Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm non

docx 26 trang Chăm Nguyễn 02/08/2026 220
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_xay_dung_thuc_don_cac.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho t.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm non

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tên đề tài, sáng kiến: "Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm Non” 2. Lý do chọn đề tài: Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ Để đạt được mục tiêu phát triển cho trẻ mầm non thì việc kết hợp hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục là điều tất yếu, nhằm giúp cơ thể trẻ khỏe mạnh, phát triển cân đối đồng thời tư duy của trẻ cũng phát triển. Muốn cơ thể khỏe mạnh thì trước tiên chúng ta cần cho trẻ ăn đầy đủ dinh dưỡng và cân đối các chất dinh dưỡng hợp lí. Trường mầm non là nơi trẻ được tiếp xúc với bạn bè, cô giáo, cũng ở đây trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng một cách khoa học. Vì vậy việc cho trẻ ăn uống sao cho hợp lý, khoa học, đầy đủ chất dinh dưỡng giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tri thức, đạo đức là mục tiêu được đặt lên hàng đầu của trường mầm non. Trong trường mầm non các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng luôn được quan tâm đưa vào thực đơn, trong đó có tôm và cá là những thực phẩm giàu canxi, protein, các chất dinh dưỡng tốt cho sức khoẻ, giúp trẻ dễ hấp thu. Tôm, cá có chứa nhiều vitamin, trong đó vitamin A và D là những chất quan trọng cho xương của trẻ, tăng cường hỗ trợ tiêu hoá và chức năng ruột. Ngoài ra, tôm và cá còn chứa nhiều canxi, phốt pho, I-ốt, kẽm và nhiều loại khoáng chất để đảm bảo cho trẻ sự phát triển toàn diện. Tôm, cá là những thuỷ hải sản quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày của chúng ta. Hai loại thực phẩm này mang đến cho cơ thể hàm lượng dinh dưỡng cao, nhất là đối với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, trong thực tiễn, trẻ em ăn nhiều tôm, cá có tốt không và cách chế biến các món ăn từ tôm, cá như thế nào để đảm bảo dinh dưỡng của tôm và cá trong các bữa ăn của trẻ. Là nhân viên nuôi dưỡng trong trường mầm non, tôi nhận thấy việc cung cấp các món ăn giàu chất dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ là việc làm cần thiết. Bởi lẽ, mục đích hỗ trợ sự phát triển sức khỏe toàn diện cho trẻ chính là việc hình thành cho trẻ thói quen ăn uống lành mạnh từ khi còn nhỏ. Do vậy tôi đã lựa chọn đề tài: "Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm Non” để làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.
  2. 2 3. Phạm vi và đối tượng áp dụng của sáng kiến: 3.1. Phạm vi: Đề tài được thực hiện từ tháng 09/2024 đến tháng 04/2025 tại trường mầm non Đông Yên A. 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp xây dựng thực đơn các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm Non. 4. Mục đích nghiên cứu Xây dựng thực đơn và chế biến ra những món ăn ngon từ tôm, cá giúp trẻ phát triển toàn diện về thể lực và trí lực. Đánh giá thực trạng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ ở lứa tuổi mầm non. Trên cơ sở đó tìm hiểu nguyên nhân chi phối về dinh dưỡng trong các món ăn và tìm ra biện pháp tích cực, nâng cao giá trị dinh dưỡng của tôm, cá nói riêng và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ ở lứa tuổi mầm non nói chung. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng vấn đề 1.1. Cơ sở lý luận Tôm và cá có chứa lượng protein cao hơn so với thịt gia cầm, tôm và cá cũng giàu các axit amin thiết yếu (bao gồm cả taurine) giúp trẻ dễ hấp thu. Tôm cá có chứa nhiều vitamin, trong đó, vitamin A và D là những chất quan trọng cho xương của trẻ, tăng cường hỗ trợ hệ tiêu hóa và chức năng ruột. Trong tôm và cá có chứa nhiều chất mucopolysaccharide, đây là chất có chức năng chống ung thư Ngoài ra, tôm cá có chứa nhiều canxi, phốt pho, iốt, kẽm và nhiều loại khoáng chất để đảm bảo cho trẻ sự phát triển toàn diện. 1.2. Cơ sở thực tiễn Việc xây dựng thực đơn cho trẻ luôn được quan tâm ở trường mầm non nơi tôi công tác. Thực đơn hiện tại được áp dụng tại nhà trường mặc dù đã đảm bảo về yêu cầu xây dựng thực đơn như: đa dạng và phong phú, cân đối về dinh dưỡng cũng như phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của từng độ tuổi. Cụ thể, thực đơn đã có đầy đủ các nhóm thực phẩm cơ bản như: rau củ, hoa quả, ngũ cốc, thịt, cá, trứng và các sản phẩm từ sữa. Tuy nhiên, các món ăn chế biến từ tôm, cá trong thực đơn của nhà trường chưa hấp dẫn, thu hút được trẻ. Kinh nghiệm trong chế biến món ăn của đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng không đồng đều, kỹ thuật chế biến các món ăn từ tôm, cá còn chưa có sự sáng tạo và đổi mới.
  3. 3 Bên cạnh đó, Ban giám hiệu nhà trường luôn có sự định hướng khuyến khích đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng của trường phát huy trí tuệ, tìm tòi sáng tạo trong việc cải tiến chế biến các món ăn mới, đồng thời trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho công tác nuôi dưỡng. Năm học 2024 – 2025 tôi và các thành viên trong tổ nuôi dưỡng đã cùng nhau xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng thực đơn, đổi mới các món ăn, cách chế biến các món ăn từ tôm, cá để giúp trẻ phát triển một cách toàn diện và thực tế trong quá trình thực hiện đã gặp những thuận lợi và khó khăn sau: 1.2.1. Thuận lợi Bản thân tôi và các thành viên trong tổ nuôi dưỡng luôn nhiệt tình, tìm tòi, ham học hỏi, luôn bồi dưỡng để nâng cao trình độ tay nghề. Thực tế trong các giờ ăn của trẻ, các nhân viên trong tổ nuôi dưỡng còn thường xuyên trực tiếp dự giờ ăn trên các nhóm lớp để quan sát, nắm bắt được các con có ăn ngon miệng không, có thích thú với món ăn đó không, có ăn hết suất ăn không để từ đó đánh giá được chất lượng của món ăn và kịp thời điều chỉnh. Luôn nhận được sự giúp đỡ, chỉ đạo nhiệt tình từ Ban giám hiệu về công tác chuyên môn, về cách xây dựng thực đơn và các điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ nhà bếp để phục vụ cho công tác nuôi dưỡng. Phụ huynh học sinh cũng rất quan tâm tới công tác chăm sóc nuôi dưỡng, nên cũng rất ủng hộ. 1.2.2. Khó khăn: Nhiều lứa tuổi khác nhau trong một trường (từ 2 tuổi - 5 tuổi) nên đòi hỏi cách sơ chế và chế biến khác nhau sao cho phù hợp với từng độ tuổi Nhiều trẻ không thích ăn các món ăn từ tôm, cá Nhân viên nuôi dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin còn hạn chế, nên việc tìm tòi, học hỏi trên mạng internet còn gặp nhiều khó khăn. Đa số phụ huynh trên địa bàn xã làm nông nghiệp, công nhân hoặc công việc tự do nên cuộc sống còn nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định, mức tiền ăn của trẻ chưa cao (chỉ với 22.000 đ/ngày) đặc biệt là thực phẩm tăng cao nên ảnh hưởng tới chất lượng bữa ăn của trẻ. Nhận rõ được trách nhiệm của bản thân là một nhân viên nuôi dưỡng, ý thức về cách xây dựng thực đơn của năm học cũ với các món ăn từ tôm, cá chưa đem lại hiệu quả như mong đợi. Tôi đã khảo sát thực tế về sở thích của trẻ đối với các món ăn từ tôm, cá như sau:
  4. 4 1.2.3. Bảng thực nghiệm khảo sát trẻ với thực đơn có tôm, cá (09/2024) Khảo sát kết quả STT Tiêu chí đánh giá trước khi thực nghiệm Số trẻ Tỷ lệ % 1 Số trẻ biết về lợi ích dinh dưỡng của tôm, cá. 255/488 52,3 % 2 Số trẻ thường xuyên ăn tôm, cá ở nhà. 284/488 58,1 % Số trẻ thích ăn món ăn từ tôm trong thực đơn nhà 3 290/488 59,4 % trường. Số trẻ thích ăn món ăn từ cá trong thực đơn nhà 4 265/488 54,3 % trường. Nhận xét: Nhìn vào bảng đánh giá các tiêu chí trên chúng ta thấy rằng mỗi trẻ lại có một sở thích khác nhau trong ăn uống. Việc trẻ hiểu về lợi ích dinh dưỡng của tôm, cá cũng như thường xuyên được ăn các món ăn chế biến từ tôm, cá trong gia đình cũng ảnh hưởng trực tiếp tới sở thích của trẻ đối với món ăn tôm, cá trong thực đơn của nhà trường. Từ những đặc điểm tình hình trên tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp xây dựng các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá cho trẻ trong trường Mầm non như sau. 2. Các biện pháp chính 2.1. Biện pháp 1: Nghiên cứu tìm hiểu tài liệu để bảo toàn các chất dinh dưỡng trong tôm cá, các thực phẩm nên hay không nên phối hợp khi xây dựng thực đơn cho trẻ. Để có thêm những hiểu biết về các chất dinh dưỡng có trong tôm và cá, tôi đã tự bồi dưỡng, tìm tòi, nghiên cứu các kiến thức về giá trị dinh dưỡng của tôm, cá đối với sức khoẻ của con người nói chung và sự phát triển của trẻ em nói riêng để trau dồi thêm kiến thức cho bản thân, từ đó có kinh nghiệm để chia sẻ những món ăn giàu dưỡng chất từ tôm, cá. Tìm ra các thực phẩm, nhóm thực phẩm không nên chế biến hoặc ăn kèm với tôm, cá và những điểm lưu ý khi chế biến tôm, cá nhằm tránh làm mất đi chất dinh dưỡng có trong tôm, cá. Chia sẻ với đồng nghiệp các kiến thức khoa học, kinh nghiệm chế biến món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá qua đó hoàn thiện hơn nữa quá trình chế biến, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
  5. 5 Tham khảo, tập hợp các món ăn được chế biến từ tôm, cá từ đó đưa ra các món ăn phù hợp với trẻ. Sử dụng mạng internet, sách báo, đọc các bài viết nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học, bác sĩ chuyên ngành dinh dưỡng để tìm hiểu kiến thức. Dựa trên những kiến thức thu nhận được qua quá trình nghiên cứu các tài liệu khoa học, tôi lập bảng thực phẩm nên/không nên sử dụng khi chế biến tôm, cá. Tập hợp các món ăn chế biến từ tôm, cá tham khảo trên các phương tiện truyền thông, phân tích các thành phần gia vị nấu kèm từ đó loại bỏ các món ăn có gia vị không phù hợp với trẻ như: ớt, tiêu, bột ngọt loại bỏ các món ăn có cách thức chế biến không phù hợp với trường mầm non như: chạo tôm, mực bọc sả, tôm nướng giữ lại và phát triển thêm những món ăn có thể chế biến tại bếp ăn trường mầm non dành cho trẻ từ đó lập thành một thực đơn cụ thể. Trên thực đơn tôi ghi chú rõ từng món nào cần cải tiến về cách sơ chế, chế biến nhằm thuận lợi cho việc tiến hành thực nghiệm. Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu các chất dinh dưỡng của tôm, cá mà bản thân tôi có thể nắm vững kiến thức giá trị dinh dưỡng của tôm, cá đối với con người nói chung và sự phát triển của trẻ nói riêng, nắm được kiến thức về các loại thực phẩm không nên chế biến hoặc ăn kèm với tôm, cá. Có nhiều loại thực phẩm khi kết hợp với tôm, cá không những không đem lại giá trị dinh dưỡng mà còn gây hại cho cơ thể. Ví dụ như: Thịt gà và tôm khi kết hợp với nhau sẽ gây nên hiện tượng động phong ngứa ngáy khắp người. Vì cả hai thực phẩm này đều thuộc tính ôn nên thịt gà và tôm không nên kết hợp với nhau vì thành phần dinh dưỡng có thể gây phản ứng với nhau. Trong thịt bò chứa nhiều phosphor rất cần cho việc hình thành xương còn trong hải sản rất giàu calci và magie. Vì vậy khi dùng chung 2 loại thực phẩm này với nhau sẽ tạo ra sự kết tủa muối. Dạng muối này không những cản trở hấp thu phosphor mà còn làm giảm tốc độ hấp thu dinh dưỡng của cơ thể. Hay các loại thực phẩm có nhiều vitamin C khi kết hợp với tôm sẽ tạo thành asen, một chất độc rất có hại cho cơ thể. Sau khi ăn tôm mà uống vitamin C hoặc ăn các loại thực phẩm chứa nhiều vitamin C như cam, chanh, cà chua, nho, mướp đắng, rau ngót.. sẽ làm cho asen hóa trị 5 chuyển thành asen hóa trị 3 (tức chất thạch tín) là chất rất độc có thể gây chết người. Các thực phẩm nên/không nên kết hợp với tôm, cá:
  6. 6 Kết hợp với tôm Kết hợp với cá Tên thực phẩm Nên Không nên Nên Không nên Rau cải bó xôi x x Đậu phụ x Dứa x x Đậu quả xanh x x Cải xoong x x Cà rốt x x Rau cải xanh x Thì là x Bằng cách tìm hiểu các kiến thức dinh dưỡng về tôm cá và tổng hợp các loại thực phẩm nên/ không nên kết hợp cùng tôm cá đã giúp tổ nuôi dưỡng của chúng tôi chế biến các món ăn từ tôm cá đạt kết quả như mong đợi. (Giao nhận thực phẩm tại bếp ăn của nhà trường)
  7. 7 (Nguồn nguyên liệu thực phẩm luôn đảm bảo tươi ngon, sạch sẽ) 2.2. Biện pháp 2: Chia sẻ kinh nghiệm, lấy ý kiến đồng nghiệp về các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm, cá khi chế biến cho trẻ Với mong muốn nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng của nhà trường, bản thân tôi nhận thức rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân các đồng chí đồng nghiệp trong tổ nuôi. Vì vậy, thông qua các buổi sinh hoạt tổ, tôi đã
  8. 8 mạnh dạn trao đổi các kiến thức về công tác chuyên môn nuôi dưỡng nhằm mục đích cùng nhau phát triển chuyên môn. Trong buổi sinh hoạt tổ, các món ăn chế biến từ tôm, cá là nội dung tôi đề xuất trao đổi sâu hơn. Tôi đưa ra bảng khảo sát để các đồng nghiệp cùng thảo luận, tìm ra nguyên nhân các món ăn chưa thu hút được trẻ, từ đó có ý thức về việc phải điều chỉnh khắc phục ở khâu nào. Tôi đã chia sẻ các kiến thức thu thập được về chất dinh dưỡng của tôm cá, cách kết hợp các thực phẩm với tôm cá, cách sơ chế và chế biến tôm, cá qua các món ăn để các đồng nghiệp trong tổ góp ý, xây dựng giúp món ăn chế biến từ tôm, cá được hoàn thiện hơn. Từ đó xây dựng được các món ăn giàu dinh dưỡng từ tôm cá phục vụ cho thực đơn của nhà trường. Trước buổi sinh hoạt tổ tôi chuẩn bị đầy đủ các tài liệu về món ăn chế biến từ tôm, cá để chia sẻ với đồng nghiệp từng ý rõ ràng, mạch lạc, có dẫn chứng kèm theo. Từ đó giúp các đồng nghiệp nhận thấy những ý kiến của tôi đưa ra là kết quả của các nghiên cứu khoa học. Qua đó sẽ thuyết phục được đồng nghiệp thay đổi suy nghĩ và đề xuất thay đổi cách sơ chế, chế biến tôm, cá. Cụ thể: + Khử mùi tanh, hôi ở tôm: Tôm sau khi cắt bỏ râu, đuôi, rửa sạch với nước muối pha loãng rồi vớt ra để ráo nước, luôn rút bỏ chỉ đen ở sống lưng tôm trước khi chế biến. Bằng cách này, món tôm sẽ loại bỏ được mùi tanh đem lại mùi vị thơm ngon. + Trước khi bóc lấy thịt tôm, dùng một ít phèn chua hòa tan vào trong nước rồi cho tôm vào ngâm một lúc. Làm vậy khi bóc vỏ tôm sẽ rất dễ dàng, thịt tôm cũng không bị dính vào vỏ. + Đối với cá, quan trọng nhất là chọn cá tươi ngon. Cá còn tươi sẽ ít tanh hơn, cho thịt thơm ngon hơn. Bên cạnh đó, có thể sử dụng thêm các nguyên liệu có chứa axit như chanh, dưa chuột hoặc giấm để làm giảm đi mùi tanh của cá. + Sử dụng các loại gia vị như tỏi, gừng, lá chanh, rau mùi,...cũng rất hiệu quả trong khử mùi tanh của cá. + Đặc biệt, để chế biến các món ăn từ tôm, cá làm sao cho thơm ngon, không tanh không chỉ là sự khéo léo về mặt kỹ thuật mà còn là kỹ năng sử dụng các nguyên liệu, các loại gia vị đi kèm và thực hiện các bước chế biến đúng cách. Ngoài việc trao đổi với đồng nghiệp các kiến thức về các món ăn chế biến từ tôm, cá tôi còn mạnh dạn trao đổi ý kiến với phó hiệu trưởng phụ trách nuôi dưỡng về những vấn đề còn tồn tại trong quá trình chế biến các món ăn từ tôm, cá. Từ đó đề xuất thay đổi, bổ sung một vài khâu trong quá trình sơ chế và chế biến.
  9. 9 (Sinh hoạt chuyên môn – tổ nuôi dưỡng) 2.3.Biện pháp 3: Đổi mới cách chế biến món ăn cho trẻ từ tôm, cá. Áp dụng cách chế biến mới với các món ăn từ tôm, cá vào thực đơn của nhà trường Với mong muốn cải thiện thực đơn, thay đổi cách chế biến tôm cá nhằm giúp thay đổi sở thích của trẻ đối với các món ăn chế biến từ tôm, cá trong thực đơn của nhà trường, trong các buổi sinh hoạt tổ, ngoài việc chia sẻ với các đồng nghiệp tôi cũng mạnh dạn đề xuất với Ban Giám Hiệu và đồng chí Hiệu phó phụ trách nuôi dưỡng thay đổi một số món ăn chế biến từ tôm, cá trong thực đơn của nhà trường, từ đó đưa ra những cách chế biến mới với các món ăn từ tôm, cá trong thực đơn của trẻ. Việc thay đổi cách chế biến các món ăn từ tôm, cá để làm cho món ăn trở nên hấp dẫn hơn cần được điều chỉnh cả về kỹ thuật chế biến và cách kết hợp nguyên liệu. Vì vậy, tôi đã đề xuất về việc thực hiện chế biến thử theo cách mới với lượng nhỏ cho một lớp sẽ giúp dễ dàng so sánh sự khác biệt trong hứng thú của trẻ, qua đó đánh giá chất lượng thực tế của món ăn xem mùi vị món ăn có phù hợp với trẻ hay không. Từ đó tiến hành đem cách chế biến mới cho món ăn từ tôm, cá vào thực đơn của nhà trường. Ngoài ra, khi có món mới chế biến từ tôm, cá cũng rất cần có sự phối hợp giữa tổ nuôi và giáo viên trên lớp. Nhân viên nuôi dưỡng sẽ giới thiệu chi tiết về tên món ăn, thành phần, giá trị dinh dưỡng của món ăn với giáo viên một cách đầy đủ và rõ ràng. Từ đó khi tổ chức cho trẻ ăn giáo viên sẽ giới thiệu với trẻ về món ăn một cách hấp dẫn nhất, đầy đủ nhất để trẻ nắm bắt được đầy đủ về món ăn, về thành phần cũng như cách chế biến, dinh dưỡng mà món ăn đem lại và từ
  10. 10 đó có sự yêu thích hứng thú với những món ăn mới được chế biến từ tôm, cá và ăn hết suất. Những món ăn tôm cá do đã được thay đổi cách chế biến trước khi đưa vào thực đơn chính của nhà trường thông qua quá trình thử nghiệm và đánh giá kỹ càng nên đã đạt hiệu quả khả quan. Món ăn trở nên phù hợp hơn với trẻ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, hương vị và tính thẩm mỹ. Từ đó thực đơn các món ăn chế biến từ tôm, cá của nhà trường cũng đã phong phú, đa dạng hơn. Tổ nuôi dưỡng và các giáo viên trên lớp có sự phối hợp nhịp nhàng trong bữa ăn của trẻ giúp trẻ hứng thú, ăn ngon miệng. Sau thời gian tự tìm tòi nghiên cứu qua tài liệu và thực tế làm việc tại trường, tôi đã đưa ra được cách chế biến các món ăn cho trẻ từ tôm, cá như sau: * Món Cá trắm, thịt lợn viên xốt cà chua Nguyên liệu - Cá trắm - Thịt nạc vai - Hành tây - Cà rốt - Cà chua - Rau mùi, thì là, hành khô - Gia vị: nước mắm, bột canh, dầu ăn. Cách sơ chế - Cá trắm đánh vẩy rửa sạch, lọc lấy thịt, thái miếng, xay thật kỹ - Thịt nạc vai rửa sạch, thái miếng, xay nhỏ. - Cà rốt gọt vỏ, rửa sạch, thái hạt lựu nhỏ - Hành tây bóc vỏ rửa sạch, thái hạt lựu. - Trộn đều hỗn hợp thịt cá, thịt lợn đã xay nhỏ cùng với cà rốt và hành tây, ướp hỗn hợp trên với bột canh và chút nước mắm. - Cà chua rửa sạch, thái nhỏ để riêng - Hành khô bóc vỏ, rửa sạch, đập dập, băm nhỏ. - Rau mùi, thì là nhặt bỏ rễ, rửa sạch, thái nhỏ. Cách chế biến - Nặn thành từng viên nhỏ hỗn hợp cá thịt đã ướp gia vị thành những viên hình tròn và đều nhau - Bắc chảo sạch lên bếp, thêm dầu ăn vào. Dầu ăn sau khi nóng đều, thả từng viên thịt cá vào chiên cho chín vàng rồi để ráo.
  11. 11 - Tiếp tục cho vào chảo 1 chút dầu ăn, sau khi đun nóng dầu ăn, ta phi thơm hành khô rồi cho vào chảo cà chua đã thái miếng nhỏ. Thêm nước mắm và bột canh vừa đủ, đun đến khi cà chua nhừ, ta được hỗn hợp sốt cà chua. - Cuối cùng, cho vào chảo viên thịt cá cùng với sốt cà chua đảo nhẹ tay, nêm nếm gia vị cho vừa ăn rồi thêm rau mùi, thì là vào nấu chín và tắt bếp Yêu cầu thành phẩm - Cá thịt viên chiên có màu vàng đều đẹp mắt. Thịt cá bên trong viên chiên chín đều, thơm, không có mùi tanh, hòa quyện cùng với vị ngọt của cà rốt, hành tây, vị vừa ăn có hương thơm của rau mùi, thì là đi kèm. * Cháo cá bí đỏ đậu xanh Nguyên liệu - Gạo nếp, gạo tẻ - Đậu xanh - Cá trắm nguyên con - Hành khô, gừng - Bí đỏ - Hành lá, thì là - Dầu ăn, bột canh, nước mắm Cách sơ chế - Cá trắm lọc lấy thịt, rửa sạch, đem xay nhỏ thật kỹ. Xương đầu cá rửa sạch để riêng. Bỏ mang và những chất bẩn có trong đầu cá, rửa sạch để ráo. - Bí đỏ gọt vỏ, rửa sạch, thái hạt lựu. - Vo gạo nếp, gạo tẻ, đậu xanh sau đó để ráo nước. - Hành lá, thì là bỏ rễ rửa sạch thái nhỏ - Gừng củ cạo vỏ, rửa sạch đập dập - Hành khô bóc vỏ rửa sạch, đập dập, băm nhỏ Cách chế biến. - Xương cá và đầu cá cho vào ninh để lấy nước nấu cháo (cho gừng củ vào đun cùng để khử mùi tanh của cá) - Bí đỏ cho vào nấu chín với nước rồi xay nhuyễn. - Phi thơm hành khô cho thịt cá vào xào cùng nước mắm, bột canh cho thịt săn lại, vàng đều, thơm rồi để riêng. - Sau khi nước dùng từ xương và đầu cá sôi kỹ, ta vớt bỏ hết xương đi. Phần nước trong ta tiếp tục đun sôi rồi đổ gạo nếp, gạo tẻ, đậu xanh vào ninh cho nhừ. Trong khi nấu cần chú ý, cần nấu vừa lửa để tránh trường hợp cháo bị trào ra