Báo cáo biện pháp Biện pháp giúp học sinh Lớp Một rèn phát âm khi học môn Tiếng Việt

docx 16 trang Chăm Nguyễn 15/05/2026 150
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo biện pháp Biện pháp giúp học sinh Lớp Một rèn phát âm khi học môn Tiếng Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxbao_cao_bien_phap_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_mot_ren_phat_a.docx
  • pdfBáo cáo biện pháp Biện pháp giúp học sinh Lớp Một rèn phát âm khi học môn Tiếng Việt.pdf

Nội dung tài liệu: Báo cáo biện pháp Biện pháp giúp học sinh Lớp Một rèn phát âm khi học môn Tiếng Việt

  1. 1/13 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài Môn Tiếng Việt ở lớp 1 có nhiệm vụ vô cùng quan trọng đó là hình thành bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết cho học sinh. Trong bốn kĩ năng đó, kĩ năng nói, đọc, phát âm chuẩn đặc biệt quan trọng. Nói đúng, đọc đúng sẽ giúp chúng ta diễn đạt tốt các vấn đề muốn nói, giúp ta tự tin hơn trong giao tiếp. Đối với học sinh lớp 1 nói đúng, đọc đúng gúp các em diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, viết đúng chính tả và tự tin trước bạn bè. Ngay từ đầu năm học, việc học môn Tiếng Việt theo chương trình giáo dục tổng thể năm 2018 đã thể hiện rất rõ tầm quan trọng của môn học này. Là môn học có số tiết nhiều nhất trong các môn học ở lớp 1. Bên cạnh đó sách giáo khoa Tiếng Việt nói chung và sách Tiếng Việt bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống nói riêng đã thay đổi hoàn toàn hình thức cũng như nội dung dạy học so với bộ sách giáo khoa trước đây. Mỗi bài học, học sinh phải thực hiện được 5 nội dung gồm: Nhận biết, đọc, tô - viết, đọc và nói. Thời lượng thực hiện trong 2 tiết. Điều này cho thấy khâu đọc rất được chú trọng trong mỗi bài học. Là một giáo viên được phân công dạy học lớp 1, tôi luôn chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng học Tiếng Việt cho các em bởi đây là tiền đề cho các em học tập các môn khác. Nhưng nỗi vất vả cho mỗi thầy cô dạy lớp 1 là đối tượng học sinh vừa mới đến trường còn quá non yếu về mọi mặt, từ ý thức học tập đến những kĩ năng học bài đều mới bắt đầu. Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác như ảnh hưởng của tiếng địa phương, do thời gian các em tập nói, bố mẹ người thân nói nựng con cháu khiến các em bắt chước theo, hoặc thấy con nói bi bô không rõ tiếng nhưng rất đáng yêu, bố mẹ nhắc lại “nhại” lại, vô tình trở thành thói quen khi nói. Cũng có thể do trong thời gian này, có em thay răng, chưa tự tin trước mọi người nên hạn chế khi nói, đọc. Sau một thời gian tiếp xúc và giảng dạy tôi nhận thấy mức độ học sinh trong lớp phát âm chưa chuẩn, nhầm lẫn về âm đầu, dấu thanh và một số vần như sau: Âm, vần, dấu thanh HS phát âm, đọc sai Số học sinh Tỷ lệ Nhầm lẫn l/n 8 /33 24% Nhầm lẫn các vần có kết thúc p/t/c, n/nh, n/ng 5/33 15% Thanh hỏi, thanh ngã 7/33 21% Nhận thức được vấn đề trên, qua thời gian giảng dạy tôi đã nắm được các yếu tố cơ bản của dạy học môn Tiếng Việt và tìm ra được một số biện pháp nhằm giúp các em rèn kĩ năng phát âm chuẩn các từ ngữ và dấu thanh khó khi học môn học
  2. 2/13 này. Vì vậy, tôi chọn đề tài: "Biện pháp giúp học sinh lớp Một rèn phát âm khi học môn Tiếng Việt". 2. Mục đích nghiên cứu Xây dựng một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 rèn phát âm trên cơ sở điều tra thực trạng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1A trường Tiểu học Dương Liễu A. Từ đó nâng cao chất lượng phát âm chuẩn cho học sinh. 3. Đối tượng nghiên cứu Một số biện pháp giúp học sinh lớp Một rèn phát âm khi học môn Tiếng Việt. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lí luận của vấn đề rèn phát âm cho học sinh lớp 1. - Nghiên cứu thực trạng của việc đọc và phát âm khi học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1A trường tiểu học Dương Liễu A. - Đề xuất mới: Biện pháp giúp học sinh lớp 1 có kĩ năng đọc và phát âm chuẩn. 5. Phương pháp nghiên cứu 5.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận Để nghiên cứu đề tài này, tôi tìm đọc, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc rèn kĩ năng phát âm cho học sinh: - Giáo trình Tiếng Việt thực hành – NXb Giáo dục Việt Nam - Hướng dẫn dạy học môn Tiếng Việt – NXB Đại học Sư phạm Hà Nội - Sách giáo viên, sách học sinh Tiếng Việt 1 các bộ sách. - Hỏi và đáp dạy học Tiếng Việt – NXb Giáo dục Việt Nam - Giải đáp 88 câu hỏi về giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học – NXB Giáo dục Việt Nam Thông qua các giáo trình, sách, tạp chí giáo dục và mạng internet tôi tiến hành thu thập, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu. 5.2.Phương pháp điều tra -Dự giờ đồng nghiệp để tham khảo, trao đổi, bổ sung ý kiến, học hỏi kinh nghiệm. - Khảo sát, đánh giá chất lượng học sinh bằng các bài luyện đọc. 5.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm Soạn giáo án và trực tiếp giảng dạy các giải pháp đưa ra trong môn Tiếng Việt lớp 1. 6. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về quy mô: Vấn đề phát âm của học sinh lớp 1 khi học môn Tiếng Việt. - Phạm vi về thời gian: Từ tháng 9 năm 2022 đến tháng 4 năm 2023. - Đối tượng: Lớp 1A, trường Tiểu học Dương Liễu A.
  3. 3/13 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận 1.1.Cơ sở thực tiễn Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở tiểu học. Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ phải học đọc, sau đó các em phải đọc để học. Đọc là công cụ để học tập các môn học. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh. Chính vì vậy, trường tiểu học có nhiệm vụ dạy đọc cho học sinh một cách có kế hoạch và có hệ thống. Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn tiếng việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này. Đó là hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh. Thông qua việc dạy đọc phải làm cho học sinh thích đọc và thấy rằng khả năng đọc là có ích lợi cho các em trong cả cuộc đời. Phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển. Việc dạy đọc sẽ giúp các em hiểu biết hơn, bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một cách lôgic cũng như biết tư duy có hình ảnh... Dạy đọc không chỉ giáo dục tư tưởng đạo đức mà còn giáo dục tính cách, thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh . Muốn đọc đúng, đọc diễn cảm thì trước hết giáo viên cần luyện phát âm đúng cho học sinh tiểu học. Muốn vậy, trước hết và thực chất phải giải quyết vấn đề phương ngữ. Mục tiêu của chúng ta là vươn đến một tiếng nói dân tộc Việt thống nhất, đẹp đẽ về mặt âm thanh. Muốn như vậy, chúng ta cần luyện cho học sinh phát âm chuẩn, đọc đúng đọc hay. Phát âm chuẩn sẽ được nhiều cái lợi trước hết nó giúp học sinh viết đúng chính tả sau đó còn giúp học sinh phát âm dễ dàng hơn khi học ngoại ngữ và học các môn học khác. Dựa vào tâm lý của người bản ngữ, chúng ta có thể chia các trường hợp phát âm lệch chuẩn chữ viết thành hai nhóm: Nhóm lỗi phát âm và nhóm biến thể phương ngữ. Chúng ta chỉ luyện cho các trường hợp được xem là mắc lỗi, nói không tròn tiếng. Còn nhìn chung, học sinh tiểu học hay mắc lỗi đọc thiếu âm đệm. Ví dụ: Hoa huệ -> đọc Ha huệ, phát âm lẫn giữa các thanh ?/. , '/~ , n/l ... Vậy nhiệm vụ của người giáo viên khi thực hiện đổi mới phương pháp dạy phân môn tập đọc, cụ thể là rèn phát âm chuẩn cho học sinh Tiểu học là gì? 1.2.Cơ sở khoa học Như chúng ta đều biết tất cả những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu văn hóa khoa học, những tư tưởng tình cảm của thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường có hạnh phúc đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại.
  4. 4/13 Biết đọc con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần. Từ đây, họ biết tìm hiểu đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tư duy. Biết đọc con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bản, giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng tình cảm của người khác. Đặc biệt, khi đọc các tác phẩm về văn chương con người không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động về tình cảm, nảy nở những ước mơ cao đẹp, được khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn. Không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc càng quan trọng vì nó sẽ giúp người ta sử dụng nguồn thông tin. Đọc chính là học, học nữa, học mãi. Đọc để tự học, học cả đời. Vì vậy, dạy đọc có ý nghĩa rất quan trọng. Để đọc tốt thì cần phát âm chuẩn. Bậc học Tiểu học được coi là bậc học nền tảng, là điểm xuất phát của quá trình học tập đối với mỗi con người, trong đó môn Tiếng Việt lớp 1 là môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, điểm xuất phát của bộ môn khoa học xã hội. Kĩ năng phát âm chuẩn là một trong những kĩ năng đặc biệt quan trọng trong 4 kĩ năng nghe, đọc, nói, viết trong môn Tiếng Việt ở Tiểu học. Nhất là các em học sinh lớp Một, lớp đầu cấp đặt nền móng cho khối kiến thức về sau. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác như ảnh hưởng của tiếng địa phương, tiếng mẹ đẻ, mà các em có những phát âm chưa chuẩn dẫn đến gặp khó khăn khi học Tiếng Việt mà cụ thể là phát âm chuẩn Tiếng Việt. 2. Thực trạng 2.1.Ưu điểm: - Các em có ý thức học tập khá tốt. - Phương pháp học tập phù hợp với đặc trưng môn để học sinh hoạt động tích cực và chủ động nhất. - Giáo viên không làm thay. - Trong những hoạt động dạy âm, vần: học sinh được giáo viên hướng dẫn phát âm, phân tích, đánh vần, đọc trơn nhiều lần và được luyện dưới nhiều hình thức. 2.2.Hạn chế: - Một số em chưa chủ động trong việc tiếp thu kiến thức. - Kĩ năng đọc của học sinh còn hạn chế. - HS lớp 1 nên sự tiếp thu còn chậm, sức tiếp thu của mỗi em lại khác nhau khiến các em chưa phát huy được năng lực của mỗi bản thân. Gây nhiều khó khăn cho giáo viên trong quá trình hướng dẫn học sinh. - Khả năng hợp tác nhóm của các em chưa tốt, một số em chưa mạnh dạn, tự tin, chưa chủ động, tích cực khi tham gia.
  5. 5/13 - HS tuổi còn nhỏ nên sự tập trung còn yếu, ham chơi, hiếu động. 3. Một số biện pháp giúp học sinh lớp 1 rèn kĩ năng phát âm chuẩn Vào các tiết Tiếng Việt mỗi khi học sinh phát âm chưa chính xác thì đó cũng là những lần tôi cảm thấy nhiệm vụ của mình chưa hoàn thành. Tôi cũng đã lựa chọn nhiều giải pháp cho những lỗi phát âm của học sinh để làm sao cuối cùng học sinh phải phát âm được và phát âm đúng. 3.1.Rèn cho học sinh phát âm theo mẫu Khi phát âm mẫu tôi cố gắng phát âm thật chuẩn, thật rõ ràng. Học sinh ở lớp của tôi hay phát âm sai các âm đầu n/l, các vần kết thúc p/t/c, n/nh/ng, nhầm lẫn thanh hỏi/thanh nặng, thanh ngã/thanh sắc nên khi học đến các âm, vần thì tôi sẽ làm mẫu thật cụ thể để học sinh lắng nghe và quan sát khẩu hình miệng khi phát âm. Ví dụ: + L: Khi phát âm lưỡi cong, đầu lưỡi hơi co chạm vào lợi trên và bật lưỡi ra. + N: Khi phát âm lưỡi thẳng hơn, đầu lưỡi sát hơn với vòm lợi trên. + Vần kết thúc bằng âm t: Nâng cơ hàm dưới chạm vào hàm răng trên để khóa vần, kết thúc vần thì đầu lưỡi ở giữa hai hàm răng như khi phát âm âm t. + Vần kết thúc bằng âm c: Miệng há tròn, phần gốc lưỡi cong lên, đầu lưỡi hơi rụt lại, kết thúc vần thì hàm dưới đẩy lên như khi phát âm âm c. + Vần kết thúc bằng âm p: Kết thúc vần thì hai môi mím lại. + Vần kết thúc bằng âm n: Kết thúc vần đầu lưỡi chạm vào răng. Khác với âm ng, kết thúc vần thì miệng hơi tròn, hơi và âm ra từ họng, lưỡi để tự nhiên. + Vần kết thúc bằng âm nh: Miệng há nhỏ, hơi bè sang hai bên, mặt lưỡi đặt thẳng, hơi và âm ra từ họng. Thanh hỏi, thanh ngã: Khi phát âm tôi dùng ngữ điệu, giọng nói để biểu thị và cho học sinh lắng nghe sự khác biệt giữa thanh hỏi/thanh nặng, thanh ngã/ thanh sắc để học sinh tự nhận thấy sự khác biệt giữa hai dấu thanh mà các em nhầm lẫn. Tôi luôn lắng nghe và quan sát cách phát âm của từng học sinh, nhanh chóng nhận ra lỗi của từng em để kịp thời uốn nắn, chỉnh sửa. Tôi yêu cầu học sinh phải quan sát cô khi cô phát âm. Ví dụ: Khi dạy Bài 12: h-l (sách Tiếng Việt 1 tập 1 – Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 36) Sau khi giáo viên và học sinh cùng thực hiện đọc xong phần âm, ghép âm để đọc từ ở hoạt động chia sẻ và khám phá. Đến phần quan sát tranh để đọc từ ngữ, giáo viên lần lượt đưa tranh minh hoạ cho từng từ ngữ: lá đỏ, bờ hồ, cá hố, le le... Sau khi đưa tranh minh hoạ và nêu yêu cầu, GV lưu ý HS đọc đúng, giáo viên cần đọc mẫu nhiều lần, đọc chậm, phát âm rõ từ ngữ . Ví dụ: lá (lờ-a-la- sắc lá), đọc cong lưỡi để học sinh bắt chước rồi đọc theo vì những từ ngữ này thường không chỉ học sinh đọc sai vì mới đọc mà một số em do ảnh hưởng của phương ngữ, tiếng mẹ đẻ nên phát âm nhầm lẫn n với l hoặc ngược lại. Cho học sinh biết: /n/ là một
  6. 6/13 âm mũi, khi phát âm, sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung, còn khi phát âm âm /l/ mũi không rung. Sau đó ta cho học sinh luyện phát âm âm / l/ bằng cách bịt mũi lại đọc; la, lo; lô; lu; lư, ....Khi bịt chặt mũi học sinh không thể phát âm các tiếng na; no; nô; nu; nư. Cho học sinh luyện nói câu: “Con lươn nó lượn trong lọ” ; Cái lọ lộc bình nó lăn lông lốc”. Hoặc hướng dẫn học sinh khi phát âm âm /l/ thì đưa lưỡi lên phía bên trên lợi của hàm trên ngạc cứng, còn khi phát âm /n/ thì đưa đầu lưỡi vào mặt trong của hàm răng..... Tôi cho học sinh luyện nhiều cách khác nhau, song chủ yếu vẫn là cô và bạn làm mẫu, học sinh làm theo đến khi thành thói quen. Sau mỗi bài học các âm, vần tôi cho các em luyện đọc ngay ở tiết luyện đọc, luyện nói trong giờ ra chơi, cả trong các môn học khác để tạo thói quen phát âm đúng cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài 16 M m N n (Trang 44), sau khi cho học sinh nhận diện âm n, tôi hướng dẫn phát âm bằng lời rồi phát âm mẫu yêu cầu học sinh quan sát khẩu hình miệng của cô, học sinh phát âm nối tiếp cá nhân, nhóm, đồng thanh. Đến phần quan sát tranh để đọc từ ngữ, giáo viên lần lượt đưa tranh minh hoạ cho từng từ ngữ: cá mè, lá me, nơ đỏ, ca nô và yêu cầu nói tên nhân vật, sự vật trong tranh cho mỗi từ ngữ, chẳng hạn nơ đỏ. Tôi hỏi học sinh: Khi đọc từ này em cần lưu ý âm nào trong tiếng nơ? Học sinh trả lời cần lưu ý âm n. Tôi cho học sinh so sánh cách phát âm của âm n và âm l. Các em nêu được là âm n phát âm thẳng lưỡi, còn âm l thì cong lưỡi. Ở lớp của tôi lúc đầu các em chưa phân biệt được hai âm n/l, sau khi được hướng dẫn các em đã có ý thức phân biệt, thỉnh thoảng mới có em đọc sai do quên. Lúc đó tôi cho học sinh đọc lại thì các em đều làm được. Tương tự như vậy, khi học các âm, vần khác tôi đều làm theo trình như vậy. Tôi cố gắng để tất cả học sinh đều được luyện đọc các âm, vần đang học. Nếu phát hiện học sinh nào đọc sai tôi sẽ chỉnh sửa ngay lúc đó. 3.2. Chữa lỗi phát âm bằng luyện tập, thực hành Tôi luôn động viên nhắc nhở các em phải chú ý, quan sát, lắng nghe cô giáo hướng dẫn, luôn có ý thức tự luyện phát âm đúng cả ở lớp và ở nhà. Không những trong môn Tiếng Việt mà các em cần phải phát âm chuẩn trong các môn học khác như Toán: khi đọc số, đọc phép tính, đọc yêu cầu bài tập hay khi phát biểu. Nếu đọc, nói không đúng người nghe sẽ không hiểu được. Tôi khuyến khích các em hàng ngày dành thời gian hợp lí để đọc truyện tranh trong sáng lành mạnh. Các em cùng nhau đọc, chia sẻ những cuốn truyện tranh trên góc thư viện của lớp. Bạn bè nói chuyện với nhau, thấy bạn mình nói chưa đúng thì sửa cho bạn. Vào những tiết thực hành, tôi thường cho các em làm các bài tập chính tả và rèn đọc theo bảng sau:
  7. 7/13 PHỤ ÂM ĐẦU n, l - nấu nướng, nặng nề, nắn nót, nâng niu, nứt nẻ, no nê, ... - lung linh, long lanh, lem luốc, lủng lẳng, lẫn lộn, lo lắng, ... v - vội vàng, vui vẻ, vất vả, vẻ vang, véo von, vòng vèo, vội vã, PHỤ ÂM CUỐI c, t, p - tấp nập, lóp ngóp, lộp độp, xúc xắc, lác đác, thác nước, thút thít, sụt sịt, ... n, ng, nh - cành chanh, đàn ngan, thẳng hàng, trăng sáng, bánh tráng, ... DẤU THANH Thanh hỏi - quả vải, quả ổi, nhổ cỏ, mở cửa, lửa đỏ, ... Thanh ngã - gần gũi, con muỗi, cơn bão, lẫm chẫm, con ngỗng, vẽ tranh, ngẫm nghĩ, ... Các em còn nhỏ chưa nói được câu dài nên chỉ cho luyện tiếng, từ như vậy.Hàng ngày tôi vẫn tìm kiếm các từ ngữ gần gũi, dễ hiểu trong quá trình dạy và sưu tầm trên các tài liệu khác nhau để thay thế vào các từ ngữ trong bảng. Tôi còn gửi cho phụ huynh bảng này để phụ huynh tham khảo luyện thêm cho con ở nhà. 3.3. Kết hợp với phụ huynh, giáo viên bộ môn 3.3.1. Phối hợp với phụ huynh Biết được đặc điểm của một số em hay phát âm sai, ngay cuộc họp phụ huynh đầu năm tôi đã mạnh dạn nêu ra những lỗi phát âm của học sinh thường mắc phải. Những lỗi đó đa số do ảnh hưởng của phương ngữ nếu sửa lỗi trên lớp học chưa đủ. Tôi đã nhờ các bậc phụ huynh kết hợp với cô giáo sửa lỗi phát âm ngay cả khi giao tiếp ở nhà bằng nhiều hình thức như: nói chuyện, đọc truyện cho bố mẹ nghe... . Muốn làm được điều đó phụ huynh nói chuyện giao tiếp bằng tiếng phổ thông, hạn chế sử dụng tiếng địa phương khi nói chuyện với trẻ. Đối với những học sinh đọc yếu và hay đọc sai các âm vần, dấu thanh, tôi thường yêu cầu phụ huynh cho con luyện đọc ở nhà rồi quay video bài đọc gửi cô hàng ngày. Tôi khuyến khích cả lớp cùng làm. Với mỗi video phụ huynh gửi tôi đều cố gắng dành thời gian xem hết và nhận xét bằng những biểu tượng trái tim và lời nhận xét mang tính động viên. Mỗi ngày đến lớp, trong giờ truy bài tôi đều
  8. 8/13 chọn mở các video học sinh gửi cho cả lớp cùng xem. Các em rất hào hứng, thậm chí có em còn có thể tự quay bài đọc của mình rồi tự gửi cho cô yêu cầu cô nhận xét và gửi nhiều biểu tượng trái tim. 3.3.2. Trao đổi với giáo viên bộ môn Tôi thường xuyên trao đổi với giáo viên dạy các môn Âm nhạc, Mĩ thuật, Tiếng Anh, Kĩ năng sống về các học sinh phát âm chưa chính xác. Yêu cầu giáo viên bộ môn để ý chỉnh sửa học sinh nếu em đó đọc, nói sai. 3.4. Luyện phát âm chuẩn bằng các trò chơi Trò chơi là một hình thức học thú vị. Các em có thể trò chuyện cười đùa, vừa học vừa chơi. Những trò chơi rất dễ thực hiện. Học bài vần nào có tên bạn ở trong lớp, tôi đều cho học sinh chơi trò Đố bạn tên mình. Đến phần tìm tiếng ngoài bài có vần vừa học, tôi hướng dẫn các em có thể tìm thêm các tiếng từ chứa vần đang học ở sách, báo, truyện thậm chí tên của các bạn trong lớp mình. Tôi cho học sinh quan sát các bạn một lượt rồi nói tên bạn lớp mình có vần đang học. Sau đó mời các học sinh đó lên bảng. Các em đặt câu hỏi các bạn dưới lớp: Đố các bạn mình tên là gì? Đố bạn đánh vần hoặc phân tích được tên của mình, ... Ví dụ 1: Học bài 57 anh - ênh - inh Học sinh tìm trong lớp tên bạn nào có vần anh, inh Học sinh dễ dàng nói được bạn Ánh, bạn Linh. Bạn Ánh và Linh bước lên bảng. Tuấn hỏi: - Đố các bạn tên của mình là gì? (Bạn Ánh) - Bạn hãy đánh vần tên của mình. (HS đánh vần nối tiếp theo dãy: Anh sắc Ánh
  9. 9/13 - Linh: Các bạn đã nói đúng tên của Ánh. Vậy đố bạn tên của tớ là gì? (Bạn tên Linh) - Tên của tớ có những âm, vần nào ghép lại? (Âm l đứng trước, vần inh đứng sau). Trò chơi này tôi hay áp dụng nhất ở những bài vần kết thúc n/ng/nh, p/t/c để rèn cho học sinh rất hiệu quả. Để cho học sinh nói đúng tên của bạn dễ hơn dạy các tiếng khác cũng có vần tương tự. Mà cách này giúp các em rèn kĩ năng nói trước tập thể, giúp tập thể lớp gần gũi, đoàn kết hơn. Đây cũng là giải pháp giúp các em khắc sâu kiến thức và tạo hứng thú trong học tập. Ví dụ 2: Khi dạy Bài 40: Ôn tập kể chuyện SHS trang 92, bài học này có những từ ngữ khó đọc, dễ nhầm lẫn mà học sinh thường phát âm chưa đúng, tôi tổ chức cho HS chơi trò chơi: “ Nhảy lò cò vòng quanh thế giới” Chuẩn bị: - GV vẽ các vòng tròn kế tiếp, mỗi vòng có các từ ngữ: chói lọi, gió nồm, bơi lội, lom khom, ngõ hẻm, bãi bồi,.. - Dạy cho HS đọc bài đồng dao: “Nhảy lò cò cho cái giò nó khỏe Nhảy khe khẽ cho nó khỏe cái chân” - Cách chơi: HS lên tham gia trò chơi vừa đọc bài đồng dao vừa kết hợp vận động; khi nhảy vào vòng nào thì đọc từ ở vòng đó. - HS cả lớp theo dõi, nhận xét. - GV khích lệ HS mạnh dạn tham gia. Qua trò chơi các em rất hào hứng tham gia và khắc sâu kiến thức. 3.5.Động viên, khuyến khích học sinh Theo thông tư 27 khen ngợi học sinh để động viên, khích lệ giúp đỡ các em học tập và rèn luyện. Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng tôi đã kết hợp với Ban phụ huynh của lớp cùng với học sinh tham gia nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp. Hàng ngày tôi thường có nhiều lời khen, tuyên dương trực tiếp trước lớp: - Con sẽ là một phát thanh viên tương lai đấy! Hãy tiếp tục phát huy nhé! -Ồ, con đã tiến bộ nhanh hơn cô nghĩ đấy! - Con đọc tốt lắm! Con hay chia sẻ bí quyết cho các bạn nhé!.... Sau những lần khen tôi lại tặng điểm, tặng sao gắn vào bảng thi đua. Bảng thi đua có danh sách học sinh cả lớp và cột nội dung để gắn ngôi sao hay mặt cười tương ứng với lời khen, dán trên bảng lớp để các em nhìn thấy mỗi ngày. Cuối tuần tôi dựa vào bảng thi đua và cho học sinh bình chọn để tặng khen các em. Hàng tháng tôi cũng tổ chức bình chọn bằng hình thức biểu quyết chọn ra những bạn có nhiều cố gắng và có nhiều tiến bộ để khen. Tôi làm những tấm
  10. 10/13 thiệp khen gửi về gia đình, gửi lên nhóm zalo của lớp. Phụ huynh cũng phấn khởi, hào hứng động viên con cháu. Dù những phần thưởng đó không có giá trị vật chất nhưng nó lại mang giá trị tinh thần rất lớn để động viên học sinh có hứng thú phấn đấu trong học tập. Qua thực hiện tôi thấy học sinh thi đua học tập rất tốt. 4. Hiệu quả thực hiện của việc áp dụng sáng kiến trong thực tế dạy học Qua một thời gian áp dụng thực hiện một số giải pháp rèn kĩ năng phát âm chuẩn các từ ngữ cho học sinh lớp 1 qua môn Tiếng Việt 1 theo chương trình GDPT 2018 bước đầu đã thu được những kết quả đáng phấn khởi đó là: * Đối với giáo viên: Giáo viên làm việc có tinh thần trách nhiệm hơn. Thực hiện nhiệm vụ chủ động, tự giác hơn. Hiệu quả công việc được nâng cao hơn. Chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt 1 theo chương trình mới, đặc biệt là việc rèn kĩ năng phát âm chuẩn có những chuyển biến khả quan. Công tác soạn, giảng của giáo viên có nhiều thay đổi phù hợp với thực tế của học sinh nơi địa phương công tác. Chất lượng bài soạn được nâng cao. Việc nhận xét, chữa lỗi của giáo viên đối với học sinh trong quá trình rèn đọc đi vào nền nếp, đồng bộ, hiệu quả hơn. Giáo viên tích cực tìm tòi, học hỏi, chủ động trong dạy học Tiếng Việt 1 theo chương trình GDPT 2018. * Đối với học sinh: Chất lượng học môn Tiếng Việt 1 phát triển theo chiều hướng tốt. Tinh
  11. 11/13 thần học tập của học sinh tốt hơn. Học sinh lớp phụ trách có những chuyển biến rõ rệt về kĩ năng phát âm. Các em có giọng đọc to, phát âm chuẩn, đạt được tốc độ đọc thông. Sau nhiều tuần thực dạy và áp dụng những biện pháp nêu trên trong mỗi tiết dạy Tiếng Việt, tôi đã thấy các em phát âm có tiến bộ rõ rệt. Ban đầu có tới hơn 10 em phát âm sai âm đầu hoặc vần, 3 em đọc sai dấu thanh, nhưng đến nay còn 1 em nhầm lẫn tiếng có vần kết thúc n/nh và 1 em có nhiều tiến bộ khi đọc các tiếng có thanh hỏi, thanh ngã. Như vậy là một tín hiệu mừng, chứng tỏ những biện pháp tôi áp dụng là có hiệu quả cao. Kết quả khảo sát sau khi thực hiện biện pháp: Âm, vần, dấu thanh HS Trước Sau phát âm, đọc sai Số học sinh Tỷ lệ Số học sinh Tỷ lệ Nhầm lẫn l/n 8 /33 24% 1/33 3% Nhầm lẫn các vần có kết 5/33 15% 1/33 3% thúc p/t/c, n/nh, n/ng Thanh hỏi, thanh ngã 3/33 9% 1/33 3% Dựa vào kết quả thống kê trên, tôi thấy vui hơn khi đã làm được những việc vừa trình bày. Tôi sẽ tiếp tục áp dụng các biện pháp đó trong thời gian tới với mong muốn cuối năm học sẽ có nhiều học sinh đọc tốt, viết đẹp, tự tin khi nói, đọc.