Học mà chơi, chơi mà học”. Chơi là một trong các hoạt động học tập chủ đạo có tác dụng to lớn đối với sự phát triển toàn diện về nhân cách con người. Thông qua hoạt động vui chơi còn hình thành ở trẻ những chức năng tâm lý, những cơ sở ban đầu của nhân cách con người. Với trẻ nhà trẻ, việc học qua chơi khiến trẻ cảm thấy thích thú, trẻ cảm thấy việc tiếp thu kiến thức sẽ nhẹ nhàng thoải mái mà không bị gò bó vì vậy tôi luôn cố gắng tạo các tình huống chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Trẻ khám phá thông qua trò chơi, các hành động chơi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng.
  10. 10 Trong hoạt động vui chơi trẻ có thể tích lũy được kinh nghiệm, kỹ năng sống đó là qua giờ hoạt động vui chơi của trẻ. Trẻ được chơi ở các góc, chơi tức là trẻ đang được nhập vai, trẻ đang được học làm giống như người lớn, thông qua các góc chơi: Bé và búp bê, góc vận động, góc sách truyện, góc di màu... * Ví dụ 1: Ở góc bé và búp bê: Thông qua cách đóng vai trẻ học được các kỹ năng: Giao tiếp, ứng sử, biết cách xưng hô, thể hiện tình cảm, biết quan tâm đến mọi người như bế em, ru em ngủ, xúc bột cho búp bê ăn, thay quần áo cho búp bê. * Ví dụ 2: Ở góc vận động giáo viên tổ chức chơi trò chơi lăn bóng cho bạn, ... giúp trẻ có kỹ năng chơi và sống với nhau gắn bó đoàn kết với bạn và mọi người xung quanh. Hay ở góc tranh truyện, bé được nghe cô kể các câu truyện giúp trẻ hình thành các kỹ năng như biết yêu thương đoàn kết khi chơi với bạn, biết giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn... (Hình ảnh 2.3) * Kết quả: Qua hoạt động vui chơi không những dạy cho trẻ những thói quen tốt mà còn tạo cho trẻ có nề nếp và thói quen lấy, cất đồ dùng, đồ chơi đúng nơi quy định. 2.4. Dạy thực hành các kỹ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh Hoạt động ăn, ngủ và vệ sinh ở trường mầm non chiếm một khoảng thời gian tương đối lớn, đặc biệt là với trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi. Thường thì mọi người cho rằng đến giờ thì cô cho trẻ ăn, ngủ, nhưng ăn, ngủ, vệ sinh như thế nào thì không phải ai cũng biết và quan tâm. Thường thì phụ huynh chỉ quan tâm xem con mình ăn được bao nhiêu? ngủ có ngon giấc không? mà không bao giờ hỏi xem con mình có thói quen ăn uống vệ sinh, văn minh hay không. Bởi vậy ngay từ đầu năm học tôi đã luôn chú ý tới giờ ăn của trẻ, đặc biệt là những trẻ có thói quen ăn uống không tốt từ ở nhà do được bố mẹ nuông chiều như: Trẻ chỉ ăn khi xem ti vi, vừa chơi đồ chơi vừa ăn hoặc có trẻ phải “ăn rong” Đầu tiên tôi có thể chiều theo các ý muốn không tốt của trẻ bởi trẻ vừa xa rời vòng tay yêu thương của bố mẹ, trẻ cần có khoảng thời gian nhất định để làm quen. Sau một thời gian, tôi cắt dần những thói quen không tốt của trẻ, cho trẻ làm quen dần với chế độ sinh hoạt của nhà trẻ, lôi cuốn trẻ vào những bữa cơm thật vui vẻ, thoải mái và tự nguyện. Trước khi ăn cơm tôi cho trẻ lau mặt, rửa tay, với những trẻ sinh đầu năm tôi hướng dẫn và cùng rửa tay với trẻ chứ không đơn thuần là cô giúp trẻ rửa tay nữa. Tôi luôn nhắc trẻ mời cô và các bạn ăn cơm, biết nhặt cơm rơi vãi vào khay, biết tự xúc cơm ăn, biết cách cầm thìa thế nào cho đúng và trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất của mình.
  11. 11 Trong giờ ăn, trẻ còn được làm quen với những đồ dùng ăn uống và phân biệt, nhận biết những đồ dùng này qua giờ nhận biết tập nói ở tháng “mẹ và những người thân yêu của bé”. Trẻ sẽ nhận biết tốt hơn cụ thể hơn nữa vì đó là qua giờ ăn của trẻ giúp trẻ nhận biết và sử dụng đúng các chức năng của các đồ dùng đó đúng như: thìa để xúc cơm, bát để đựng cơm và thức ăn, khay để cơm rơi vãi và khăn lau tay... từ đó cũng như giúp trẻ có những hành vi ăn uống như: Tự xúc cơm ăn, ăn từ tốn, không làm vãi cơm, nếu có vãi thì nhặt vào khay, vỏ hoa quả, bánh kẹo thì vứt vào thùng rác tất cả những yếu tố trên sẽ giúp trẻ có thói quen tốt để hình thành kỹ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng sống tự lập sau này. (Hình ảnh 2.4.1 .2.4.4) Tôi cũng đặc biệt quan tâm đến giờ ngủ của trẻ. Trước khi ngủ tôi cho trẻ xếp hàng tự đi lấy gối của mình để về chỗ ngủ. Trong giờ ngủ tôi luôn bật cho trẻ nghe những bài hát ru, qua đó trẻ được giáo dục về tình yêu quê hương đất nước, yêu gia đình, yêu thương những người xung quanh từ đó trẻ biết sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Kỹ năng, thói quen vệ sinh là một trong những kỹ năng không thể thiếu của trẻ. Để trẻ cảm thấy không sợ hãi khi đi vệ sinh ngay từ đầu năm học chúng tôi đã xây dựng mô hình “ Nhà vệ sinh an toàn - thân thiện” với không gian rộng rãi thoáng mát, với hai phòng vệ sinh riêng biệt một nam, một nữ. Ở mỗi phòng vệ sinh đều có dụng cụ vệ sinh hiện đại cùng áp phích thể hiện rõ 6 bước rửa tay của bộ y tế. Chúng tôi đã sưu tầm nhiều cây xanh, một loa nhỏ phát ra âm nhạc nhẹ nhàng, nền nhà khô thoáng sạch sẽ. Với mô hình này trẻ lớp tôi có thói quen vệ sinh rất tốt. (Đường limk 2.4.5) * Kết quả: Hiện tại hầu hết trẻ lớp tôi đều có kỹ năng trong hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh như: Trẻ cầm thìa tự xúc ăn, trẻ nhặt cơm rơi cơm vãi vào khay, trẻ lấy gối, trẻ có thói quen đi vệ sinh đúng nơi quy định.... 2.5 Dạy thực hành các kỹ năng sống thông qua hoạt động đón, trả trẻ. Qua giờ đón trả trẻ tôi thường dạy trẻ một số kỹ năng tự như: Trẻ tự cất dép đúng nơi quy định, trẻ cất ba lô đúng nơi quy định qua đó trẻ biết tự phục vụ mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ của người lớn Khi mà trẻ tự cất ba lô, trẻ biết được đó là ngăn tủ để đựng đồ dùng cá nhân của mình hàng ngày, trên đó cô giáo có dán tên và ký hiệu để trẻ dễ nhớ và nhận ra tủ của mình. (Hình ảnh 2.5.1) Ngày đầu đi học trẻ đã được cô giáo hướng dẫn cất dép ở đâu để cho gọn gàng ngăn nắp và giờ trẻ đã tự giác khi bước chân vào lớp cất dép như thế nào cho đúng quy định . (Hình ảnh 2.5.2)