Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo 3 - 4 tuổi, thông qua hoạt động kể chuyện
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo 3 - 4 tuổi, thông qua hoạt động kể chuyện", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_c.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo 3 - 4 tuổi, thông qua hoạt động kể chuyện
- + Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là phương pháp điều tra khảo sát, quan sát thực tế, thu thập thông tin. + Phương pháp xử lý thống kê, sử lý số liệu: Là sử dụng phương pháp toán để đánh giá kết quả tổng hợp những kinh nghiệm giảng dạy, từ đó rút ra những quy luật, hình thành và phát tiển của đề tài nghiên cứu II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở trường Mầm non Trong quá trình rèn kỹ năng sống cho trẻ nhằm thực hiện tốt hình thức dạy học “ Lấy trẻ làm trung tâm”, tôi đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau: Thuận lợi : * Năm học 2022 tôi được ban giám hiệu nhà trường phân công vào lớp 3-4 tuổi Lớp C1 với tổng 30 cháu -Lớp học được phân chia theo đúng độ tuổi nên thuận lợi cho việc rèn luyện và chăm sóc, nuôi dưỡng , giáo dục trẻ. - Là giáo viện trực tiếp đứng lớp, với sĩ số 29 trẻ, nhìn chung các cháu đều khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, nên tôi nắm vững khả năng ngôn ngữ và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nhất là trẻ 3 - 4 trẻ -Những năm học gần đây trường không những thu hút con em trong xã mà còn thu hút được trẻ ở các xã lân cận. Và ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức cũng như năng lực chuyên môn cho giáo viên, thường xuyên xây dựng, tổ chức tiết mẫu, tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề, để giáo viên được dự giờ, trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn và các đồng chí đồng nghiệp. -Đa số phụ huynh quan tâm đưa trẻ đến trường đúng độ tuổi, chăm sóc giáo dục trẻ theo khoa học, thực hiện tốt công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường và đa số trẻ có nề nếp thói quen trong sinh hoạt cũng như học tập, tích cực tham gia vào các hoạt động . * Cơ sở vật chất: - Lớp học luôn được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường đầu tư cơ sở vật chất - Phòng học rộng rãi, thoáng mát, có sân chơi sạch sẽ thuận tiện cho việc tiến hành các hoạt động học tập vui chơi của trẻ. * Giáo viên -Lớp có 2 giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn tìm tòi các tài liệu trên mạng hay trong sách báo để nắm bắt những cái mới để phục cho việc chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn. * Học sinh và phụ huynh - 100% trẻ ăn ngủ tại lớp nên dễ dàng, thuận tiện trong việc giáo dục phát triển cho trẻ mọi lúc mọi nơi. - Đa số phụ huynh phối kết hợp tốt với giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. 3
- b. Khó khăn: * Cơ sở vật chất: +Bên cạnh những thuận lợi trên nhà trương cũng gặp không ít khó khăn như: - Đồ dùng, đồ chơi tương đối đầy đủ, nhưng đang con hạn chế về đồ dùng phục vụ tiết dạy còn thiếu như vật mẫu, đồ dùng đồ chơi ít, máy chiếu ít. - Do một số trẻ sinh vào cuối năm nên tư duy của trẻ còn hạn chế, một số trẻ phát âm chưa được chuẩn, chưa mạch lạc, chưa rõ ràng nhiều khi thiếu chính xác. Mặt khác, trẻ còn phát âm sai, nói ngọng, nói lắp, hoặc đọc sai đọc sai do ảnh hưởng ngôn ngữ tiếng địa phương và người lớn xung quanh trẻ. -Đây cũng là một trong những nguyên nhân, làm hạn chế việc phát triển ngôn ngữ của trẻ, thông qua việc cho trẻ làm quen tác phẩm văn học đặc biết đối với thể loại kể chuyện -Từ những khó khăn trên là một giáo viên chủ nhiệm lớp 3 - 4 tuổi, đầu năm tôi đã tiến hành khảo sát trẻ lớp tôi với số trẻ là 33 cháu, về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ qua làm quen với tác phẩm văn học thông qua thể loại kể chuyện. * Học sinh: -Trẻ còn nói ngọng, nói lắp, chưa phát âm chuẩn nên gặp nhiều khó khăn khi kể lại chuyện. - Một số trẻ còn chưa hứng thú khi tham gia vào hoạt động kể chuyện. - Trẻ chưa mạnh dạn trong giao tiếp, do trẻ được nuông chiều thái quá * Phụ huynh:4 * Năm học 2022 tôi được ban giám hiệu nhà trường phân công vào lớp 3-4 tuổi Lớp C1 với tổng 30 cháu -Lớp học được phân chia theo đúng độ tuổi nên thuận lợi cho việc rèn luyện và chăm sóc, nuôi dưỡng , giáo dục trẻ. - Là giáo viện trực tiếp đứng lớp, với sĩ số 29 trẻ, nhìn chung các cháu đều khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, nên tôi nắm vững khả năng ngôn ngữ và đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nhất là trẻ 3 - 4 trẻ. -Những năm học gần đây trường không những thu hút con em trong xã mà còn thu hút được trẻ ở các xã lân cận. Và ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức cũng như năng lực chuyên môn cho giáo viên, thường xuyên xây dựng, tổ chức tiết mẫu, tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề, để giáo viên được dự giờ, trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn và các đồng chí đồng nghiệp. -Đa số phụ huynh quan tâm đưa trẻ đến trường đúng độ tuổi, chăm sóc giáo dục trẻ theo khoa học, thực hiện tốt công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường và đa số trẻ có nề nếp thói quen trong sinh hoạt cũng như học tập, tích cực tham gia vào các hoạt động . * Cơ sở vật chất: - Lớp học luôn được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường đầu tư cơ sở vật chất. 4
- - Phòng học rộng rãi, thoáng mát, có sân chơi sạch sẽ thuận tiện cho việc tiến hành các hoạt động học tập vui chơi của trẻ. * Giáo viên -Lớp có 2 giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn tìm tòi các tài liệu trên mạng hay trong sách báo để nắm bắt những cái mới để phục cho việc chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn. * Học sinh và phụ huynh - 100% trẻ ăn ngủ tại lớp nên dễ dàng, thuận tiện trong việc giáo dục phát triển cho trẻ mọi lúc mọi nơi. - Đa số phụ huynh phối kết hợp tốt với giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. b. Khó khăn: * Cơ sở vật chất: - Tài liệu tham khảo bồi dưỡng, phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi, đóng kịch, đóng vai các nhân vật. * Học sinh: -Trẻ còn nói ngọng, nói lắp, chưa phát âm chuẩn nên gặp nhiều khó khăn khi kể lại chuyện. - Một số trẻ còn chưa hứng thú khi tham gia vào hoạt động kể chuyện. - Trẻ chưa mạnh dạn trong giao tiếp, do trẻ được nuông chiều thái quá * Phụ huynh:5 - Đa số trẻ thuộc gia đình có bố mẹ làm công nhân và dịch vụ nên chưa nhận thức rõ về bậc học mầm non, ít có thời gian dành cho con, phần lớn đều do ông, bà đưa đón con đi học. - Vì vậy, việc thống nhất quan điểm, biện pháp giáo dục trẻ giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn 2. Một số biện pháp * Biện pháp 1: Xây dựng nề nếp, thói quen cho trẻ. Ngay từ ngày đầu vào năm học tôi đã chú trọng đến việc xây dựng nề nếp và thói quen cho trẻ. Một số trẻ ở trong lớp rất hiếu động, hay nói chuyện riêng trong giờ học, tôi xếp những cháu nghịch ngồi cạnh những cháu ngoan. Luyện cho trẻ những thói quen ngồi ngoan, chú ý, hứng thú trong giờ học, tạo cho trẻ cảm giác tự tin không sợ sệt, tạo không khí vui vẻ mạnh dạn khi phát biểu ý kiến. Hơn nữa trong giờ hoạt động tôi luôn luôn nhắc nhở trẻ luôn chú ý đến tư thế ngồi của trẻ, biết lắng nghe cô giáo khi đang giảng bài từ đó trẻ mới tập trung vào hoạt động và đạt được kết quả cao. Việc đưa trẻ vào các hoạt động và thông qua hoạt động để giáo dục trẻ ở mọi lúc, mọi nơi là một biện pháp tốt: Các hoạt động đón trả trẻ hàng ngày, hoạt động chơi tập, lao động vệ sinh...Đều là những dịp để trẻ bộc lộ cá tính cách ứng xử lời ăn tiếng nói của mình vì thế tôi luôn gần gũi để kịp thời phát hiện và uốn nắn những sai sót của trẻ trong hành vi, lời nói theo những tiêu chí của chuyên đề lễ giáo quy định. Giáo dục lễ giáo 5
- cho trẻ thường xuyên mọi lúc, mọi nơi là một trong những biện pháp chủ yếu đem lại những kết quả cao trong khả năng giao tiếp của trẻ. Chính vì thế tôi rất coi trọng đến việc tạo nề nếp thói quen cho trẻ và tôi đã thực sự thành công khi tổ chức hoạt động cho trẻ. Ví dụ: Trong lớp ngoài những trẻ ngoan, nghe lời cô giáo còn có một số trẻ rất hiếu động, hay nghịch không chú ý học bài thì bên cạnh việc khen ngợi những bạn ngoan ra tôi đặc biệt chú trọng việc tuyên dương đối với trẻ hay có thói quen nghịch như: Trong giờ học nếu trẻ đó ngoan giơ tay phát biểu bài dù là chưa đúng nhưng tôi vẫn động viên, khuyến khích trẻ bằng việc cho cả lớp tuyên dương trẻ một tràng pháo tay thật to. Hay cuối buổi học khi nêu gương, cắm cờ bé ngoan tôi nêu tên trẻ đó trước nếu hôm nay trẻ đó ngoan và cho trẻ đó lên cắm cờ bé ngoan trước. Chiều khi bố, mẹ trẻ đến đón tôi kể cho bố, mẹ trẻ nghe về những việc tốt hôm nay ở lớp của trẻ. Từ đó trẻ thấy thích thú khi được mọi người khen và trẻ sẽ ngoan hơn, chú ý hơn, tập trung trong giờ học. Qua việc xây dựng nề nếp thói quen cho trẻ, trẻ ngoan hơn và có thói quen nề nếp tốt hơn. Ảnh 1: Các con có nề nếp học tập * Biện pháp 2. Tạo môi trường cho trẻ hoạt động kể chuyện. Môi trường học tập cho trẻ góp phần tạo nên sự thành công trong công việc giáo dục trẻ làm quen với các hoạt động, các tác phẩm chuyện để trẻ đến với nội dung tác phẩm chuyện một cách nhanh nhạy, linh hoạt bởi hoạt động chủ đạo đối với nhà trẻ là hoạt động vui chơi, với chương trình giáo dục mầm non các góc mở được trang trí theo chủ đề, tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ khả năng, qua đó cung cấp, kỹ năng, thái độ cho trẻ, góp phần hình thành và phát triển khả năng kể chuyện cho trẻ tốt hơn. Mặt khác tôi luôn lồng ghép và tạo môi trường theo từng chủ đề. Ví dụ: Ở chủ đề “Trường mầm non” Đề tài chuyện“Đôi bạn tốt” Tôi trang trí tranh ảnh những con vật ngộ nghĩnh như: Con vịt, con gà...để cho trẻ hiểu được nội dung của chủ đề. Từ đó sẽ gây được hứng thú cho trẻ vào hoạt động kể chuyện. Ví dụ: Ở chủ đề “Thực vật - Tết và mùa xuân” Đề tài “Mùa xuân đã về”. Tôi đã cùng trẻ trang trí ở các góc cho nổi bật chủ đề đặc biệt các góc “kể chuyện cùng họa my” tôi trang trí tranh, ảnh sách báo có hình ảnh về các loại hoa như: Hoa đào, hoa mai, hoa cúc... Với việc linh hoạt lồng ghép các hoạt động đã kích thích trẻ tự tìm hiểu, phát hiện ra các chức năng sử dụng đồ dùng, đồ chơi, tránh sự đơn điệu, nhàm chán, tạo cho trẻ sự hấp dẫn mới lạ, giúp cho trẻ dễ tiếp thu bài học. Các mảng tường trống cũng được tận dụng để trang trí phù hợp với chủ đề bé học, từ đó trẻ có thể nhận biết các hoạt động của bé ở trường qua các mảng tường trang trí của cô. Các sản phẩm của bé được trưng bày đó là một sự khích lệ với trẻ động viên để trẻ phấn đấu cố gắng trong các hoạt động. Tạo cho trẻ cảm nhận được “ Đi học là hạnh phúc và mỗi ngày đến trường 6
- là một ngày vui”, làm cho trẻ thêm yêu trường, yêu lớp, gắn bó với ngôi nhà chung đó chính là trách nhiệm của mỗi thày cô giáo nói chung và giáo viên mầm non nói riêng. Việc trang trí lớp học sao cho tự nhiên, biến không gian lớp học trở nên gần gũi, thân thiện có ý nghĩa giáo dục cho trẻ là việc làm không phải dễ. Bởi vậy tôi đã “ trang trí kết hợp giữa làm đẹp cảnh quan lớp học với yêu cầu phục vụ học tập của trẻ lớp mình”. Như vậy việc tạo cảnh quan thân thiện đối với trẻ giúp trẻ học tập một cách gần gũi thân thiện có tác dụng giúp trẻ đạt được các mục tiêu giáo dục. Và điều quan trọng hơn cả, thông qua việc cùng nhau trang trí lớp học hầu hết trẻ đều rất yêu thích đến trường vì nó đem lại cho trẻ nhiều điều bổ ích, như được bày tỏ những điều mình mong muốn, được trưng bày những sản phẩm mà mình đã làm ra và được làm chủ lớp học của mình. Qua đó giáo dục trẻ về các mối quan hệ khác nhau. Với cách làm này tôi thấy trẻ hứng thú vào hoạt động kể chuyện một cách sội động và hứng thú hơn. Ảnh 2: Hoạt động kể chuyện cho trẻ * Biện pháp 3 : Chuẩn bị nguyên vật liệu, cách làm đồ dùng và sử dụng đồ dùng trực quan. Đối với trẻ 3 - 4 tuổi đặc điểm của trẻ là nhận thức từ trực quan đến trìu tượng cho nên nếu không có trực quan thì trẻ khó tưởng tượng được. Mặt khác, sự chú ý của trẻ còn phân tán chưa bền vững, đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn sẽ thu hút sự tập trung chú ý của trẻ hơn. Vì vậy, để giờ học đạt kết quả cao thì hình tượng trực quan là rất quan trọng đối với trẻ, lời nói cụ thể và có hình ảnh trực quan minh họa của giáo viên giúp trẻ cảm nhận được tác phẩm văn học một cách dễ hiểu nhất. Đồ dùng trực quan có thể là tranh ảnh, rối rệt, mô hình, sa bàn, vật thật, sân khấu... Để làm được đồ dùng trực quan phù hợp, sinh động trước tiên tôi chú ý đến: - Chuẩn bị nguyên vật liệu. Trẻ mầm non, tri giác của trẻ phần lớn bằng những vật thật và bằng tranh ảnh, để giờ kể chuyện đạt hiệu quả cao hơn thì đồ dùng trực quan là khâu quan trọng nhất. Chính vì thế sau khi nắm bắt được tình hình thực tế của hoạt động làm quen với tác phẩm văn học thông qua kể chuyện, tôi nghĩ để có đồ dùng đẹp, sinh động, hấp dẫn đối với trẻ thì nguyên vật liệu là điều đầu tiên cần phải có. Vì thế tôi đã tận dụng các nguyên liệu vật liệu có sẵn ở địa phương như: ống lon, chai nhựa, sách báo, xốp, vải vụn, cành cây khô, quần áo cũ, xốp, len, hạt đậu...để tạo ra đồ chơi phục vụ cho tiết dạy. - Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp đảm bảo tính an toàn (Không có cạnh sắc nhọn) và vệ sinh cho trẻ (Không có bụi bẩn) - Nếu là tranh vẽ phải đẹp, phù hợp với câu chuyện, phía dưới có chữ to giúp cho việc phát triển từ của trẻ được thuận lợi. - Đồ vật thật có liên quan đến câu chuyện. 7
- - Cho trẻ xem các hình ảnh trên máy chiếu cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ, kết hợp với tổ chức trò chuyện, đàm thoại. Ví dụ: Chủ đề: “Trường mầm non” kể cho trẻ nghe câu chuyện “Đôi bạn tốt” - Tôi chuẩn bị sa bàn, tranh ảnh để trẻ được quan sát. Với cách sử dụng linh hoạt, sáng tạo giúp trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động nhằm phát triển vốn từ cho trẻ. Ví dụ: Chủ đề: “Thế giới động vật” kể cho trẻ nghe cậu chuyện “Dê con nhanh trí” - Cô chuẩn bị: Chú dê làm bằng rối vải để trẻ quan sát - Với cách này cô đưa chú dê rối vải ra cho trẻ quan sát và hỏi trẻ đây là con gì, Sau đó dẫn dắt vào bài. Ví dụ: Chủ đề: “Thực vật – tết và mùa xuân” khi kể chuyện “Củ cải trắng” - Chuẩn bị: Máy chiếu có chưa nội dung và hình ảnh các nhận vật trong chuyện Với cách sử dụng bằng máy chiếu tôi tạo cho trẻ được sự lôi cuốn và ghi nhớ các nhân vật được nhanh hơn. - Cách làm đồ dùng phục vụ dạy và học Dựa vào từng chủ đề tôi làm đồ dùng đồ chơi phù hợp với chủ đề đó và mỗi chủ đề có một bộ đồ chơi phục vụ cho quá trình giảng dạy và vui chơi tôi cho các trẻ vào hoạt động chơi để tạo ra những đồ chơi làm bằng lá cây, giấy vụn, hột hạt, vẽ và tô màu những bức tranh, những hình ảnh trẻ sưu tầm gợi mở cho trẻ tưởng tượng khi kể chuyện. - Từ những quần áo, vải vụn, ống giấy, tôi hướng trẻ làm ra những con dối thật xinh xắn từ những câu chuyện cổ tích mà trẻ học được, sáng tạo ra những nhân vật mà trẻ yêu thích. Ví dụ: Chủ đề “Trường mầm non” khi kể chuyện “Đôi bạn nhỏ” tôi đã làm đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ những quả bóng và những mảnh vải vụn để thành những con rối đẹp như: Rối gà, rối vịt... để phục vụ cho câu chuyện . - Khi kể chuyện tôi dùng những tranh ảnh màu sắc đẹp để gây hứng thú cho trẻ nghe, xem để trẻ biết cách sử dụng và giữ gìn đồ chơi. - Tôi sử dụng các nguyên vật liệu mở như: thanh tre, bìa cứng, gỗ, hộp xốp, đất nặn... để làm thành những con vật xinh xắn, trẻ cũng có thể sử dụng được để kể chuyện theo ý thích. Ngoài ra có những câu chuyện tôi sử dụng bằng mô hình và sa bàn, tôi còn chuẩn bị thêm sân khấu để biểu diễn, giao lưu kể chuyện. Tôi làm những con giống bằng vải vụn và bông cũ để phục vụ cho hoạt động kể chuyện, tôi còn khuyến khích, hướng dẫn để trẻ cùng làm với cô để tạo thành các nhân vật trong câu chuyện, bằng các trai lọ phế thải hay bằng bìa cứng, xốp, hột hạt... tôi đã hướng dẫn cho trẻ để trẻ cùng cô sáng tạo làm ra được những mô hình đẹp, sinh động, hấp dẫn gây được sự chú ý của trẻ vào giờ học, để giờ học mang lại kết quả cao hơn. Từ những hình thức trẻ tôi đã lôi cuốn trẻ vào được tiết học và nhằm giúp trẻ nhớ các nhân vật trong câu chuyện qua đồ chơi được nhanh hơn, khi nhìn các 8
- con rối trẻ có thể liên tưởng được đó là nhân vật nào trong câu chuyện nào. - Cách sử dụng đồ dùng trực quan. + Đối với trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi đồ dùng trực quan là phương tiện không thể thiếu, bởi đồ dùng trực quan là phương tiện hữu hiệu để phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Vì vậy mà cô phải chuẩn bị chu đáo đồ dùng trực quan trước khi dạy trẻ, đồ dùng trực quan đó là: (Vật thật, đồ chơi, tranh ảnh, máy chiếu, mô hình... ) Chuẩn bị các đồ vật đa dạng, đặc biệt các đồ vật gần gũi, đồ chơi có màu sắc, hình dạng phong phú, hấp dẫn đảm bảo tính khoa học, thẩm mỹ và an toàn. + Khi sử dụng đồ dùng trực quan cần sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, có thể sử dụng khi giới thiệu bài hoặc giảng giải nội dung, trích dẫn làm rõ ý và kết hợp với lời nói minh họa phù hợp. Ví dụ: Chủ đề: “Bản thân” Đề tài chuyện “Ngôi nhà ngọt ngào” Tôi sử dụng mô hình ngôi nhà làm bắng xốp và bánh kẹo thật trrang trí xung quanh để dẫn dắc vào bài sau đó tôi sử dụng sa bàn chuyện. Khi sử dụng sa bàn tôi kể đến nhân vật nào thì tôi đưa từng nhân vật đó ra để giới thiệu dẫn dắt trẻ chú ý và lôi cuốn trẻ theo trình tự nội dung cốt chuyện, từ đó gây sự hứng thú cho trẻ trong khi học. Song với hình thức tổ chức hiện nay, thời đại công nghệ tiên tiến. Việc sử dụng màn hình, máy chiếu cũng là một hình thức sử dụng trực quan đồng thời cũng là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giờ hoạt động. Thông qua những cảnh quay, đoạn băng được dàn dựng, hay những thước phim hoạt hình đưa lên màn hình sẽ tạo ra sự thay đổi, sự mới lạ cho trẻ. Những hình ảnh được đưa lên diễn tả các hoạt động của các nhân vật, cảnh vật xung quanh của cốt chuyện rất sống động, màu sắc đẹp, của hình ảnh đã lôi cuốn trẻ, giúp trẻ hứng thú tích cực tham gia vào hoạt động kể chuyện và ghi nhớ tên chuyện, tên tác giả, nội dung cốt chuyện. Ví dụ: Chủ đề: “Phương tiện giao thông” Khi dạy trẻ câu chuyện “Xe lu và xe ca” tôi đã xây dựng hình ảnh về con đường có các loại phương tiện giao thông để trẻ quan sát và đàm thoại về nội dung câu chuyện, qua hình ảnh từ máy chiếu trẻ rất hứng thú vào hoạt động và dễ nhớ nội dung cốt chuyện. Tôi sử dụng máy tính có thể linh hoạt di chuyển các hình ảnh có sẵn của nội dung câu chuyện tới trẻ, hay ta có thể đưa hình ảnh đã quay sẵn phù hợp với nội dung câu chuyện như thế rất thu hút và gây hưng thú hơn cho trẻ. Với hoạt động làm và sử dụng đồ dùng trực quan tôi đã nhận biết được tầm quan trọng trong tổ chức các hoạt động cho trẻ, mà đặc biệt là hoạt động kể chuyện. Chính vì thế tôi đã chuẩn bị đầy đủ đồ dùng trực quan và sử dụng một cách linh hoạt, nên đã đạt được hiệu quả cao. Qua đó trẻ hiểu nhớ được tên và hành động của nhân vật. Ảnh 3: Các nguyên vật liệu và đồ dùng trực quan 9
- * Biện pháp 4: Rèn luyện giọng đọc, giọng kể hấp dẫn và diễn cảm, xây dựng hệ thống câu hỏi đa dạng, phát triển được tư duy sáng tạo ở trẻ Thực tế đã chứng minh cho ta thấy một câu chuyện hay, một bài thơ hay khi đưa đến người đọc có hấp dẫn không một phần phụ thuộc vào giọng đọc của người thể hiện nó. Với trẻ nhà trẻ cũng vậy, muốn trẻ hứng thú, tập trung vào nghe truyện trước hết cô phải kể diễn cảm, kể hay. Vì vậy tôi đã rèn luyện giọng kể bằng một số biện pháp sau: - Xác định đặc trưng cơ bản giọng của từng nhân vật: Thông thường, giọng của nhân vật nhỏ tuổi thường cao, trong, nhịp điệu thanh. Giọng của người già trầm ấm, nhỏ hơn, nhịp điệu chậm. Ngữ điệu của lời dẫn chuyện đều đều, thong thả. Lời dẫn chuyện trong các câu chuyện cổ tích thường kéo dài, âm phát ra từ cổ họng và vòm họng, đưa người nghe về thế giới huyền bí xa xưa. Mặt khác thông qua kể chuyện là một kho tàng kiến thức không thể thiếu được trong mọi hoạt động và giao tiếp của trẻ. Vì tất cả chúng ta đều hiểu biết và giao tiếp bằng ngôn ngữ. Thông qua những câu chuyện mà cô đọc và kể cho trẻ nghe để diễn tả được nội dung của tác phẩm mà cô muốn truyền đạt. Vì vậy, việc sử dụng ngôn ngữ đọc, kể diễn cảm, có sức thu hút, lôi cuốn trẻ say mê với tác phẩm văn học, giúp trẻ nhớ lâu, nhớ sâu tác phẩm. Đối với hoạt động kể chuyện để giúp trẻ cảm thụ tác phẩm chuyện và đạt kết quả tốt nhất. Khi cô kể phải thể hiện được vai của từng nhân vật trong chuyện, từ nhân vật trong chuyện để khi truyền thụ đến trẻ hấp dẫn, thu hút trẻ vào giờ học mà trẻ không bị nhàm chán. Khi thực hiện một hoạt động kể chuyện phải nói nhẹ nhàng, tình cảm, dễ nghe và chuẩn tiếng phổ thông. Để giọng kể được tốt hơn tôi đã luyện bằng cách: Mỗi buổi sáng, sau khi thức dậy, tôi thường luyện thanh quản bằng một một đoạn chuyện kết hợp với việc chuẩn bị đến trường mà không ảnh hưởng đến thời gian của mình. Biện pháp đó vừa giúp tôi luyện được giọng của mình lại vừa giúp tôi nhớ và thuộc câu chuyện đó một cách nhanh hơn. Để thực hiện được sắc thái tình cảm nhân vật, tôi tập thể hiện bằng ánh mắt theo từng nhân vật. Ngoài ra, tôi có thể luyện tập bằng cách soi gương để thể hiện cử chỉ điệu bộ, rèn ngữ điệu nhân vật sao cho phù hợp. Cũng có một cách để ta luyện giọng đó là ta lắng nghe chương trình “Kể chuyện đêm khuya” trên rađio hay các chương trình trên ti vi. Khi chúng ta nghe các nghệ sĩ kể truyện chúng ta chú ý đến giọng điệu cơ bản của tác phẩm văn học, ngữ điệu, cách ngắt giọng, nhịp điệu cường điệu của âm thanh ngôn ngữ để chúng ta học cách đọc, kể diễn cảm các tác phẩm chuyện. - Xây dựng hệ thống câu hỏi đa dạng, phát triển tư duy sáng tạo ở trẻ. Câu hỏi cô đưa ra sao cho đa dạng, hệ thống câu hỏi mở có tính kích thích, tư duy với trẻ. Tránh đặt những câu hỏi chỉ trả lời có hoặc không, hoặc chỉ trả lời kết quả đơn giản. Vì vậy tôi đã chuẩn bị hệ thống câu hỏi trước, câu hỏi đặt ra chính xác, phù hợp nội dung chuyện, dễ hiểu đối với trẻ. Ví dụ: Chủ đề “Bản thân”. Khi kể cho trẻ nghe câu chuyện "Ngôi nhà ngọt 10
- ngào" Tôi có chuẩn bị hệ thống câu hỏi như sau: + Các con vừa được nghe cô kể câu chuyện gì? + Trong câu chuyện có những nhân vật nào? + Hai bạn không thích ăn cơm, không thích ăn rau, mà hai bạn chỉ thích ăn gì? + Sau khi ăn xong hai bạn vác cái bụng lặc lè ra về thì bị làm sao? Đề nhiều cháu được trả lời, tôi chọn cùng một nội dung hỏi nhưng hỏi bằng nhiều cách khác nhau nhằm giúp trẻ làm quen với cách đặt câu hỏi và mở rộng hiểu biết về ngữ, nghĩa của câu. Khi tổ chức đàm thoại, để nhiều trẻ trong lớp được trả lời, quá trình trẻ trả lời đó chính là cơ hội để ngôn ngữ của trẻ phát triển, đồng thời kích thích trẻ suy nghĩ và tìm phương án và dần hình thành cho trẻ có nề nếp, ý thức học tập. Vì vậy trong đàm thoại, tôi luôn cho trẻ nhắc lại đáp án. Xong ở nhiều dạng khác nhau, tránh ngữ điệu, nhịp điệu trong lớp đều đều. - Tạo tình huống để trẻ đặt câu hỏi ngược lại cô. - Đối với trẻ 3 - 4 tuổi, việc đặt câu hỏi ngược lại là vấn đề khó với trẻ, xong tôi suy nghĩ cần tạo ra tình huống để trẻ hỏi, quá trình trẻ hỏi cô cũng là hình thức trẻ tập nói, rèn khả năng tư duy, hình thành cách đặt câu và tư duy logic ở trẻ. Bằng cách hướng dẫn như vậy nên trẻ được tập nói nhiều, cô luôn luôn tạo tình huống để trẻ tư duy và tìm phương án trả lời cô, như vậy trẻ đã sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt. Từ đó, vốn ngôn ngữ của trẻ phong phú hơn. Ảnh 4 Rèn luyện giọng đọc, giọng kể hấp dẫn và diễn cảm, xây dựng hệ thống câu hỏi đa dạng, phát triển được tư duy sáng tạo ở trẻ 3.Kết quả đạt được: Kết quả tính đến tháng 11/2022 Khi chơi với Công việc học Nội dung khảo sát Tình cảm bạn tập Kết quả Số trẻ 29/33 26/33 27/33 đạt được sau khi thực hiện đề tài Tỷ lệ (%) 88 79 83 11
- - Kết quả trên trẻ: * Về phía trẻ: -Đa số trẻ trong lớp phát triển theo hướng tích cực, kỹ năng giao tiếp tốt nên các buổi học luôn đạt kết quả tương đối cao. * Về phía giáo viên: -Giáo viên trau dồi, bồi dưỡng thêm nhiều kiến thức, kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ, tích cực phát huy lựa chọn, sáng tạo các hình thức, phương pháp dạy. Từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao nghệ thuật xử lí tình huống linh hoạt, sáng tạo lồng ghép nội dung giáo dục phù hợp để giúp trẻ phát triển được ngôn ngữ trong câu chuyện * Về phía phụ huynh: Như vậy trường mầm non và gia đình trẻ cần phải phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong mọi hoạt động, thể hiện tốt vai trò liên kết giữa gia đình và nhà trường để cùng nhau nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. 12
- III. PHẦN KẾT LUẬN Sau khi áp dụng đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi, thông qua hoạt động kể chuyện”, tôi tự rút ra cho mình như sau: -Luôn làm đúng theo sự chỉ đạo của cấp trên, thực hiện nghiêm chỉnh lịch sinh hoạt một ngày của trẻ. -Giáo viên cần phải tích cực học tập, tự bồi dưỡng chuyên môn cho bản thân, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp và biết lắng nghe ý kiến đóng góp của mọi người. -Luôn luôn tự rèn luyện tu dưỡng đạo đức cho bản thân. -Khi tổ chức các hoạt động cần lấy trẻ làm trung tâm và luôn lắng nghe ý kiến của trẻ. -Cần tìm hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ để đưa ra những phương pháp cũng như hình thức và biện pháp thực hiện giáo dục một cách linh hoạt sáng tạo. -Làm tốt công tác phối kết hợp giữa giáo viên và phụ huynh trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. Tôi xin chân thành cảm ơn! 13

