Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh Lớp 1 dân tộc thiểu số
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh Lớp 1 dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_vai_bien_phap_day_tang_cuong_tieng.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một vài biện pháp dạy tăng cường tiếng Việt cho học sinh Lớp 1 dân tộc thiểu số
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu tính liên quan dạy- học với các môn học khác. Mục tiêu của chương trình “hình thành và phát triển” ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt đó là: Nghe, nói, đọc, viết. Học sinh học Tiếng Việt bằng tư duy trực tiếp, thông qua sự tiếp cận ngôn ngữ tự nhiên từ việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày một cách tự phát đến việc nắm ngôn ngữ một cách hệ thống qua các bài học. Từ đó học sinh có tâm lý tự tin trong học tập. Bằng hiểu biết qua nghe, nói khi học đọc và viết học sinh có thể dễ dàng nhận ra mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết, giữa âm thanh và ngữ nghĩa, ngữ pháp qua đó các em có thể học đọc, học viết dễ dàng. Nghị quyết 40/2002/NQ- QH của quốc Hội khóa IX về đổi mới giáo dục phổ thông đã khẳng định: Tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhất trong hệ thống quốc dân. Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách: vừa là môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh. Thực tế cho thấy vốn tiếng Việt của học sinh còn hạn chế đặc biệt là học sinh lớp Một. Việc nghe, nói, đọc, viết và kĩ năng giao tiếp của các em học sinh dân tộc thiểu số lại càng khó khăn. Một mặt do điều kiện kinh tế, điều kiện học tập, trình độ nhận thức trong đó sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên. Học tốt môn Tiếng Việt trở thành điều kiện thuận lợi cho việc học các môn học khác. Do đó, ngay từ khi bước vào ngưỡng cửa của lớp Một, việc hình thành nên một tư duy ngôn ngữ cho các em là hết sức cần thiết. Tiếng Việt là tiền đề cho quá trình học tập của các em sau này. Tập nói tiếng Việt là nhiệm vụ đầu tiên với các em. Học sinh dân tộc cần có vốn tiếng Việt trước để học chữ. Bộ giáo dục đã có nhiều văn bản chỉ đạo như công văn 9832/ BGD&ĐT - GDTH ngày 1 tháng 9 năm 2006; công văn 9890/ BGD&ĐT – GDTH ngày 17 tháng 9 năm 2007 về việc hướng dẫn nội dung, phương pháp giáo dục cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn; công văn số 8114/ BGD&ĐT- GDTH V/v nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số ban hành ngày 15 tháng 9 năm 2009; công văn 5842/BGD&ĐT- VP ngày 01 tháng 09 năm 2011 hướng dẫn điều chính nội dung dạy học. Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội nghị "Triển khai các phương án tăng cường tiếng Việt (lớp 1) cho học sinh dân tộc thiểu số ". Tại hội nghị, xuất phát từ những quan điểm, lý luận giáo dục và cách tiếp cận gắn với đặc điểm học sinh dân tộc các vùng miền, năm phương án về chủ đề này đã được trình bày, và trao đổi ý kiến rộng rãi. Đó là: 1) Chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo trước tuổi đến trường (Vụ GD Mầm non). 2) Dạy tiếng Việt trên cơ sở tiếng mẹ đẻ trong chương trình song ngữ Ê- đê- Việt (Vụ GD Dân tộc). 3) Nghiên cứu thử nghiệm giáo dục song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ (Trung tâm Nghiên cứu GD dân tộc). 4) Dạy học tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở lớp 1(Nhóm tăng cường năng lực dạy và học- Dự án PEDC). 5) Dạy học lớp 1 cho học sinh dân tộc chưa biết nói tiếng Việt (Trung tâm Công nghệ GD). GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 3
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Trường Tiểu học Võ Thị Sáu là một trường thuộc vùng khó khăn. Toàn trường có 542 học sinh, trong đó có 515 em dân tộc thiểu số chủ yếu là dân tộc Ê – đê chiếm trên 95%. Trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ giáo viên trong tổ chưa đồng đều, số giáo viên người dân tộc thiểu số chiếm 31,1% kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế. Chất lượng giáo dục hàng năm còn thấp, tỉ lệ học sinh thành thạo bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết chưa cao. Năm học 2017 – 2018, khối 1 có 110 em, trong đó học sinh dân tộc thiểu số là 104 em chiếm 94,5%, số em người Kinh cũng gặp không ít khó khăn. Mặc dù hằng năm đã được nghiệm thu lớp Mẫu giáo 5 tuổi, nhưng trong thực tế có một số em đến ngày nghiệm thu mới ra lớp vì vậy vốn tiếng Việt của các em còn nghèo nàn nên việc giao tiếp của các em gặp nhiều khó khăn. Mặt khác qua 3 tháng nghỉ hè các em không có cơ hội giao tiếp bằng tiếng phổ thông. Đây là một trong những khó khăn lớn nhất cho giáo viên dạy lớp Một. Những em này hầu như chưa biết tiếng Việt và chưa biết giao tiếp bằng tiếng Việt. Tỉ lệ học sinh có thể hỏi, trả lời và hiểu được yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm tỉ lệ một phần nhỏ. Các em chỉ nghe và hiểu được những câu lệnh đơn giản như “trật tự”, “ra chơi”, “vào lớp”, “ra về”. Khi bước vào lớp Một, kiến thức về tiếng Việt của các em như một trang giấy trắng. Giáo viên rất vất vả trong quá trình truyền thụ kiến thức cho các em vì người giáo viên vừa phải dạy tiếng kết hợp dạy chữ, dạy kỹ năng sống. Qua thực tế giảng dạy, tôi luôn trăn trở tìm nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục như đổi mới phương pháp dạy học, tăng thời lượng môn tiếng Việt theo chương trình 300 tiết lên 500 tiết, tăng cường phụ đạo học sinh còn khó khăn trong học tập, tổ chức các hình thức học tập theo nhóm, đôi bạn cùng tiến, nhiều tiết học kéo dài 60 – 65 phút song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn. Có khi một câu hỏi giáo viên đưa ra đến ba lần nhưng các em vẫn không hiểu, không trả lời được. Cũng có khi các em chỉ trả lời trống không, không có đầu câu và cuối câu. Một vài em sau khi lên lớp mới chỉ biết đánh vần, chưa có khả năng đọc thông viết thạo, một số em không thích đi học vì không tiếp thu được bài. Xảy ra tình trạng này không phải là do giáo viên cho học sinh lên lớp khi chưa đủ điều kiện lên lớp mà do các em còn ít vốn tiếng Việt nên các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động rất dễ quên. Lại thêm 3 tháng nghỉ hè các em đã quên khá nhiều kiến thức trong đó đặc biệt quan trọng là quên việc đọc, viết là làm toán dẫn đến tình trạng nhiều học sinh ngồi nhầm lớp. Việc tạo thói quen và bồi dưỡng tiếng Việt của các em ở gia đình và cộng đồng cũng gặp khó khăn vì người dân thường sống theo buôn làng, ít giao tiếp với người Kinh, không có điều kiện giao tiếp bằng tiếng phổ thông. Nhiều người trong gia đình không nói được tiếng Việt hoặc ít sử dụng tiếng Việt nên việc sinh hoạt giao tiếp trong gia đình hầu như bằng tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, khi trẻ ra lớp thường chưa nói và hiểu được tiếng Việt. GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 4
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu Bên cạnh đó, trình độ dân trí vẫn còn thấp, các gia đình chưa thật sự quan tâm đến việc học tập của con em. Nhiều em học sinh vì hoàn cảnh khó khăn của gia đình nên thường xuyên phải nghỉ học. Nhiều gia đình không có bàn ghế, không có góc học tập để các em học ở nhà. 3. Nội dung và hình thức của giải pháp a. Mục tiêu của giải pháp Nghiên cứu lựa chọn giải pháp phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiếu số nhằm tăng cường tiếng Việt một cách hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng giáo dục giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học. Tăng cường tiếng Việt cho học sinh lớp Một, giúp các em tự tin mạnh dạn trong giao tiếp, tiếp thu các môn học có hiệu quả là cơ sở để các em học tốt ở các lớp trên. b. Nội dung và cách thức thực hiện của giải pháp Biện pháp thứ nhất: Phối hợp và đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế của lớp học Đổi mới phướng pháp dạy - học và đánh giá đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học. Đây là việc làm thường xuyên, liên tục của người giáo viên nhằm đem đến cho người học sự hứng thú trong học tập và hiệu quả cao nhất. Đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá nhằm giúp học sinh chủ động trong việc học, chống lại thói quen học tập thụ động. Rèn luyện cho học sinh cách học theo nhóm, phát huy tính sáng tạo, năng động, cách trình bày một vấn đề, cách thuyết trình trước đám đông, cách trả lời câu hỏi nhanh và đúng. Loại bỏ dần thói quen thu nhận thông tin một cách thụ động của người học để hoạt động học thực sự là một quá trình kiến tạo. Một tiết học thành công phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một trong những yếu tố không thể thiếu đó là sự phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học, và đối tượng học sinh. Mỗi phương pháp có một ưu thế riêng không có phương pháp nào là vạn năng. Vì vậy, người giáo viên phải biết vận dụng, lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh vừa truyền đạt kiến thức của bài học đồng thời tăng cường tiếng Việt bằng những phương pháp như sau: Phương pháp 1: Phương pháp quan sát, động viên, khen thưởng học sinh. Trong mỗi tiết dạy, người giáo viên thường quan sát, nắm bắt kịp thời từng đối tượng học sinh. Đối với những em năng khiếu thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn. Còn với học sinh khó khăn trong học tập phải nhẹ nhàng an ủi động viên: “ Em đã có tiến bộ, nếu em đọc không sai dấu thanh sắc thì em đọc hay hơn”. Chỉ bằng những lời động viên, khích lệ nhỏ cũng tạo cho các em có sự hứng thú học tập. Không chỉ động viên khen khen ngợi mà còn giành nhiều thời gian để giúp đỡ các em. Trong giờ ra chơi giáo viên nên trò chuyện, chỉ bảo cho các em những chỗ các em chưa biết. Với phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn, cây bút... cũng làm cho các em phấn khởi và cố gắng hơn. . Ví dụ: Em H’Sê Na Bkrông lúc đầu em đọc rất yếu lại đọc sai dấu thanh sắc với dấu thanh nặng. Thấy vậy, tôi thường xuyên gọi em đọc bài. Tôi phân GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 5
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu tích lại cấu tạo của tiếng em đọc sai gồm có âm, vần, dấu thanh sau đó hướng dẫn cách phát âm thật kĩ lưỡng. Đối với tiếng có dấu thanh sắc khi phát âm chú ý cao độ tức là phải đọc lên giọng, còn tiếng có thanh nặng cao độ thấp nên đọc xuống giọng. Sau đó phát âm mẫu rồi yêu cầu em phát âm lại. Mặc dù em phát âm chưa chuẩn nhưng vẫn động viên và khen ngợi. Vì thế dần dần em mạnh dạn, tự tin hơn khi tham gia hoạt động học và một thời gian sau em đã phát âm đúng. Phương pháp 2: Phương pháp hỏi đáp Đây là phương pháp mà giáo viên đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện những cái mới từ đó tự chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động. Ví dụ: Khi dạy bài 8: l – h, sau khi cho học sinh tìm ghép trên bảng gài âm mới, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi hướng các em suy nghĩ trả lời phát hiện cái mới như sau: - Đây là âm gì? - Tiếng lê gồm có mấy âm tạo thành? Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên dùng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ nghe, dễ hiểu tránh những câu hỏi dài dòng, câu hỏi có hoặc không. Lời nói của giáo viên khi đưa ra câu hỏi phải nhẹ nhàng, tuyệt đối không la mắng khi học sinh trả lời sai. Phương pháp 3: Phương pháp tổ chức học nhóm Học tập theo nhóm là một hình thức tổ chức dạy học mà trong đó học sinh của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ. Là phương pháp có sự tham gia tích cực của học sinh. Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính cách dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp học sinh rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề khó khăn.. Kết quả làm việc của nhóm được trình bày và đánh giá trước toàn lớp. Phương pháp dạy học theo nhóm được đánh giá là một phương pháp tích cực, hướng vào học sinh, phát huy cao độ khả năng hợp tác, giúp đỡ học tập lẫn nhau. Vì vậy trong mỗi tiết dạy giáo viên thường chia nhóm cho các em học tập đảm bảo nhóm nào cũng có em năng khiếu, em còn khó khăn trong học tập. Qua hoạt động tổ chức học theo nhóm các em được học tập lẫn nhau, từ đó các em sẽ mạnh dạn và tự tin hơn trong giao tiếp. Tuy vậy giáo viên không nên lạm dụng phương pháp dạy học theo nhóm quá nhiều. Ví dụ: Khi dạy bài 17: U, Ư, sau khi cho các em nhận biết âm u và âm ư, tôi tổ chức cho các em tìm tiếng, từ có chứa âm vừa học. Giáo viên chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có 4 em trong đó một em làm nhóm trưởng. Sau đó giao việc và thời gian cho các em thảo luận tìm ra những tiếng từ có chứa vần vừa học. Trong quá trình thảo luận, các em trao đổi tìm ghép vào bảng gài những tiếng từ theo yêu cầu. Hết thời gian, các em tự phân công nhau báo cáo GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 6
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu kết quả làm việc của nhóm mình. Các bạn khác nghe để bổ sung ý kiến nếu thấy còn thiếu. Qua hình thức tổ chức này giúp các em mạnh dạn, tính thi đua, học hỏi lẫn nhau, được nói một cách tự nhiên dù kết quả thảo luận chưa cao. Khi dạy phần luyện nói bài tập đọc Bàn tay mẹ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 2 trang 56, giáo viên chia nhóm, giao việc, quy định thời gian cho các em thảo luận sau đó tổ chức cho các em thực hành hỏi đáp theo nhóm đôi, một em hỏi một em trả lời. - Ai nấu cơm cho bạn ăn? Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn. - Ai chăm sóc khi bạn ốm? Mẹ tôi chăm sóc khi tôi ốm. - Ai mua quần áo mới cho bạn? Mẹ tôi mua quần áo mới cho tôi. - Ai vui khi bạn học tốt? Mẹ vui khi tôi học tốt. Khi học sinh thực hành hỏi đáp, giáo viên theo dõi, sửa chữa kịp thời nếu các em nói câu ngược hoặc nói câu thiếu thành phần. Với những kết quả đạt được trong quá trình sử dụng phương pháp thảo luận nhóm đã giúp học sinh trở nên mạnh dạn, tự tin, vốn tiếng Việt của các em đã được cải thiện rất đáng mừng. Các em đã có khả năng tự đặt ra những câu hỏi, biết diễn đạt bằng lời những ý kiến của mình trước tập thế. Việc giao tiếp của các em cũng tốt hơn. Không khí lớp học sôi động, hấp dẫn, các em tiếp thu bài cũng dễ dàng hơn, đặc biệt tạo điều kiện để các em bổ sung vốn tiếng Việt một cách hiệu quả. Phương pháp 4: Phương pháp tổ chức các trò chơi Trò chơi học tập là hình thức học tập thông qua trò chơi ''Học mà chơi, chơi mà học '' tạo ra sự hứng thú và niềm tin trong học tập, duy trì được khả năng chú ý của các em trong tiết học. Trò chơi học tập không chỉ nhằm giải trí, củng cố, hệ thống hoá kiến thức được học, mở rộng vốn từ, khắc sâu kiến thức, nắm chắc âm vần vừa học, biết vận dụng vào từng trường hợp cụ thể. Trò chơi giúp các em phát triển cả về năng khiếu lẫn tư duy. Tạo môi trường để rèn luyện sự linh hoạt, nhạy bén, có thói quen phản ứng nhanh giúp các em có tính mạnh dạn, tính hợp tác, tính thi đua, tính kỉ luật khi thể hiện mình trước tập thể. Thông qua trò chơi tạo không khí thi đua sôi nổi trong mỗi tiết học, làm cho tiết học trở nên nhẹ nhàng hơn, sinh động và hiệu quả hơn. Vì vậy cần xác định rõ mục đích của mỗi trò chơi, tuân thủ các nguyên tắc và thay đổi các hình thức tổ chức cho học sinh chơi. Có thể tổ chức trò chơi khi thì vào bài, có khi để dẫn dắt các em chiếm lĩnh kiến thức mới cần đạt, có lúc để củng cố, hệ thống hoá kiến thức trong một bài hay trong một chương. Khi tổ chức trò chơi, cần phổ biến tên trò chơi, nội dung chơi, vật dụng phục vụ cho trò chơi, luật chơi và trước khi tổ chức chơi cho các em chơi thử để các em tự tin hơn. Một trong những trò chơi phát huy tính tích cực thể hiện kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp là phương pháp đóng vai. Đóng vai là một trong những phương pháp gây được hứng thú trong học tập cho học sinh học mà chơi, chơi mà học, rèn tính tự tin, tinh thần đoàn kết đặc GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 7
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu biệt đây là điều kiện tốt để tăng cường tiếng Việt cho học sinh song để mang lại hiệu quả, giáo viên và học sinh phải đầu tư nhiều thời gian. Ví dụ khi dạy bài tập đọc Vẽ ngựa, sau khi hướng dẫn đọc và tìm hiểu bài, giáo viên cho các em xác định bài có mấy nhân vật? Đó là nhân vật nào? Cho các em phân vai và đọc theo vai nhân vật mình yêu thích. Đến phần luyện nói, các em hỏi đáp. Một bạn vai người hỏi, một bạn vai người trả lời. Bạn có thích vẽ không? Tôi rất thích vẽ. Bạn thường vẽ vào lúc nào? Ở đâu? Tôi thường vẽ vào giờ học Mĩ thuật. Tôi vẽ trong vở tập vẽ. Đối với hình thức tổ chức dạy học này, các em hào hứng tham gia, mạnh dạn, tự tin trình bày những suy nghĩ, việc làm của bản thân. Tiết học trở nên sôi động và hấp dẫn, hiệu quả của tiết dạỵ khá thành công. Qua đó vốn tiếng Việt của các em cũng được cải thiện đáng kể. Bước đầu các em có kĩ năng đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi có đủ thành phần. Phương pháp 5: Phương pháp kiểm tra, đánh giá Thực hiện thông tư 22/2016/TT – BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT- BGD ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo. Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết dạy, theo định kì. Kiểm tra, đánh giá là một việc làm nhằm động viên khuyến khích và chỉ ra những thiếu sót của học sinh giúp học sinh có hướng khắc phục. Từ đó giúp giáo viên và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp. Qua kết quả kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một số phương pháp dạy học nhằm nâng cao kĩ năng nghe, nói, đọc, viết và sự tự tin trong giao tiếp từ đó nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số. Biện pháp thứ hai: Bồi dưỡng những học sinh thành thạo tiếng Việt để làm trợ giảng cho giáo viên Những năm trước đây, dự án PEDC đã hỗ trợ kinh phí để hợp đồng mỗi điểm trường một nhân viên là người dân tộc thiểu số để hỗ trợ, giúp đỡ giáo viên trong việc “ phiên dịch ” hướng dẫn, làm quen với giáo viên. Giúp cho học sinh hiểu được những yêu cầu của giáo viên và ngược lại nhằm nâng cao chất lượng trong quá trình giảng dạy. Song việc thực hiện gặp nhiều khó khăn nên hiệu quả mang lại không được như mong muốn. Từ năm 2010, dự án PEDC kết thúc, giáo viên người Kinh không biết tiếng dân tộc nên gặp khó khăn trong quá trình giảng dạy nhất là đối với học sinh lớp Một. Vì vậy nhiều giáo viên vào đầu năm học đã nhờ vài em có vốn tiếng Việt nổi trội trong lớp làm “ phiên dịch” trong quá trình tổ chức lớp học. GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 8
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu Sau đó, giáo viên bồi dưỡng, hướng dẫn những em học sinh này giống như một “ trợ giảng” đắc lực cho giáo viên nhằm thực hiện phương pháp hỏi đáp trong quá trình dạy học. Biện pháp này rất gần gũi và nhẹ nhàng giúp giáo viên và học sinh cảm thấy thoải mái, không còn sự ngăn cách mà không tốn nhiều thời gian. Không nhất thiết trong suốt tiết học chỉ có giáo viên hỏi - học sinh trả lời. Để phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập, giáo viên định hướng cho học sinh kĩ năng hỏi, đáp thông qua người học với người học. Trong mỗi tiết học, giáo viên thường xuyên phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu để các em có thêm kĩ năng đặt câu hỏi. Những em năng khiếu trong lớp “thay mặt” giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi để bạn mình suy nghĩ và trả lời. Cũng có lúc nhiều bạn chưa hiểu nên phải hỏi thêm bằng tiếng dân tộc. Hình thức này nhằm khuyến khích học sinh mạnh dạn và hình thành kỹ năng đặt câu hỏi, trả lời trước đám đông, giúp các em có động lực tìm tòi, học hỏi để tự nâng cao vốn tiếng Việt của mình khi được thầy cô tin tưởng giao nhiệm vụ. Những em học sinh khác cũng có động lực cố gắng có được vốn tiếng Việt để trả lời được những câu hỏi do chính bạn mình đặt ra bằng tiếng Việt. Qua thời gian thực hiện giải pháp này, cho ta thấy kết quả đem lại rất khả quan. Tiết học nhẹ nhàng, các em rất hứng thú vì được tham gia vào các hoạt động học tập chủ động. Nhiều em học sinh được giáo viên bồi dưỡng đã trở thành những học sinh năng khiếu có kỹ năng điều hành hoạt động học trong lớp, có kĩ năng nghe và diễn đạt tiếng Việt rất tốt. Biện pháp thứ ba: Tăng cường Tiếng Việt cho học sinh thông qua dạy Môn Tiếng Việt Dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp Một dân tộc thiểu số quả là khó khăn bởi đây là ngôn ngữ thứ hai các em. Vào lớp Một, các em bắt đầu tiếp cận với vốn tiếng Việt không chỉ học chữ mà còn học nói. Tồn tại khó sửa nhất đối với các em học sinh dân tộc thiểu số là nói, viết thừa hoặc thiếu dấu thanh, nói câu thừa hoặc nói câu thiếu thành phần, nói ngược. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập, giao tiếp. Nó có thể làm ta hiểu sai nghĩa của từ, của nội dung câu nói. Vì thế việc dạy tăng cường tiếng Việt trong môn Tiếng việt có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng môn học. Do vậy, khi giảng từ, giải nghĩa từ, hướng dẫn phát âm giáo viên hướng dẫn kỹ, phát âm mẫu nhiều lần, sửa sai cụ thể cho các em. Thực hiện việc tăng thời lượng môn tiếng Việt theo chương trình 300 tiết lên 500 tiết cũng là một thuận lợi, học sinh có nhiều thời gian để luyện tập. Trên thực tế việc thực hiện tăng thời lượng môn Tiếng Việt từ 2 tiết thành 3 tiết nên thời gian các em thực hành đọc, nói nhiều hơn. Tạo cơ hội cho các em phát huy tính tự tin, mạnh dạn trong hoạt động học. Vậy để nâng cao có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, mạnh dạn trong giao tiếp, việc đầu tiên giáo viên phải giúp các em biết đọc, biết viết. Có đọc được mới viết được, có nghe được mới nói được. Đọc đúng mới viết đúng. Vì vậy để các em phát âm đúng, khi dạy phát âm giáo viên cần phát âm mẫu vài ba lần một từ nào đó rồi yêu cầu các em quan sát khẩu hình và lắng nghe cô phát âm sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại (cá nhân, GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 9
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu đồng thanh). Làm sao em nào cũng được đọc. Giáo viên theo dõi và sửa lỗi phát âm cho học sinh. Với những âm, tiếng khó khi phát âm giáo viên có thể mô tả bằng cách nêu rõ vị trí của cách đặt lưỡi, vị trí của lưỡi với răng, độ mở của môi... Giáo viên lưu ý cần sử dụng các từ ngữ mô tả dễ hiểu kết hợp với việc cho học sinh quan sát giáo viên phát âm. Việc phát âm được tiến hành với các mức độ khác nhau: âm, vần, tiếng chứa vần và dấu thanh, từ, câu, bài. Từ đó học sinh phát âm một cách chính xác hơn. Để thay đổi không khí và thu hút học sinh học tập trong tiết học giáo viên có thể thay đổi hình thức dạy học bằng cách tổ chức các trò chơi học tập. Ví dụ : Dạy bài 94: oang, oăng trang 24 sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 2. Để phát huy tính tích cực chủ động trong học tập, cần khuyến khích học sinh năng khiếu đọc mẫu, sau đó gọi nhiều em đọc lại. Nhưng với bài này các em thường nhầm lẫn giữa oang/ oan, oăng/ oăn; từ ngữ ứng dụng có dấu thanh sắc. Nên giáo viên hướng dẫn thật kĩ lưỡng độ mở của môi rồi thực hiện mẫu cho các em quan sát. Nếu thấy học sinh chưa phát âm đúng, giáo viên phát âm cả hai vần oang và oan để các em phân biệt độ mở môi vần oan – oang. Khi đọc thành thạo vần, tiếp tục cho các em đọc tiếng, từ rồi so sánh hai vần vừa học rút ra điểm giống nhau và khác nhau của hai vần. Cuối tiết học, tổ chức cho các em thi nhận biết vần trong tiếng, từ và đọc lại bằng cách thi tìm tiếng, từ có chứa vần vừa học. Sang phần luyện tập đọc đoạn ứng dụng lắng nghe các em thường hay đọc sai tiếng nào thì dừng lại phân tích, hướng dẫn cách đọc ngay như tiếng nắng – năng; thoảng – thoãng; tập - tấp - tấc;....Rõ ràng khi được quan sát thực tế và thực hành đọc nhiều lần các em đọc đúng, rõ ràng hơn. Nghe và nói tiếng Việt có liên quan mật thiết với nhau. Có nghe được mới nói được, nghe đúng mới nói đúng. Do vậy, giáo viên phải nói rõ ràng, nói đúng, đồng thời phải nói chậm rãi để học sinh dễ tiếp thu và hướng dẫn cách phát âm, cách nói để học sinh nói theo. Khả năng nói tiếng Việt của học sinh được xác định là khả năng phát âm chuẩn, khả năng sử dụng tiếng từ đúng và phong phú trong khi nói, khi tham gia giao tiếp với người khác. Khả năng nói tiếng Việt là nền tảng ban đầu quan trọng nhất để hình thành các kỹ năng khác của môn Tiếng Việt. Đặc biệt đối với học sinh dân tộc Ê - đê các em nói thế nào viết thế ấy thì việc tập cho các em nói đúng lại càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thực tế trong giảng dạy cho thấy khả năng nói tiếng Việt của các em là rất yếu, nói lẫn lộn giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt. Đó là do vốn từ về tiếng Việt của các em còn quá ít, các em không diễn đạt được khi nói khi giao tiếp, còn rụt rè trong giao tiếp... Để tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc mỗi giáo viên cần quan tâm đến kỹ năng dạy phát triển lời nói trong các bài học âm vần cũng như kỹ năng nghe, nói trong tiếng Việt. Để thực hiện tốt được nội dung này giáo viên cần dùng tranh ảnh vật thật, điệu bộ, cử chỉ.. và lời nói tiếng Việt để hướng dẫn, gợi ý trao đổi trực tiếp với học sinh trong quá trình lên lớp. Giáo viên cần tổ chức cho học sinh thực hành nhiều lần theo mẫu( hỏi - trả lời) hoặc giao tiếp trực tiếp tại lớp bằng các hình thức như: cá nhân nói trước lớp, nói theo cặp, trò GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 10
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu chơi học tập. Qua các hoạt động đó tạo điều kiện cho học sinh tập nói tiếng Việt một cách hứng thú, tự giác. Ví dụ dạy phần luyện nói bài 13: N, M Giáo viên tổ chức cho các em luyện nói theo hình thức hỏi - trả lời như sau: Lần lượt đưa ra các câu hỏi, nhiệm vụ của các em quan sát bức tranh trang 29 nói lại những hiểu biết của mình. - Chủ đề luyện nói là gì? Thưa cô chủ đề luyện nói hôm nay là ba má, bố mẹ. - Quê em gọi người sinh ra mình là gì ? Quê em gọi người sinh ra em là bố mẹ, ma mí, ba má. Mỗi địa phương có cách gọi khác nhau. Giáo viên chú ý giảng cho học sinh hiểu rõ cách gọi của từng địa phương cụ thể: Có nơi gọi là bố mẹ, có nơi gọi là ba má. Còn đối với các em đồng bào thường gọi là ma, mí. Tất các các cách gọi trên đều chỉ người sinh ra chúng ta. - Nhà em có mấy anh em, em là con thứ mấy? Có nhiều câu trả lời khác nhau Nhà em có 2 anh em, em và em của em. Nhà em có 3 anh em: chị em, em và em của em. Nhà em có 2 chị em: em và em của em. - Em thường làm gì để bố mẹ luôn vui lòng? Để bố mẹ vui lòng em phải ngoan ngoãn, vâng lời bố mẹ, chăm học, giúp mẹ những việc vừa sức mình, không nghịch, không đánh nhau,... Căn cứ vào khả năng nói của học sinh giáo viên sửa chữa, uốn nắn kịp thời cách nói, nói phải đủ câu, không nói câu cụt thiếu thành phần, không nói câu ngược. Đồng thời giáo dục các em biết yêu quý bố mẹ - người sinh thành ra mình, biết tuyên truyền với mọi người cần thực hiện kế hoạch hóa gia đình tức là không nên sinh nhiều con. Có như vậy mới nuôi con khỏe dạy con ngoan. Cũng có thể tổ chức cho các em luyện nói theo cặp một em hỏi, một em trả lời. Như vậy sẽ tạo tính mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp cho các em. Trong giờ dạy, giáo viên chú ý tạo điều kiện cho tất cả các em đều được tham gia trả lời, giao tiếp tuỳ thuộc vào khả năng của từng đối tượng. Và dành nhiều thời gian tập và hướng dẫn thật kĩ nên hiệu quả nâng cao. Mặt khác, việc tập nói tiếng Việt cho học sinh phải được thực hiện dưới nhiều hình thức và phương pháp dạy học khác nhau như: dạy trong tiết dạy tăng cường tập nói tiếng Việt, thông qua trò chơi, nói chuyện.....với các phương pháp trực quan, phương pháp thực hành luyện tập theo mẫu, phương pháp giao tiếp, phương pháp đàm thoại. Việc phối hợp hệ thống các phương pháp dạy tập nói tiếng Việt giúp các em dễ hiểu dễ nhớ về nghĩa của từ thông qua các hình ảnh trực quan, nói đúng cấu trúc câu theo mẫu, hạn chế cách nói ngược theo tiếng địa phương. Tập cho học sinh khả năng diễn đạt theo tình huống, tự tin trong học tập, giao tiếp với GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 11
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu bạn bè với thầy cô giáo bằng tiếng Việt. Tuy vậy, cần phải có sự linh hoạt sáng tạo, không rập khuôn máy móc, mà phải tuỳ theo từng mức độ của đối tượng để lựa chọn nội dung và phương pháp cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả theo các việc như lựa chọn tiếng, từ để tập nói cho phù hợp. Luyện nói theo câu hỏi, câu trả lời có chứa tiếng, từ mới cung cấp cho học sinh. Tạo tình huống cho học sinh đối thoại được giao tiếp trong đó chú ý tạo môi trường giao tiếp học sinh với học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh đó việc sửa lỗi phát âm cho học sinh không kém phần quan trọng. Học sinh phát âm chưa chuẩn thường do nguyên nhân sinh lý, do những khiếm khuyết nào đó trong bộ máy phát âm. Do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ nên các em học sinh dân tộc thiểu số thường mắc phải đó là phát âm không chuẩn ở dấu thanh, tiếng có dấu thanh thì phát âm không có dấu thanh, tiếng không dấu thanh lại phát âm có dấu thanh, tiếng có thanh nặng thành tiếng có thanh sắc. Bên cạnh đó do cách phát âm của một bộ phận nhỏ giáo viên phát âm chưa chuẩn vẫn còn mang bản sắc của địa phương, phát âm còn lẫn ở một số phụ âm: l/n; ch/tr; s/x; chưa phát âm rung r/s. Chính vì vậy để sửa chữa được lỗi phát âm cho học sinh giáo viên cần phải có ý thức rèn luyện cho mình cách phát âm chuẩn vì có phát âm chuẩn thì giáo viên mới có thể nhận ra được lỗi phát âm sai của học sinh. Giáo viên chỉ ra chỗ sai trong phát âm của học sinh có thể so sánh với phát âm đúng. Giáo viên phát âm mẫu thật chuẩn xác, chậm, rõ ràng để học sinh theo dõi. Phát âm chuẩn không để tiếng địa phương ảnh hưởng tới phát âm mẫu của mình. Hướng dẫn học sinh phát âm. Cho học sinh phát âm nhiều lần. Để thay đổi hình thức học tập giáo viên có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi học tập để rèn cách phát âm cho các em. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh đọc bài Bàn tay mẹ sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1, tập 2, trang 55. Giáo viên yêu cầu học sinh lắng nghe bạn đọc, nêu lỗi bạn mắc phải khi đọc. Cụ thể các em thường đọc sai các từ yêu nhất - yếu nhât, nấu cơm – nâu cớm, rám nắng – ram nặng, tã lót - tả lọt. Lỗi sai chủ yếu là tiếng có dấu thanh đọc không có dấu thanh, tiếng không dấu thanh đọc có dấu thanh, tiếng có thanh huyền thành tiếng có dấu thanh sắc, tiếng có thanh nặng thành tiếng có thanh sắc. Lúc này giáo viên gợi mở hướng dẫn các em phân tích lại cấu tạo từ, tiếng, hướng dẫn cách mở môi, cao độ của từng dấu thanh rồi phát âm mẫu hoặc cho học sinh năng khiếu phát âm sau đó yêu cầu học sinh phát âm lại. Qua hoạt động này học sinh vừa được luyện phát âm vừa được mở rộng thêm vốn từ qua các từ ngữ mà các bạn tìm và giới thiệu trong nhóm vừa chủ động tự tin, mạnh dạn. Việc sửa lỗi phát âm không chỉ thực hiện trong giờ Tiếng Việt mà còn ở tất cả các môn học khác. Đối với những học sinh thường xuyên phát âm sai giáo viên quan tâm và sửa chữa kịp thời. Việc luyện tập thường xuyên sẽ tạo kỹ năng bền vững cho học sinh. Mặt khác giáo viên thường xuyên khuyến khích học sinh tự sửa chữa lỗi cho nhau bằng hoạt động thi đua như đôi bạn cùng tiến... ( thực hiện thông tư 22/2016/TT – BGDĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT- BGD ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 12
- Một vài biện pháp dạy tăng cường Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 DTTS ở trường TH Võ Thị Sáu Biện pháp thứ tư: Tăng cường Tiếng Việt trong các môn học khác Tiếng Việt là tiếng phổ thông nên tất cả mọi người đến trường đều phải học. Đây là ngôn ngữ bắt buộc trong giảng dạy nên để cung cấp kiến thức các môn học khác tất yếu cần dùng Tiếng Việt. Vậy tăng cường tiếng Việt trong các môn học khác như thế nào có hiệu quả để các em nắm được các thuật ngữ đặc trưng của bộ môn, các câu lệnh, giáo viên cần chú ý: Lời giới thiệu hay mô tả, hướng dẫn cần diễn giải chậm rãi, nhấn giọng vào các từ khó, từ ngữ chính, vừa diễn giải vừa sử dụng các động tác, tranh mih họa, vật thật để các em có thể hiểu được lời nói của thầy cô. Gặp các từ trìu tượng, khó hiểu thì phải vận dụng phương pháp giải nghĩa từ trong Tiếng Việt. Dạy tăng cường Tiếng Việt trong môn Tự nhiên – Xã hội Khi tìm hiểu nội dung một bài học đòi hỏi phải có sự tương tác giữa người dạy và người học, giữa người học với người học. Từ đó sẽ chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động. sự tương tác đó chính là lời đối thoại, hỏi đáp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh. Trong các tình huống dạy học trong môn Tự nhiên – Xã hội, giáo viên cần hướng dẫn học sinh vận dụng các từ ngữ, mẫu câu đã học và hội thoại, hỏi – đáp hoặc trình bày những hiểu biết, suy nghĩ của mình về vấn đề đang tìm hiểu. Giáo viên chủ động nêu vấn đề bằng cách đặt câu hỏi để học sinh thảo luận, trao đổi và trình bày hiểu biết của mình bằng lời. Luyện nói qua trao đổi, thảo luận nhóm. Giáo viên nêu nhiệm vụ cho từng nhóm, gợi ý các nhóm nêu vấn đề, thắc mắc và thảo luận giải quyết. Luyện nói trong trò chơi học tập. Khi tổ chức các trò chơi học tập giáo viên cần thiết kế trò chơi phù hợp với khả năng, trình độ tiếng Việt và đối tượng học sinh của lớp mình, động viên, khuyến khích mọi học sinh cùng tham gia. Ví dụ: Dạy bài Gia đình – sách giáo khoa Tự nhiên – Xã hội lớp 1 trang .. Chia nhóm và giao cho các nhóm quan sát bức tranh thứ nhất, nói cho nhau nghe về nội dung của bức tranh theo hệ thống câu hỏi như sau: Bức tranh vẽ gì? Gia đình bạn Lan có mấy người? Gồm những ai ? Mọi người trong gia đình Lan đang làm gì? Sau thời gian thảo luận, từng nhóm báo cáo kết quả nhóm mình thảo luận theo mẫu câu mà giáo viên đã yêu cầu như: Bức tranh vẽ gia đình bạn Lan. Gia đình bạn Lan có 3 người: Bố, mẹ và Lan. Gia đình Lan đang đi dạo chơi. Nếu em nào nói chưa đủ câu hoặc nói câu ngược, giáo viên uốn nắn kịp thời và cho nói lại ngay. Sau khi tìm hiểu nội dung các bức tranh rút ra nội dung cần ghi nhớ, tiếp tục cho các em giới thiệu cho nhau nghe về gia đình mình theo cặp đôi. Gia đình bạn có mấy người? Gia đình tôi có 5 người đó là ông nội, bố, mẹ, anh tôi và tôi. GV: Trần Thị Minh - Trường TH Võ Thị Sáu 13

