SKKN Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 3-4 tuổi trong trường Mầm non

doc 16 trang Chăm Nguyễn 10/08/2026 180
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 3-4 tuổi trong trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_phong_tranh_tai_nan_thuong_tich_cho_tr.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 3-4 tuổi trong trường Mầm non

  1. Như chúng ta đã biết trong nhiều năm trở lại đây, chúng ta thường thấy tỷ lệ trẻ nhỏ gặp tai nạn thương tích ngày càng nhiều. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Đặc biệt với trẻ 3-4 tuổi, khi lên ba, trẻ muốn tách mình ra khỏi người khác và ý thức về những khả năng của chính mình, nảy sinh nguyện vọng được độc lập. Từ nhu cầu muốn độc lập này mà trẻ có phản ứng cảm xúc mạnh mẽ và thái độ tiêu cực thường đối lập với người lớn. Các nhà tâm lý học gọi đây là “Thời kỳ khủng hoảng tuổi lên 3”. Đặc biệt khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế, chưa biết tự bảo vệ mình do đó trẻ thường bị các TNTT sau: dị vật đường thở do sặc cháo, sặc thức ăn. Bị dị vật lỗ mũi, lỗ tai... do tự nhét hột đỗ, hột lạc thậm chí cả những hạt vòng ( từ vòng cổ, vòng tay,...). Chính vì vậy, với bản chất tò mò, hiếu kỳ và luôn muốn khám phá những điều mới lạ, nên trẻ hay phải đối mặt với rất nhiều tình huống nguy hiểm trong cuộc sống mà không phải lúc nào cũng có người lớn ở bên để giúp đỡ. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và hoạt động thiết thực để góp phần giảm thiểu tai nạn. Một trong số đó là quy định của bộ y tế về triển khai cộng đồng an toàn trên toàn quốc. Ngày 15/4/2010 bộ GD và ĐT đã ra thông tư 13 ban hành quy định về xây dựng trường học an toàn và phòng chống tai nạn thương tích. Thông tư đã được triển khai rộng khắp và Phòng GD và ĐT quận Long Biên cũng đã triển khai và đưa nội dung phòng tránh tai nạn thương tích vào đánh giá tiêu chí thi đua các nhà trường. Phần lớn những nguyên nhân gây tai nạn là do sự bất cẩn và do sự thiếu hiểu biết, xử lí chưa kịp thời khi tình huống xảy ra. Mặt khác ở lứa tuổi này trẻ còn quá non nớt để tự bảo vệ mình nên các nguy cơ xảy ra tai nạn là rất cao nếu thiếu sự quan tâm định hướng đứng đắn của người lớn. Khi vui chơi, trong sinh hoạt rất dễ xảy ra tai nạn thương tích cho trẻ, có những tai nạn nhỏ được can thiệp nhưng sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của trẻ, có những tai nạn nghiêm trọng có thể ảnh hưởng tới thể chất lẫn tinh thần của trẻ để lại những hậu quả đáng tiếc sau này. Vì vậy là một giáo viên mầm non, tôi nhận thấy ngoài việc cố gắng bảo vệ trẻ khỏi các nguy cơ gây rủi ro, ta còn phải dạy cho trẻ kỹ năng phòng tránh các mối nguy hiểm thường trực trong cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng này giúp trẻ tự tin ứng phó với các nguy cơ không an toàn và hạn chế tối đa những tổn hại đến bản thân mình. Ngoài ra, giáo viên mầm non cần tìm hiểu và trang bị cho bản thân những kiến thức chính xác và cách phòng tránh tai nạn thương tích để có những biện pháp phòng tránh một cách có hiệu quả. Thực tế hàng ngày trẻ được tham gia rất nhiều hoạt động nhưng trẻ chỉ biết rằng mình học, ăn hoặc chơi theo ý thích của bản thân trẻ, điều này rất nguy hại bởi trẻ cũng là một thành viên tham gia vào cuộc chiến trống lại tai nạn thương tích. Chính vì vậy 3/10
  2. giáo viên mầm non không chỉ luôn luôn bao quát trẻ để tránh tai nạn thương tích cho trẻ mà cô còn phải lồng ghép và giáo dục để bản thân trẻ hiểu và tránh những tai nạn thương tích. Và đó cũng là một trong những nhiệm vụ của trường mầm non là trang bị cho trẻ những hiểu biết về cách phòng tránh và một sồ kỹ năng đơn giản để trẻ biết tự bảo vệ mình khi cần thiết. Thực tế ở trường mầm non nơi tôi công tác, việc phối kết hợp với phụ huynh giúp trẻ nhận biết một số nguy cơ không an toàn và phòng tránh còn nhiều hạn chế. Trẻ còn bé nhận biết được những nguy cơ không an toàn và không biết cách phòng tránh còn hạn chế. Là một giáo viên trẻ với lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có trách nhiệm cao trong công việc tôi luôn đau đáu, trăn trở suy nghĩ làm thế nào để trẻ được đảm bảo an toàn tuyệt đối không để xảy ra tai nạn thương tích cho trẻ làm tiền đề cho sự phát triển toàn diện của trẻ sau này. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ 3-4 tuổi trong trường mầm non” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình đã triển khai và đạt kết quả tốt. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận Phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi nói riêng là một yêu cầu rất quan trọng, giáo viên cần xây dựng hoạt động thông qua quá trình phát triển tâm sinh lý trẻ, đặc biệt là quá trình nhận thức của trẻ. Trẻ 3 tuổi còn rất non yếu sức đề kháng kém tư duy trực quan hình tượng. Khả năng ghi nhớ không bền vững nên cần được làm quen với nội dung cần học ở mọi lúc, mọi nơi và cần được lặp lại nhiều lần. Giáo dục trẻ biết cách phòng tránh tai nạn thương tích là một việc làm rất quan trọng nhưng không dễ dàng. Trước hết giáo viên cần trang bị cho bản thân những hiểu biết chính xác về tai nạn thương tích (khái niệm, nguyên nhân, cách phòng tránh, cách xử lý ) và khi đã có những hiểu biết rõ ràng thì giáo viên cần tích hợp, lồng ghép một cách hợp lý vào tất cả các hoạt động (học tập, vui chơi, ) cho trẻ đúng lúc, đúng cách và đúng yêu cầu. Tai nạn thương tích trẻ em là 1 vấn đề mang tính toàn cầu. Mỗi năm trên thế giới có 900.000 ca trẻ em tử vong do tai nạn thương tích, tương đương với gần 2.500 trẻ em tử vong mỗi ngày, mỗi giờ có hơn 100 trẻ em tử vong. Ở Việt Nam 2010-2014 theo thống kê Bộ Y Tế trung bình nước ta có khoảng 580 trẻ em bị tai nạn thương tích như : tai nạn giao thông, đuối nước, ngã điện giật, bỏng,... Và mỗi ngày có hàng chục gia đình chịu mất mát đau thương vì sự ra đi của con họ do tai nạn.Tình hình tai nạn thương tích ở trẻ em nước ta còn rất cao so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, cao gấp 8 lần các nước phát triển. Đây là 4/10
  3. những con số biết nói. Qua phân tích nguyên nhân bị tai nạn thương tích và tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em, cho thấy có rất nhiều yếu tố liên quan đến vấn đề này như: sự nhận thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em còn hạn chế, có nhiều yếu tố nguy cơ trong môi trường sống. Đặc biệt là thiếu biển báo nguy cơ tại các nơi nguy hiểm như: ao hồ, sông suối, bờ biển, thiếu sự theo dõi, giám sát của người lớn, trẻ em có tính hiếu động, các biện pháp can thiệp, kiểm soát tai nạn thương tích ở trẻ em đã được triển khai nhưng chưa đồng bộ và rộng khắp. Phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ em đang là vấn đề được nhiều người quan tâm, nhằm bảo đảm sức khỏe cũng như trang bị ý thức bảo vệ sức khỏe của trẻ em. Nguy cơ không an toàn ở trẻ em có thể phòng tránh nếu được quan tâm và có chiến lược, giải pháp hành động cụ thể. Vì vậy Thông tư 13/2010/TT-BGDĐT ban hành Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong cơ sở giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Vấn đề giáo dục trẻ nhận biết nguy cơ không an toàn và phòng tránh cho trẻ em là trách nhiệm của mỗi cá nhân, các ban, ngành, đoàn thể và cả cộng đồng xã hội. Giúp trẻ nhận biết những nguy cơ không an toàn có thể xảy ra và cách phòng tránh là một việc làm cần thiết. Muốn vậy giáo viên cần có sự hiểu biết sâu rộng, nắm chắc kiến thức về nguyên nhân, cách phòng tránh, cách xử lí một số nguy cơ không an toàn để dạy trẻ. Hơn nữa để phòng tránh TNTT trẻ em được tốt cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và các bậc phụ huynh trong việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi người về các kỹ năng giúp trẻ tự bảo vệ, phòng tránh những nguy cơ gây tai nạn thương tích. 2. Thực trạng vấn đề Năm học này tôi được nhà trường phân công dạy lớp mẫu giáo bé 3-4 tuổi. Tôi đã gặp những điều kiện thuận lợi và khó khăn khi giáo dục trẻ phòng tránh tai nạn thương tích ở lớp tôi như sau. 2.1. Thuận lợi - Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi, thoong tin tài liệu phục vụ cho công tác chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và công tác phòng chống tai nạn thương tích nói riêng cho trẻ. - Bản thân luôn yêu nghề mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, luôn luôn học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, được tham gia kiến tập, tập huấn chuyên môn phục vụ cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ. 5/10
  4. - Phụ huynh quan tâm đến các con, luôn nhiệt tình ủng hộ các phong trào của nhà trường, lớp như : Ủng hộ cây xanh và sách, truyện cho lớp, phối kết hợp tốt với giáo viên trong việc chăm sóc giáo dục trẻ 2.2.Khó khăn: - Giáo viên có kinh nghiệm kiến thức về nguy cơ gây tai nạn và cách phòng chống, xử lí cho trẻ tuy nhiên còn hạn chế. - Việc quan sát, bao quát, giám sát trẻ còn chưa chặt chẽ và có một số trẻ hiếu động nên việc tổ chức các hoạt động trẻ chưa tập trung cao. - Trẻ còn bé chưa nhận thức được nguy cơ gây tai nạn thương tích và cách phòng chống để tự bảo vệ mình. - Đa số phụ huynh ở những vùng miền khác nhau, các tỉnh khác nhau nên vấn đề nhận thức về phòng tránh tai nạn thương tích nói riêng và các vấn đề chăm sóc giáo dục trẻ nói chung còn nhiều hạn chế, một số phụ huynh chưa chú trọng phối kết hợp cùng giáo viên cùng giáo dục trẻ cách nhận biết các nguy cơ không an toàn và cách phòng tránh. 3. Một số biện pháp 3.1. Xây dựng kế hoạch giúp trẻ nhận biết nguy cơ không an toàn và phòng tránh Xây dựng kế hoạch là tiền đề, là khâu đầu tiên đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động, nó được ví như chìa khoá mở cửa, như kim chỉ nam, mở đường chỉ lối cho người thực hiện các hoạt động đi đến đích và đạt kết quả cao. Xây dựng kế hoạch càng rõ ràng cụ thể, sát với tình hình thực tế bao nhiêu thì kết quả càng đảm bảo công việc thuận lợi giúp người thực hiện chủ động, không bị loanh quanh, chồng chéo, bỏ sót bấy nhiêu. Vì vậy dựa trên phiên chế nhà trường và tổ chuyên môn xây dựng dựa trên kết quả mong đợi của lứa tuổi tôi đã lên kế hoạch, lịch trình hoạt động trong cả năm học để lồng ghép nội dung dạy trẻ biết một số nguy cơ không an toàn và phòng tránh. Ở mỗi tháng trong năm học, tôi đưa ra những hoạt động, địa điểm, đồ vật không an toàn mà trẻ có khả năng gặp phải nhiều nhất. Có được nội dung giáo dục kỹ năng phù hợp với từng tháng sẽ giúp tôi dễ dàng trong việc lựa chọn bài dạy để lồng ghép giáo dục trẻ, đồng thời trẻ cũng dễ tiếp thu và ghi nhớ hơn. 3.2. Xây dựng môi trường an toàn cho trẻ, làm thêm đồ dùng sáng tạo. Sau khi xây dựng kế hoạch xong tôi nghĩ ngay đến xây dựng môi trường an toàn cho trẻ : đó là xây dựng về cơ sở vật chất trong và ngoài lớp học : với trong và ngoài lớp học : cơ sở vật chất chúng tôi tổng vệ sinh và dà soát kiểm tra,..., đồ dùng 2 cô kết hợp làm đồ dùng sáng tạo từ những vật liệu phế thải, dễ kiếm, không tốn nhiều tiền. Xây dựng môi trường an toàn cho trẻ đó là xây 6/10
  5. dựng môi trường trong và ngoài lớp an toàn ( trong lớp có đồ dùng đồ chơi các góc, nhà vệ sinh,nhà kho,..ngoài lớp , xung quanh sân trường , hành lang,...) Một trong những khái niệm về đồ chơi thì đồ chơi là một trong những đồ dùng không thể thiếu đối với trẻ nhỏ, đồ chơi cần cho trẻ được ví như cơm ăn nước uống hàng ngày của trẻ. Nếu trong một ngày ở lớp trẻ hoạt động mà không có đồ chơi thì coi như hoạt động đó không thành công qua đó nói nên tầm quan trọng của đồ chơi là rất cần thiết cho trẻ. Và thời gian trẻ được tiếp xúc với đồ chơi trong một ngày là rất nhiều, chính vì vậy phải thường xuyên loại bỏ những đồ chơi gây nguy hiểm cho trẻ. Ban giám hiệu kết hợp với nhân viên y tế, ban thanh tra của trường lập kế hoạch có lịch cụ thể: Lớp vệ sinhvà dà soát những đồ dùng đồ chơi hàng ngày, trường: tuần /lần. Kiểm tra ổ điện, một số đồ dùng mất an toàn cho trẻ.(phụ lục minh họa) Tại lớp: 2 cô luôn kiểm tra đồ dùng ở các góc lớp nhà vệ sinh, nhà kho để có thể loại bỏ những đồ dùng đã hỏng, sắc nhọn mất an toàn cho trẻ để bỏ đi. (– Những hột hạt như vòng tay hay vòng cổ của trẻ khi đứt và rơi ra rất nhỏ khi trẻ chơi cô cần chú ý quan sát tránh để trẻ đưa vào miệng, mũi, tai. Vì vậy cô cần luôn bao quát và loại bỏ ngay khi trẻ bị đứt vòng hoặc giữ vòng cho trẻ đến cuối giờ trả phụ huynh và trao đổi với phụ huynh hạn chế cho trẻ đeo những loại vòng có hạt nhỏ dễ gây tai nạn thương tích cho trẻ. Đồng thời tôi luôn cố gắng sáng tạo ra những loại đồ chơi mới phù hợp với lứa tuổi mà vẫn đảm bảo tính khoa học của hoạt động. Với những đồ chơi hiện nay đa phần là đồ chơi xuất xứ từ Trung Quốc, với nhiều chất liệu nhựa độc hại như chì, các chất gây rối loạn nội tiết, gây ung thư một số là loại nhựa giòn dễ vỡ gây nguy hiểm vì vậy khi chọn lựa đồ chơi cho trẻ giáo viên cần lưu ý chọn cho trẻ đồ chơi có xuất xứ rõ ràng, các thông số về kỹ thuật cũng như chất liệu tạo thành được nhà sản xuất ghi đầy đủ, rõ ràng trên bao bì sản phẩm đảm bảo an toàn cho trẻ khi chơi. Song song với việc loại bỏ đồ dùng, đồ chơi nguy hiểm thì giáo viên phải luôn cẩn trọng với đồ dùng của cô như: dao, kéo, thước kẻ, bút, súng bắn keo khi dùng song phải cất gọn đúng nơi quy định, cất cao khỏi tầm tay với của trẻ. Báo ngay với BGH nếu trong lớp có đồ dùng, đồ chơi bị hỏng để thay đồ dùng đồ chơi mới ngay đảm bảo an toàn và có đồ chơi cho trẻ kịp thời. Việc xây dựng môi trường lớp học an toàn cho trẻ, làm thêm những đò chơi sáng tạo . Lớp tôi không có trường hợp nào bị tai nạn do bị hóc sặc, trầy sước do đồ chơi hư hỏng hay đồ chơi nhỏvà trẻ hứng thú khi tham gia các hoạt động trong ngày. 7/10
  6. 3.3. Tổ chức các hoạt động thực nghiệm giáo dục trẻ biết một số nguy cơ không an toàn và phòng tránh. 3.3.1. Tổ chức cho trẻ thực nghiệm: Tập huấn cho trẻ về phòng tránh tai nạn thương tích, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ bản thân. Để có thể tổ chức cho trẻ thực nghiệm : Tôi đã thường xuyên đọc sách báo, tìm hiểu tài liệu, tìm kiếm thông tin trên mạng về những nguyên nhân nào dễ dẫn đến tai nạn thương tích trẻ em và tìm hiểu cách phòng tránh cũng như những kĩ năng cấp cứu ban đầu khi có tai nạn xảy ra với trẻ. Bản thân tôi đã được tham gia tập huấn về tai nạn thương tích sơ cấp cứu ban đầu cho trẻ do trường tổ chức. Trong buổi tập huấn tôi được ban giám hiệu cùng phối hợp y tế phường tập huấn tìm hiểu những nguyên nhân nào dẫn đến tai nạn ở trẻ và khi gặp trường hợp đó giáo viên phải xử lí ra sao. Chính tôi còn được lên thử nghiệm sơ cứu mô phỏng cho một trường hợp trẻ bị hóc dị vật đường thở, sơ cứu trẻ khi bị gãy xương,...(phụ lục minh họa) Tôi cũng luôn tìm tòi học hỏi kinh nghiệm của chị em đồng nghiệp trong phương pháp cũng như cách tổ chức để giúp trẻ nhận biết nguy cơ không an toàn và phòng tránh, và kết hợp với nhân viên y tế để làm sao hướng dẫn trẻ một cách đúng nhất, dễ hiểu nhất. Sau đó về tổ chức cho các bé thực nghiệm .(phụ lục minh họa). Sau khi được thực nghiệm về phòng tránh tai nạn thương tích trẻ đã bước đầu thực hiện các bước và nhớ để mà khi xảy ra tự làm một số tai nạn nhỏ như: chảy máu cam,.hóc sặc cháo, bị bỏng nhẹ,..chứ không tự ngồi khóc một mình. 3.3.2 Lồng ghép qua các hoạt động : a. Hoạt động chung 1. HĐ : Khám phá khoa học Đề tài: Một số đồ dùng trong gia đình Tôi chuẩn bị một số đồ dùng gia đình: ấm đun nước, phích nước nóng, dao, kéo để trẻ quan sát nhận xét về chất liệu, tác dụng, cách sử dụng...của những đồ dùng đó. Đàm thoại với trẻ : + Đây là cái gì? Ai biết gì về cái phích nước? + Phích nước dùng để làm gì? Sử dụng như thế nào? + Khi đang rót nước sôi từ ấm vào phích chúng ta phải làm gì? Vì sao? + Theo các con để an toàn chúng ta phải làm gì? > Mở rộng: cho trẻ kể tên một số đồ dùng gia đình khác mà trẻ biết. Đồ dùng nào gây nguy hiểm? Vì sao? 8/10
  7. Cuối buổi học tôi tổ chức cho trẻ chơi: “phân biệt hành vi đúng sai” yêu cầu trẻ chọn những hình ảnh đúng hoặc sai dán lên bảng theo yêu cầu, hay tô màu những hành vi đúng. ( phụ lục hình ảnh minh họa) =>Với đề tài này sau khi học xong trẻ sẽ nắm được một số đồ dùng gây nguy hiểm và không nên đến gần. 2. HĐ : Thể chất Đề tài : VĐCB : Ném trúng đích thẳng đứng TCVĐ : Nhảy qua suối nhỏ - Tôi dạy vận động đúng theo đúng phương pháp và trình tự các bước. - Đến trò chơi vận động : Nhảy qua suối nhỏ Cô hướng dẫn trẻ cách chơi, luật chơi : Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội có 5 bạn thi đua xem đội nào nhảy qua suối nhanh nhất. Luật chơi : Thời gian là 1 bản nhạc, đội nào nhảy xong trước qua suối là thắng cuộc . Cô tổ chức cho trẻ chơi : Khi các bạn tham gia cô cho trẻ xếp hàng dứng ngay ngắn không xô đẩy nhau. -> Qua đó cô lồng ghép giáo dục cho trẻ biết xếp hàng ngay ngắn không xô đấy nhaukhoong thì sẽ bị ngã. 3. HĐ : Âm nhạc Đề tài : NDTT : VĐMH : Đàn gà con NDKH : Nghe hát : Thật đáng chê Tôi dạy VĐMH theo đúng phương pháp và trình tự các bước. Đến bài nghe hát “ Thật đáng chê” sau khi hát cho trẻ nghe: Cô hỏi tên bài hát? Tên tác giả? Cô giảng giải nội dung bài hát: bài hát nói về bạn chích chòe đi ngoài nắng không chịu đội mũ nên bị nhức đầu và bạn cò thì thấy cái gì cũng ăn: ăn quả xanh, uống nước lã nên bạn đã bị đau bụng đấy. -> Qua đó cô lồng ghép giáo dục cho trẻ biết đi ngoài trời mưa, nắng là phải đội mũ, không ăn uống linh tinh dễ bị ngộ độc. b. Hoạt động ngoài trời Quan sát : Các khu vực trong trường Tôi cho trẻ đi tham quan các phòng, trò chuyện hỏi trẻ, chức năng, công việc và những người làm việc ở từng phòng. Đây là đâu? Ai có nhận xét gì về sân chơi Sân chơi có gì? Lan can này dùng để làm gì? Nếu không có lan can ở đây điều gì sẽ xảy ra? Khi chơi có nên chơi gần lan can không? Vì sao? Qua buổi hoạt động ngoài trời này trẻ biết thêm về các khu vực trong trường, biết không đùa nô gần 9/10
  8. lan can, không thò đầu nhìn xuống dưới tầng, không bắc ghế trèo qua lan can để đảm bảo an toàn. c: Thông qua giờ ăn: Cho trẻ đọc cùng cô bài “ giờ ăn” và đàm thoạiBài thơ dạy các con điều gì? Đến giờ ăn các con phải làm gì? Tại sao đến giờ ăn chúng mình phải im lặng không nói chuyện riêng ? Vì sao không khua thìa bát? Cô giới thiệu món ăn và món tráng miệng. Thông qua việc trò chuyện đàm thoaị với trẻ giáo viên sẽ giúp trẻ nhận ra một số hành động nguy hiểm và phòng tránh khi được nhắc nhở: không cười đùa trong khi ăn, uống hoặc khi ăn các loại quả có hạt. d. Thông qua hoạt động chiều : Trong giờ hoạt động chiều tôi thường kể những mẩu chuyện nhỏ sáng tạo theo tranh vẽ để giúp trẻ hình dung ra những nguy cơ không an toàn quanh ta là những gì? Khi gặp tình huống đó nên làm gì? Bên cạnh đó, tôi cũng hay rèn những kỹ năng vệ sinh, kỹ năng sống cho trẻ *VD: Rèn kỹ năng đi vệ sinh đúng nơi quy định - Mỗi lần muốn đi vệ sinh chúng mình phải làm gì? Đi vệ sinh ở đâu? - Chúng mình phải làm gì khi đi vệ sinh? Theo các con đi vệ sinh như thế nào là đúng và an toàn? -> Qua hoạt động này, trẻ biết khi đi vệ sinh phải đi dép, không chạy nhảy nô đùa trong nhà vệ sinh vì như thế sẽ rất dễ bị ngã, - Để trẻ có thể được quan sát tình huống và hứng thú hơn khi tham gia hoạt động cô áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy *VD: Rèn kỹ năng đóng mở cánh tủ cá nhân + Cô quay video tình huống về 1 bạn cất ba lô vào đúng ngăn tủ nhưng bị va đầu vào cánh tủ của bạn khác. + Cô đặt câu hỏi câu hỏi đàm thoại thông qua các câu hỏi tương tác của phần mềm thiết kế bài giảng E-learning để trẻ vừa được quan sát tình huống vừa được trả lời câu hỏi của cô thông qua trò chơi giúp trẻ rất dễ nhớ. - Dạy cho trẻ gọi cấp cứu, cứu hoả.. và phải làm gì trong trường hợp có tai nạn nghiêm trọng xảy ra là một điều rất cần thiết. - Tôi cho trẻ làm quen với những số điện thoại: 113, 114, 115 và cung cấp ý nghĩa các con số đó. - Tổ chức cho trẻ chơi trò chơi ai nhanh nhất: Cô nêu số điện thoại trẻ nêu ý nghĩa của con số đó và ngựơc lại. 3.4. Tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa khuyến khích trẻ tham gia. 10/10
  9. Hoạt động ngoại khoá ở trường mẫu giáo là sân chơi mà ở đó trẻ được hoạt động với sự tham gia của cô giáo, các bạn khác lớp hay ông bà, cha mẹ trẻ. Các hoạt động ngoại khoá được thiết kế đa dạng, phong phú, gắn với các nội dung, chủ đề học và chơi của trẻ giúp thay đổi trạng thái cho trẻ giữa hoạt động động và hoạt động tĩnh. Tăng cường cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên, khắc phục việc trẻ ở nhiều thời gian trong không gian ở lớp. Thông qua việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, trẻ học được rất nhiều kỹ năng sống cần thiết cho bản thân, trẻ được mạnh dạn, tự tin thể hiện bản thân mình, trẻ phát triển hài hòa các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - kỹ năng xã hội và thẩm mĩ theo mục tiêu của chương trình Giáo dục mầm non. Tôi thường tham muwu và phối hợp cùng nhà trường tổ chức các hoạt động như : thăm làng Gốm Bát Tràng, thăm trường Tiểu học, đình, xem xiếc, Thăm khu hướng nghiệp tại Vince, Kinder Park , thăm doanh trại quân đội, thăm Lăng Bác. ua đó trẻ nghe hiểu lời nói và sử dụng lời nói trong giao tiếp cuộc sống hàng ngày một cách rõ ràng, mạch lạc. 3.5. Phối hợp cùng phụ huynh giúp trẻ nhận biết nguy cơ không an toàn và phòng tránh Độ tuổi mầm non trẻ rất dễ bị tai nạn từ các sinh hoạt thường ngày bởi độ tuổi này trẻ rất tò mò hiếu động và chưa ý thức được hết các mối nguy hiểm xung quanh vì vậy trẻ rất cần có sự quan tâm giúp đỡ của người lớn. Việc dạy trẻ biết những nguy cơ không an toàn và phòng tránh và một việc làm thiết thực và cấp thiết cần nó trang bị cho trẻ những hiểu biết, kĩ năng cơ bản nhất về cách phòng tránh. Giáo dục trẻ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, đoàn thể và các bậc phụ huynh trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho trẻ, giúp trẻ tự bảo vệ, phòng tránh những nguy cơ không an toàn xung quanh mình. Ngoài công tác tuyên truyền trên loa đài ,khẩu hiệu, tranh áp phích, tờ rơi về công tác phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ thì công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh là một trong những biện pháp quan trọng Biện pháp tuyên truyền kết hợp với phụ huynh tại lớp giúp giáo viên và phụ huynh hiểu nhau hơn, từ đó giúp giáo viên thuận lợi trong việc giáo dục trẻ tránh những nơi nguy hiểm, không an toàn với trẻ. Và cũng yên tâm hơn trong công tác phòng tránh tai nạn tại nhà vì phụ huynh đã có kiến thức về cách phòng tránh tai nạn và họ biết điều gì mình nên làm Giáo viên phối hợp với phụ huynh là việc làm rất cần thiết tạo cho trẻ một môi trường an toàn về sức khỏe, tâm lí và thân thể. 4. Hiệu quả SKKN 11/10
  10. Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã được nghiên cứu, áp dụng là trẻ 3-4 tuổi lớp Mẫu giáo bé c3 với sĩ số 38 học sinh. Qua một năm áp dụng các biện pháp nêu trên tại nhóm lớp mình phụ trách bước đầu tôi đã đạt được một số kết quả cụ thể như sau: a. Đối với giáo viên. - Bản thân được nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng phòng tránh và xử lý các tai nạn thương tích, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. - Tôi đã chủ động, linh hoạt, sáng tạo hơn trong lựa chọn nội dung và các hoạt động nâng cao khả năng nhận thức về biết và phòng tránh các tai nạn thương tích cho trẻ. - Giáo viên có kíên thức và kỹ năng về xử trí tai nạn thương tích, nguy cơ không an toàn cho trẻ b. Đối với trẻ. * Kết quả điều tra trên trẻ Tiêu chí Biết nơi nguy Biết hành động Biết một số Biết tìm sự hỗ trợ hiểm. nguy hiểm và đồ vật gây khi gặp nguy hiểm Thời phòng tránh nguy hiểm gian Cuối Tổng Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ năm số 40 39 1 38 2 39 1 37 3 Tỉ lệ 97% 3% 95% 5% 97% 3% 93% 7% % Bảng: Nhận thức của trẻ về tai nạn thương tích sau khi sử dụng các biện pháp Tiêu chí Biết nơi nguy Biết hành động Biết một số Biết tìm sự hỗ trợ hiểm. nguy hiểm và đồ vật gây khi gặp nguy hiểm Thời phòng tránh nguy hiểm gian Cuối Tổng Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ Đ CĐ năm số 40 39 1 38 2 39 1 37 3 Tỉ lệ 97% 3% 95% 5% 97% 3% 93% 7% % III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 12/10
  11. 1. Bài học kinh nghiệm Trong suốt quá trình thực hiện đề tài tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: - Cô giáo phải tận tâm, tận lực với nghề, thường xuyên theo dõi, giám sát trẻ để kịp thời phòng tránh các tai nạn có thể xảy ra. - Giáo viên phải lên kế hoạch cụ thể, có biện pháp khắc phục phù hợp với tình hình lớp học - Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để đi đến sự thống nhất trong việc phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ. - Luôn giáo dục lồng ghép các nội dung và dạy trẻ các kiến thức cơ bản về cách phòng tránh, nhận biết các nguy cơ gây tai nạn cho bản thân để trả tự biết bảo vệ bản thân khi cần thiết. Từ những biện pháp đã áp dụng trong suốt thời gian thực hiện đề tài tôi đã rút ra nhiều bài học b ổ ích. 3. Ý kiến đề xuất * Đối với phòng giáo dục: Tiếp tục mở các lớp tập huấn về chuyên đề phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, xây dựng các tiết kiến tập để giáo viên chúng tôi được học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn. * Đối với nhà trường: Tiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về cơ sở vật chất cho giáo viên trong việc xây dựng môi trường lớp nói chung và phòng tránh tain ạn thương t ích nói riêng * Đối với các bậc phụ huynh : Thường xuyên phối kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ nói chung và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng để mang lại kết quả cao nhất. Quan tâm ủng hộ các phong trào nhà trường tổ chức để nhà trường ngày một phát triển đi lên. Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã rút ra trong thời gian công tác. Trong quá trình thực hiện chắc chắn còn có nhiều khiếm khuyết rất mong được sự góp ý của cấp trên và đồng nghiệp để bản thân rút kinh nghiệm trong những năm tiếp theo tại nhà trường được tốt Xin chân thành cám ơn! PHỤ LỤC 13/10