Tóm tắt SKKN Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh Lớp 7

doc 27 trang Chăm Nguyễn 19/07/2026 460
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt SKKN Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh Lớp 7", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctom_tat_skkn_ren_ki_nang_ung_xu_trong_giao_tiep_cho_hoc_sinh.doc

Nội dung tài liệu: Tóm tắt SKKN Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh Lớp 7

  1. trường THCS Phú Yên đã có nhiều chuyển biến tích cực trong kỹ năng giao tiếp, cụ thể như sau: - Học sinh có kĩ năng giao tiếp cũng như các kĩ năng khác, các em học sinh đã mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp hơn đặc biệt những bạn học sinh còn nhút nhát trong lớp đã hòa nhập vào tập thể. - Lớp học ngày càng thân thiện, đoàn kết hơn, mọi hành vi cử chỉ đẹp được hình thành và nhân rộng. - Chất lượng học tập cũng dần được nâng lên một cách rõ rệt. - Giáo viên chủ nhiệm dễ dàng hơn trong việc rèn nề nếp lớp tự quản. - Mối quan hệ cô-trò thân thiện, học sinh quý mến thầy cô, tạo hứng thú học tập cho học sinh. - Học sinh nhận thức được một số kĩ năng ứng xử trong giao tiếp. Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Phú Yên, ngày 10 tháng 4 năm 2023 Người nộp đơn Lê Thị Minh Hằng
  2. UBND HUYỆN PHÚ XUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THCS PHÚ YÊN Độc lập – Tự do - Hạnh phúc Phú Yên, ngày 10 tháng 4 năm 2023 BÁO CÁO TÓM TẮT Sáng kiến kinh nghiệm “Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh lớp 7” I. Sơ lược lí lịch - Họ và tên: LÊ THỊ MINH HẰNG Giới tính: Nữ - Ngày, tháng, năm sinh: 03/9/1994 - Quê quán: Thôn Trung Lập - Xã Tri Trung - Huyện Phú Xuyên - Thành phố Hà Nội. - Địa chỉ thường trú: Thôn An Khoái - Xã Phúc Tiến - Huyện Phú Xuyên - Thành phố Hà Nội. - Nơi công tác hiện nay: Trường THCS Phú Yên huyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội. - Chức vụ: Giáo viên - Trình độ chuyên, nghiệp vụ: Đại học SP Sử II. Sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh lớp 7” 1. Tên, lĩnh vực thực hiện sáng kiến đề nghị xem xét: “ Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh lớp 7” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chủ nhiệm 3. Các thành viên tham gia nghiên cứu sáng kiến: Lê Thị Minh Hằng – Giáo viên trường THCS Phú Yên, huyện Phú Xuyên thành phố Hà Nội. 4. Thời gian thực hiện: Từ năm học 2021 - 2022 đến tháng 3 năm 2023. 5. Quyết định công nhận sáng kiến cơ sở: Có bản phô tô gửi kèm hồ sơ. 6. Mô tả sáng kiến kinh nghiệm
  3. 2 PHẦN A. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Giao tiếp chính là động lực thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, trong đó văn hóa ứng xử đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thanh nhân cách của học sinh. Hiện nay trong các nhà trường, hiện tượng học sinh đánh nhau dùng điện thoại quay tung lên mạng xã hội ngày càng nhiều. Điều này có thể thấy bạo lực học đường đáng mức báo động. Giao tiếp thiếu văn hóa là tình trạng xuống cấp của văn hóa học đường được hiểu là tình trạng xuống cấp trong lối giao tiếp ứng xử giữa học sinh với học sinh, giữa học sinh với thầy cô. Có thể thấy ứng xử thiếu văn hóa diễn ra ở nhiều nơi, đang dóng lên hồi chuông cảnh báo cho xã hội hiện nay. Trong trường học, nhất là học sinh lớp 7 xuất hiện một bộ phận nhỏ học sinh có những cử chỉ như chen lấn khi xếp hàng, ngồi gác chân lên bàn phía trước, ăn quà trong lớp, ồn ào khi vào tiết học, lời nói chưa đẹp mà người ta thường gọi đó là vi phạm đạo đức như còn nói tục, chửi thề, nói chưa hay, làm việc chưa tốt, nhiều học sinh chỉ vì câu nói mà gây gổ với nhau. Một số học sinh còn nói leo, nói tự do, dùng những từ ngữ miệt thị với chính bạn bè của mình, sử dụng ngôn ngữ của tuổi teen hiện nay qua mạng xã hội dẫn đến những hiểu lầm không đáng có. Bộ giáo dục và đào tạo đã đổi mới về nội dung giảng dạy đặc biệt là phong trào “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp - ứng xử của chúng ta càng cao. Nên xử lí tình huống thông minh, khéo léo, tế nhị, kịp thời hiệu quả được coi như bí quyết thành công trong cuộc đời. Xuất phát từ những lý do trên tôi nhận thấy giáo dục cho học sinh về kĩ năng giao tiếp và ứng xử trong nhà trường không chỉ đem lại hiệu quả trong đời sống của học sinh mà còn cho cả cộng đồng xã hội. Đó là lí do mà tôi chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh lớp 7”. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Khảo sát, tìm hiểu thực trạng giao tiếp ứng xử học đường của học sinh hiện nay cụ thể là học sinh lớp chủ nhiệm 7A1. Từ đó để tìm ra các giải pháp hợp lý nhằm rèn luyện kỹ năng gao tiếp ứng xử giữa “Học sinh và học sinh; học sinh với ông bà, cha mẹ; học sinh và thầy cô giáo, cán bộ công nhân viên trong nhà trường”. 3. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi: Tập trung vào giáo dục kĩ năng giao tiếp ứng xử cho toàn bộ hoc sinh lớp 7a1 là đối chứng và thực nghiệm. - Đối tượng: Đặc biệt chú trọng vào một số đối tượng thường xuyên ứng xử
  4. 3 chưa tốt . - Lĩnh vực khoa học nghiên cứu là lĩnh vực Chủ nhiệm. - Thời gian: Hoàn thành tháng 3 năm 2023. 4. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành sáng kiến tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: + Chủ yếu là phương pháp thực nghiệm, đối chứng. Tôi tận dụng tối đa thời gian trong 15 phút truy bài đầu giờ, tiết sinh hoạt cuối tuần với lớp chủ nhiệm để rèn luyện kỹ năng giao tiếp cho học sinh. Ngoài ra còn tôi còn phối hợp với giáo viên bộ môn để thảo luận một số hình thức cũng như tìm hiểu một số nội dung phù hợp để tiến hành thực nghiệm. + Phương pháp điều tra, khảo sát: điều tra, khảo sát số lượng học sinh có kĩ năng giao tiếp tự tin, mạnh dạn, bình thường và còn rụt rè sử dụng từ ngữ chưa phù hợp thông qua phiếu điều tra. Từ đó đánh giá kết quả trước và sau tác động. + Phương pháp lý luận: thông qua sách, báo. + Liên hệ thực tế, tìm ra các giải pháp nâng cao kĩ năng giao tiếp cho học sinh THCS. + Phương pháp giả thiết: Đưa ra 1 số tình huống trong giao tiếp cụ để học sinh học cách nhận diện, ứng phó, xử lí. 5. Tính mới của sáng kiến - Sáng kiến đã hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản về giáo dục kĩ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh lớp 7. - Xây dựng được nội dung giáo dục kĩ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh lớp 7. - Chỉ ra được giáo dục kĩ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh lớp 7 là nhiệm vụ quan trọng trong nhà trường . - Đã đánh giá được thực trạng kĩ năng giao tiếp ứng xử của học sinh trong nhà trường và xác định được nguyên nhân của nó. Đề xuất được các biện pháp giáo dục “ Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh lớp 7”. - Giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân mối quan hệ hình thành thói quen ứng xử có văn hóa Đồng thời giúp học sinh có đủ khả năng thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập, tự tin khi giải quyết công việc và trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời . - Kĩ năng giao tiếp ứng xử giúp học sinh biết cách giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày, giúp các em nói những điều muốn nói, làm những việc nên làm, đồng thời biết lắng nghe và thấu hiểu người khác. Khi tham gia hoạt động tập thể, học sinh biết tôn trọng, không tự ti, không bị cô lập vì điểm yếu của bản thân mà sẽ được các thành viên trong tập thể hỗ trợ, giúp đỡ, cũng như điểm mạnh của các em sẽ đóng góp vào thành công chung của tập thể.
  5. 4 PHẦN B. NỘI DUNG – GIẢI PHÁP 1. Cơ sở thực tiễn: 1.1. Thực trạng chung Văn hóa ứng xử của học sinh các bậc học đang là vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm. - Đi giữa sân trường chúng ta có thể nghe thấy những câu nói tục, chửi bậy của một số bạn học sinh; một sự hiềm khích không hài lòng về bạn là văng tục, sửng cồ thậm chí bạo lực. - Một cách ứng xử khác là việc sai phạm nội quy trường lớp ở một số học sinh nữ trong việc tô son đánh phấn và các bạn nam có các kiểu tóc phản cảm - Những hành vi biểu hiện rõ nhất cách ứng xử thiếu văn hóa là vứt rác bừa bãi nơi công cộng: các em tùy tiện vứt rác mọi nơi, mọi lúc trong học bàn, ngoài cửa sổ, cạnh cầu thang, góc lớp, gốc cây, sân trường - Dùng những lời lẽ coi thường xúc phạm, miệt thị bạn bè đặc biệt là những bạn nhút nhát chậm phát triển - Lối sống vô cảm của một bộ phận các học sinh: thấy những hành vi ứng xử thiếu văn hóa đã rõ ràng trước mắt nhưng không dám phản ánh, không dám lên tiếng phê bình chê trách mà chỉ lặng im nhìn sự việc diễn ra. - Cứ ngỡ cách ứng xử thiếu văn hóa của các bạn học sinh chỉ dừng lại ở đó, nhưng không – ngoài chửi thề, nói bậy, cãi vã thì còn có bạn cãi lại thầy cô. Thầy cô là người chúng ta phải mang ơn thật nhiều nhưng có lẽ một số bạn học sinh đã không nhận ra điều đó. Chỉ ở việc nhỏ nhặt nhất là cúi chào thầy cô thôi mà cũng thật khó khăn. Một số bạn xem việc chào thầy cô. Khi thầy cô quan tâm khuyên nhủ thì lòng “tự ái” đã lấn át tất cả mọi thứ và họ cãi lại thầy cô. Không thể làm đủ lễ nghi với thầy cô họ lại còn xuyên tạc, làm biến tướng các nghi lễ, thiếu sự tôn trọng với thầy cô, coi thường việc học. Ví dụ như: Cách chào của học trò khi gặp thầy cô, vừa đi thậm chí là chạy ù ù qua thầy cô vừa chào cho có lệ “Chào thầy, chào cô” rồi cười hô hố rất phản cảm. Sau lưng lại gọi thầy cô mình là ông nọ, bà kia tệ hại hơn là gọi bằng đại từ nhân xưng “nó”. - Khi làm bài kiểm tra không tốt bị thầy cho điểm kém không vừa ý mình học trò sẵn sàng lôi bài kiểm tra ra xé trước mặt thầy cô để tỏ thái độ. Có trường hợp trò vì mâu thuẫn nhỏ, xung đột ý kiến hoặc bị giáo viên phạt mà quay ra thù thầy ghét thầy cô. Giáo dục các em có kĩ năng giao tiếp tốt tạo cho mối quan hệ của các em trở nên thân thiện gần gũi nhau hơn, giao tiếp thân thiện bằng cách “gọi bạn, xưng tôi”, nói năngcó chủ ngữ, kính trọng lễ phép với thầy cô và người trên, thực hiện tốt phongtrào thi đua “ Nói lời hay, làm việc tốt”, lớp học ngày càng thân thiện hơn.
  6. 5 - Chỉ đơn giản với hai câu nói xin lỗi – cảm ơn, một phép lịch sự tối thiểu trong giao tiếp hàng ngày, một cụm từ ngắn gọn có ý nghĩa giáo dục, hiệu quả lớn trong giao tiếp nhưng lại đang ngày càng thưa dần, người giáo viên mới xây dựng kế hoạch giáo dục kĩ năng giao tiếp và thực hiện kế hoạch một cách thường xuyên,liên tục thông qua các môn học, thông qua các hoạt động ngoài giờ, trong cácmối quan hệ giữa cô và trò, giữa trò và trò. 1.2. Thực trạng lớp chủ nhiệm - Năm học 2022 – 2023, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 7A1, lớp có 37 học sinh, trong đó có 20 học sinh nữ. Tôi quan sát các hoạt động của các em, chú ý đến cách giao tiếp ứng xử của các em với thầy cô, bạn bè, nhận thấy các em có kĩ năng giao tiếp ứng xử không đồng đều trong đó: + Có một số học sinh phát biểu, chia sẻ ý kiến khi thảo luận nhóm rất tự tin, mạnh dạn. Các em thể hiện được khả năng của bản thân trước mọi người và giữ phép lịch sự khi giao tiếp, hơn nữa còn chủ động kiểm soát tình huống (như em Nguyễn Thị Yến Nhi, Phạm Thị Hải An, Lường Ngọc Gia Bảo, Trương Hồng Quân ). Khi tham gia các hoạt động tập thể chung cùng lớp, các em rất hòa đồng, không phân biệt đối xử. Biết lắng nghe ý kiến của mọi người, động viên, chia sẻ với những chuyện buồn của các bạn trong lớp. + Trong lớp một số bạn thiếu tự tin về năng lực học tập, về ngoại hình, về hoàn cảnh gia đình, tiếp thu kiến thức còn chậm, kỹ năng giao tiếp còn hạn chế (như em Nguyễn Hoàng Anh, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Thùy Dương, rất ít khi giao tiếp với bạn bè thầy cô; em Vũ Cẩm Linh, Nguyễn Phi Hùng do điều kiện gia đình khó khăn nên các em cảm tự ti khi giao tiếp với các bạn, ít tham gia các hoạt động trải nghiệm ) Theo quan sát, theo dõi trong những ngày đầu nhận lớp, tôi đã tiến hành điều tra và kết quả như sau: Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp hạn chế tốt (tự tin, mạnh Tổng số bình thường (rụt rè, sử dụng từ dạn) học sinh chưa phù hợp) Tỉ lệ Tỉ lệ Số lượng Số lượng Số lượng Tỉ lệ (%) (%) (%) 37 6 16,2 14 37,8 17 46,0 Bảng 1: Thống kê về kỹ năng giao tiếp của học sinh lớp 7A1 đầu năm học Số liệu thống kê trên cho thấy số lượng học sinh có kỹ năng giao tiếp còn hạn chế chiếm 46,0% số học sinh của lớp. Từ kết quả trên bản thân tôi luôn tìm
  7. 6 giải pháp làm thế nào để cho kết quả tốt hơn và cụ thể tôi đã tìm ra giải pháp “ Rèn kĩ năng ứng xử trong giao tiếp cho học sinh lớp 7”. 2. Nguyên nhân: 2.1. Về phía học sinh: - Những hiểu biết về xã hội và vốn từ của học sinh không đồng đều. Nhiều học sinh thường tỏ vẻ rụt rè, nhút nhát khi được giáo viên mời trả lời câu hỏi, chưa mạnh dạn phát biểu trước đám đông. Khi phát biểu, các em nói năng chưa mạch lạc, trả lời trống không, nói không tròn câu. - Thích khẳng định mình, một mâu thuẩn nhỏ dẫn đến kích động không làm chủ hành vi của mình. - Đa số các em đều là con nông thôn, chưa được va chạm nhiều, không có môi trường để rèn luyện, nên khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ còn hạn chế. - Ngoài ra các em còn chịu tác động của khoa học công nghệ, do văn hóa phẩm không lành mạnh, vậy nên nó sẽ tác động tiêu cực tới việc hoàn thành nhân cách của học sinh. 2.2. Về phía gia đình: - Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc rèn kỹ năng giao tiếp cho con em mình, còn nuông chiều, phó mặc cho nhà trường, thậm chí có phụ huynh còn bất lực trước con cái. - Luôn kì vọng và đề cao con mình. - Không có thời gian quan tâm, giao tiếp, ứng xử đúng mực với con mà chỉ có những mệnh lệnh giao việc. - Gia đình không có nền tảng ứng xử văn minh, lịch sự giữa các thành viên. - Số ít phụ huynh chưa có phương pháp giáo dục con em khoa học, thiên về bạo lực, lớn tiếng với con cái. - Sự nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế nên dẫn đến việc xem nhẹ giáo dục cho con em mình về văn hóa giao tiếp ứng xử. 2.3. Về phía nhà trường: - Giao tiếp giữa thầy trò chưa thực sự gắn bó, thân thiện còn nặng về thứ bậc. - Giữa trò với trò giao tiếp, ứng xử còn mang dáng dấp lối ứng xử thiếu tế nhị, thiếu văn hóa. - Giáo viên thường chỉ quan tâm đến việc đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong quá trình dạy học, ít có thời gian để rèn cho các em những kỹ năng khác. 3. Các biện pháp tổ chức thực hiện Trên cơ sở tình hình thực tế của lớp, việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp là cả phạm trù rộng lớn cần đòi hỏi nhiều kĩ năng như sử dụng ngôn ngữ, xử lí tình
  8. 7 huống khéo léo qua các hoạt động trao đổi giao tiếp hàng ngày, tôi đã đúc rút một số biện pháp thực hiện cụ thể như sau: 3.1. Giải pháp 1: Tìm hiểu, nắm bắt đối tượng học sinh. Ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm, giáo viên cần tiến hành tìm hiểu, nắm bắt thông tin về đối tượng học sinh lớp chủ nhiệm qua các kênh thông tin khác nhau: Điều tra qua học bạ năm học trước của học sinh, qua giáo viên chủ nhiệm cũ; lập phiếu điều tra các thông tin cá nhân; tiến hành phân loại học sinh Sự phân loại và các thông tin trên là căn cứ để lựa chọn học sinh có năng lực, nhiệt tình vào Ban cán sự lớp, BCH chi đoàn; đồng thời cũng là cơ sở để đưa ra những biện pháp phù hợp trong việc giáo dục học sinh lớp chủ nhiệm. Đặc biệt giáo dục kĩ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh lớp 7. PHIẾU ĐIỀU TRA THÔNG TIN HỌC SINH Lớp....... 1. Họ và tên.......................................................... 2. Ngày tháng năm sinh........................................ 3. Chỗ ở hiện tại:................................................... 4. Kết quả xếp loại năm học 2021-2022: Học tập:............... Hạnh kiểm :................ 5. Đã tham gia cán bộ lớp (Ghi rõ chức danh: Lớp trưởng, Lớp phó, nhóm trưởng, chi đội trưởng ..................... 6. Họ tên bố: ............................Năm sinh.........................Nghề nghiệp............. Nơi công tác......................................SĐT liên lạc........................ 7. Họ tên mẹ: ............................Năm sinh.........................Nghề nghiệp............. Nơi công tác......................................SĐT liên lạc........................ 8. Sở trường, năng khiếu của học sinh (Các lĩnh vực Văn nghệ, TDTT, Sáng tác thơ văn, Tin học...)................................. 9. Em thích gì? Em ghét gì? .................................................................................................. .................................................................................................. 10. Em mong muốn điều gì ở giáo viên chủ nhiệm .................................................................................................. .................................................................................................. .........ngày......tháng......năm...... Học sinh ký tên
  9. 8 3.2. Giải pháp 2: Phân loại từng nhóm học sinh cần tác động. Nhóm 1: Là những học sinh có học lực khá, hạnh kiểm tốt. Ngoan hiền, lễ phép, đi đứng nghiêm túc, xưng hô đúng mực. Tham gia tích cực, chủ động các hoạt động của lớp, nhà trường; thường xuyên nhắc nhở những bạn hay có thái độ không nghiêm túc. Nhóm 2: Là những học sinh có những biểu hiện như: Chưa nghiêm túc khi tham gia các hoạt động tập thể (xếp hàng chưa ngay ngắn, không dọn dẹp vệ sinh, ) nói năng vô tổ chức hoặc khi nói với thầy cô không phân biệt trên dưới (em chào chị) nói ngang, nói leo, nói tự do trong lớp. Khi tan học vội vàng gấp sách vở và phóng chạy ra khỏi lớp không cần sự cho phép của thầy cô giáo. Trong các hoạt động vui chơi, giao tiếp ứng xử với bạn bè các em nói tục, nói bậy, bè phái, tính tình nóng nảy và chưa biết quan tâm chia sẻ với các bạn trong lớp khi tham gia các hoạt động giáo dục. Nhóm 3: Là những học sinh không còn nhút nhát, ít nói; không gần gũi bạn bè và thầy cô; ít chia sẻ, biết nhưng không giơ tay, ngại phát biểu bài; không giám phát biểu ý kiến; không có quan điểm rõ ràng và dễ nản lòng khi gặp khó khăn. Để từ đó tôi có thể tiếp cận và trao đổi với các em dễ dàng hơn tạo sự cởi mở trong giao tiếp cho các em. Từ đó các em cảm nhận được sự đồng cảm từ phía GVCN và có thể mạnh dạn chia sẻ tâm tư tình cảm với tôi. 3.3. Giải pháp 3: Xây dựng nội dung thực hiện rèn kĩ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh qua các tiết Hoạt động tập thể, Hoạt động ngoài giờ lên lớp, đặc biệt trong tiết sinh hoạt lớp. + Tôi xây dựng nội dung thực hiện rèn kĩ năng giao tiếp ứng xử cho học sinh: Trong lớp, tôi xây dựng đội ngũ cán bộ lớp có năng lực, gương mẫu có kỹ năng giao tiếp ứng xử tốt. Cho lớp xây dựng nội quy, quy định và khẩu hiệu về giao tiếp ứng xử với đối tượng dưới sự hướng dẫn của GVCN, cả lớp thống nhất cùng thực hiện tốt. * Ứng xử giữa học sinh với học sinh: - Luôn tôn trọng, hòa nhã với bạn bè. - Giúp đỡ bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn. - Giúp bạn học tập tiến bộ, tích cực. - Biết thông cảm, chia sẻ những buồn vui với bạn, cùng chung chí hướng, lý tưởng. - Khiêm tốn khi đánh giá về mình. - Thật thà, trung thực khi đối xử với bạn.
  10. 9 GVCN kết hợp giáo dục học sinh nói lời hay làm việc tốt thông qua câu chuyện kể sách, báo và các hoạt động trong nhà trường. Cho các em đọc báo măng non, thiếu nhi dân tộc Xemvideo cách ứng xử trong giao tiếp.
  11. 10 Cho học sinh chơi một số trò chơi. Tặng quà cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn dịp tết Trung thu, Tết nguyên đán. Học sinh cảm nhận sự ấm áp khi được các bạn trong lớp chia sẻ những khó khăn.