Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_tang_cuong_tieng_viet.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số
- - Đa số trẻ đều là dân tộc Bru-Vân Kiều nên vốn tiếng Việt của trẻ còn hạn chế, việc sử dụng và giao tiếp bằng tiếng Việt còn gặp nhiều khó khăn. Trẻ thường sử dụng tiếng mẹ đẻ để giao tiếp với nhau và thường sử dụng lồng ghép giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong các hoạt động. Trẻ nhút nhát, thiếu mạnh dạn và thiếu tự tin. - Giáo viên là dân tộc Kinh nên có phần hạn chế trong việc sử dụng tiếng Bru-Vân Kiều. - Các bậc phụ huynh đều là dân tộc Bru-Vân Kiều nên ít sử dụng tiếng Việt để giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày với trẻ vì vậy trẻ ít có cơ hội sử dụng tiếng Việt khi ở nhà. 2.2. Nội dung của đề tài * Các biện pháp: Để việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số có hiệu quả, giúp trẻ có được vốn tiếng Việt phong phú, đa dạng trong học tập cũng như trong giao tiếp với mọi người xung quanh tôi đã áp dụng các biện pháp như sau: Biện pháp 1: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua việc xây dựng môi trường trong lớp học. Môi trường lớp học đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học của cô và trẻ. Vì vậy, ngay từ đầu năm học tôi đã trang trí lớp của mình một cách phù hợp, ngoài việc trang trí lớp học đẹp mắt tôi còn phải chú trọng đến tính hiệu quả của việc trang trí. - Ở các góc hoạt động, tôi trang trí tranh ảnh phù hợp với từng góc và có dán tên góc bằng chữ to rõ, kiểu chữ in thường để trẻ nhìn rõ và có thể đọc được. Trong từng góc tôi thường xuyên động viên, hướng dẫn trẻ làm đồ dùng đồ chơi cùng với cô giáo qua đó giúp trẻ hứng thú hơn, trong quá trình làm cô cùng trẻ trò chuyện trao đổi với nhau, trẻ cũng trao đổi trò chuyện với bạn (ví dụ: Con đang làm gì đây? Con làm như thế nào? Theo con cái này đặt ở đâu thì đẹp hơn?...) nhờ vậy khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ ngày một tốt hơn. - Tất cả đồ dùng đồ chơi có ở các góc tôi đều dán tên để khi hoạt động trẻ có thể nhìn và đọc được: Quả bí đỏ tôi in chữ "quả bí đỏ" và dán lên quả, hay cây hoa mai tôi cũng in chữ "cây hoa mai" và dán dưới góc cây. Mỗi khi trẻ hoạt động với đồ dùng đồ chơi nào, tôi cho trẻ đọc tên đồ dùng đồ chơi đó (ví dụ: Con đang cầm trên tay cái gì đây? hãy nhìn vào cụm từ và đọc với cô nào) Qua đó, vốn tiếng Việt của trẻ ngày một phong phú hơn. - Đặc biệt trong lớp tôi bố trí một góc nhằm tăng cường tiếng Việt cho trẻ, đó là góc "Bé với ngôn ngữ". Ở góc này tôi sắp xếp tranh, ảnh, lô tô theo chủ đề, sách tranh, truyện tranh, các thẻ chữ cái tiếng Việt... Vào các giờ hoạt động góc hoặc giờ trả trẻ tôi cho trẻ đến xem và gọi tên các đồ vật, con vật có trong tranh, ảnh, lô tô ; Cho trẻ xem sách, truyện tranh cô gợi mở cho trẻ nói về nội dung
- truyện hoặc trò chuyện về các hình ảnh trong các bức tranh đó ; Cho trẻ xem các tranh minh họa và kể chuyện sáng tạo theo tưởng tượng của trẻ; Cho trẻ chỉ vào tranh ảnh và nói tên các nhân vật (ví dụ: Nhân vật gì đây? Nhân vật Dê Đen có trong câu chuyện nào? Trong câu chuyện Chú Dê Đen còn có nhân vật nào nữa? Bạn nào có thể nhắc lại một vài lời thoại của Dê Đen, của Chó Sói...). Trong quá trình trẻ kể chuyện tôi chú ý sửa sai cách phát âm và cách dùng từ cho trẻ, tôi luôn chú ý vào những trẻ phát âm còn chưa rõ, còn nói ngọng, nói lắp, những trẻ sử dụng vốn tiếng Việt chưa thành thạo, những trẻ chưa tự tin mạnh dạn để giúp trẻ diễn đạt bằng tiếng Việt được lưu loát và mạch lạc hơn. Với các thẻ chữ cái tôi cho trẻ đọc các chữ cái mà trẻ đã được học, cho trẻ cảm nhận các nét chữ theo khuôn hình chữ cái rời... - Ở các góc tôi bố trí một lượng đồ dùng đồ chơi vừa phải, các đồ dùng đồ chơi phải có mục đích rõ rằng, sắp xếp vừa tầm với trẻ, các đồ dùng đồ chơi, nguyên vật liệu đẹp mắt, hấp dẫn để lôi cuốn trẻ hoạt động. Tôi thường xuyên thay đổi đồ dùng đồ chơi để tránh sự nhàm chán cho trẻ. - Xung quanh lớp học tôi tạo các cây, vườn hoa mà tất cả hoa lá quả đều được dán chữ cái, và đều có thể tháo ra dán vào một cách dễ dàng. Vào các hoạt động mọi lúc mọi nơi tôi thường tổ chức cho trẻ tìm hoa chữ cái, lá chữ cái hoặc gắn lá có chữ, hoa có chữ cái cho cây (Ví dụ: Các con hãy hái những quả có chữ o và đặt vào rỗ. Hoặc để cây được đẹp hơn các con hãy tìm và dán những bông hoa có chứa chữ a lên cho cây). Cho trẻ đến vườn hoa chữ cái và đọc các chữ cái đã được học. - Hằng tuần tôi thường trang trí mới một góc nào đó hoặc thay đổi đồ dùng đồ chơi, tôi sẽ cho trẻ tìm và phát hiện những cái thay đổi mới trong lớp học và khuyến khích trẻ nói ra ý kiến nhận xét của mình (ví dụ: Các con hãy quan sát xem hôm nay lớp mình có gì thay đổi nào? Con thấy bức tranh này như thế nào...? Hoặc là: Hôm nay lớp mình có đồ chơi gì mới? Với những cái đàn này các con sẽ chơi như thế nào? Tôi cho trẻ cùng múa hát với những cái đàn mới đó) Biện pháp 2: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua việc xây dựng môi trường ngoài lớp học. Không chỉ môi trường trong lớp mà môi trường ngoài lớp học cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Vì vậy, để phát huy tối đa việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ tôi đã xây dựng môi trường ngoài lớp học như sau: - Ở hành lang phía sau lớp tôi xây dựng góc thiên nhiên, ở đây tôi cho trẻ được khám phám trải nghiệm với cát, nước, chăm sóc cây,... cho trẻ được chơi theo nhóm và khuyến khích trẻ giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt trong quá trình trẻ chơi.
- - Ở hành lang phía trước lớp tôi xây dựng góc bé yêu vận động, góc này có diện tích khá rộng để trẻ có thể chơi với những đồ dùng đồ chơi ở góc này, trẻ leo trèo một cách thoải mái. Ở góc này tôi phối hợp với phụ huynh làm các đồ dùng đồ chơi thể chất cho trẻ bằng tre, mây, gỗ: Xích đu, bập bênh, gióng thang, gậy thể dục, vòng ném... nhằm thu hút trẻ hoạt động tích cực, tất cả đồ dùng đồ chơi thể chất đều được dán tên bằng kiểu chữ in thường to rõ, trẻ dễ dàng nhìn và đọc được. Trong lúc trẻ tham gia vận động tôi cho trẻ nhắc lại nhiều lần các cụm từ: bước qua, bật xa, ném trúng đích... hay cho trẻ gọi tên các đồ dùng đồ chơi: bập bênh, vòng ném... Vào các giờ hoạt động ngoài trời, tôi tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi vừa vận động vừa sử dụng tiếng Việt. Ví dụ: Trò chơi: "Làm theo yêu cầu" Cô đưa ra yêu cầu: Nhảy lò cò 1 vòng, ngồi xuống đứng lên... trẻ làm theo yêu cầu và nhắc lại yêu cầu đó. - Tận dụng dưới các góc cầu thang, tôi đã tham mưu với nhà trường xây dựng được góc địa phương, góc thư viện xanh. + Ở góc địa phương: Tôi bày trí các sản phẩm, dụng cụ, ngành nghề của địa phương, dán tranh ảnh về các lễ hội truyền thống, các bộ trang phục của người dân nơi đây (tất cả đều được dán tên của sản phẩm, dụng cụ, trang phục ). Vào giờ hoạt động ngoài trời hoặc hoạt động mọi lúc mọi nơi tôi cho trẻ quan sát và cùng trò chuyện với trẻ về đặc điểm, công dụng, nét đẹp của các sản phẩm, dụng cụ, trang phục đó. + Ở góc thư viện xanh: Tôi bày trí sách truyện, tranh ảnh các nhân vật, may các con rối theo từng câu chuyện và cho trẻ nói tên các nhân vật rối, gọi tên câu chuyện, kể lại một vài lời thoại của nhân vật mà trẻ đã được học, khuyến khích kể chuyện sáng tạo từ những con rối đó. Trong quá trình trẻ hoạt động tôi chú ý gợi mở, hướng dẫn trẻ cách dùng từ, cách phát âm đúng.... Tôi chuẩn bị các nguyên vật liệu: cát màu, đá sỏi, len, lá cây, vỏ cây... cho trẻ trải nghiệm, làm tranh sáng tạo theo nhóm. Khuyến khích trẻ trao đổi với nhau giúp trẻ nói và diễn đạt bằng tiếng việt được tốt hơn. Ngoài ra tôi tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương: Tôi đã nhặt các hòn đá và viết các chữ số, chữ cái để trẻ có thể nhìn vào và đọc chữ. Vẽ các con vật, các loại quả lên đá và dán tên, trẻ đến đó cùng gọi tên con vật, gọi tên các loại quả, trao đổi với nhau về đặc điểm, ích lợi, môi trường sống... (Đây là quả gì? Con đã ăn quả cam bao giờ chưa? Con thấy quả cam có vị như thế nào?...). Nhờ quá trình trao đổi qua lại trẻ sẽ lĩnh hội được một vốn tiếng Việt phong phú và khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ được tốt hơn.
- - Ở xung quanh trường các cây xanh, vườn hoa, vườn rau đều có bảng tên riêng. Trong các giờ hoạt động ngoài trời tôi thường cho trẻ đến quan sát và gọi tên cây, tên hoa, rau. Hoặc cho trẻ tìm, đọc các chữ cái mà trẻ đã được học có trong các cụm từ đó... - Trên các bậc cầu thang tôi trang trí và vẽ các nhóm số lượng, các chữ số, chữ cái. Thỉnh thoảng tôi tổ chức trẻ đi lên các bậc cầu thang vừa đi vừa đếm số lượng, đọc các chữ số, chữ cái có trên các bậc cầu thang đó... Biện pháp 3: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua việc xây dựng môi trường xã hội. Là một giáo viên mần non không gì quan trọng hơn việc xây dựng môi trường xã hội bởi đây chính là cái nôi tinh thần của trẻ. Để trẻ luôn có được tinh thần thoải mái, an toàn khi đến trường thì cô giáo phải làm sao để trẻ có được cảm giác “lớp học là nhà, cô giáo là mẹ, bạn bè là anh chị em”. Để làm được điều đó tôi luôn tạo bầu không khí trong lớp học của mình an toàn, gần gủi, thân thiện, tôn trọng, quan tâm đến nhau. Trước hết, là một giáo viên tôi phải luôn gần gũi với trẻ bằng cách thường xuyên giao tiếp, hướng dẫn, trao đổi với trẻ bằng tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi và tham gia vào các trò chơi cùng với trẻ. Tôi động viên, khuyến khích trẻ sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với cô và giao tiếp với các bạn. Nếu trẻ nào sử dụng tiếng mẹ đẻ trong các hoạt động tôi sẽ giải thích nghĩa của các từ đó và hướng dẫn trẻ nói lại trọn vẹn câu đó bằng tiếng Việt (ví dụ: trong giờ hoạt động mọi lúc mọi nơi, tôi chỉ vào quả bí đỏ và hỏi trẻ: Đây là quả gì? Trẻ trả lời: Đây là cà đức. Khi đó tôi giải thích cho trẻ: “Cà đức nghĩa tiếng Việt là quả bí đỏ”, con hãy nói lại bằng tiếng Việt xem nào?... Hơn nữa, là một giáo viên mầm non đòi hỏi kỹ năng lắng nghe rất quan trọng. Đối với những trẻ nói chậm hay có khó khăn trong diễn đạt thì tôi kiên trì lắng nghe, không hối thúc hay nói thay cho trẻ. Trò chuyện với trẻ bằng thái độ vui vẻ, tươi cười và chăm chú nhìn vào mắt trẻ khi giao tiếp, thái độ thân thiện nhẹ nhàng. Tôi luôn tôn trọng và đối xử công bằng với tất cả các trẻ trong lớp để trẻ cảm nhận được tình yêu thương xem cô giáo như mẹ hiền. Trong các giờ hoạt động, tôi thường tổ chức cho trẻ hoạt động theo nhóm (4- 5 trẻ, vừa có trẻ sử dụng tiếng Việt tốt, vừa có trẻ sử dụng tiếng Việt yếu) để tạo cơ hội cho trẻ cùng chơi và trò chuyện với nhau bằng tiếng Việt. Qua đó trẻ có cơ hội học hỏi lẫn nhau trong cách phát âm, cách dùng từ cũng như việc diễn đạt bằng tiếng Việt. Biện pháp 4: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua các hoạt động hằng ngày. * Thông qua hoạt động học.
- Trong các giờ hoạt động học, tôi thường lồng ghép việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ bằng cách: Mỗi một hoạt động tôi sẽ có mục tiêu riêng và tăng cường tiếng Việt cho trẻ từ 2 – 3 cụm từ khác nhau, giúp trẻ hiểu được nghĩa và phát âm đúng, rõ ràng cụm từ đó. (ví dụ: Hoạt động: “Khám phá một số loại hoa” tôi sẽ tăng cường cho trẻ các cụm từ: “Chăm sóc cây”, “tươi tốt”, “làm đẹp cho cuộc sống” tôi giải thích nghĩa của các cụm từ đó và cho trẻ phát âm nhiều lần để giúp phát triển vốn từ và việc phát âm của trẻ được rõ ràng hơn). Trong các giờ hoạt động làm quen với tác phẩm văn học tôi động viên khuyến khích trẻ đọc thơ to, rõ ràng, chú ý sữa sai kịp thời cách phát âm của trẻ, đặc biệt những trẻ hạn chế về ngôn ngữ; hoặc cho trẻ kể lại một vài lời thoại của nhân vật trong các câu chuyện mà trẻ đã được học, đặc biệt tôi thường tổ chức cho trẻ đóng kịch trong các hoạt động kể chuyện nhằm tạo sự hứng thú, kích thích trẻ tham gia vào hoạt động. Khi tham gia đóng kịch trẻ phải trao đổi thỏa thuận với nhau để nhận vai và thể hiện tốt vai mình diễn, như vậy làm tăng vốn từ và khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ ngày một tốt hơn. Vào giờ hoạt động tạo hình, tôi thường chuẩn bị nhiều đồ dùng đồ chơi với các nguyên vật liệu phong phú (cát, đá, len vụn, lá cây...) để thu hút, khơi gợi sự hứng thú của trẻ. Trong quá trình trẻ thực hiện tôi trò chuyện cùng trẻ (tôi chỉ vào hộp bút màu, tờ giấy... và hỏi: Đây là cái gì? Con đang làm gì đấy? Con đã sử dụng những nguyên vật liệu nào để tạo nên bức tranh này?). Tôi thường khuyến khích trẻ nói lên ý tưởng của trẻ hoặc nhận xét sản phẩm của bạn, qua đó giúp trẻ tăng khả năng diễn đạt bằng tiếng Việt... * Thông qua hoạt động mọi lúc mọi nơi. Vào các giờ hoạt động mọi lúc mọi nơi: Trò chuyện sáng hay giờ đón trả trẻ, tôi thường khuyến khích, động viên trẻ giao tiếp trao đổi với cô và với các bạn. Tạo mọi cơ hội và tình huống để trẻ được nghe và được sử dụng tiếng Việt một cách tốt nhất. Ví dụ: Vào giờ trò chuyện sáng, tôi thường gợi mở cho trẻ kể về những việc làm hay những câu chuyện vui khi ở nhà của trẻ. Hoặc tôi gợi mở trò chuyện cùng trẻ: Sáng nay ai đưa con đi học? Sáng nay mẹ đi đâu? Sáng nay con ăn gì, con ăn với ai?... Vào các giờ dạo chơi, tôi thường khuyến khích trẻ nói lên suy nghĩ hay nhận xét về một vấn đề nào đó. Cho trẻ nói lên đặc điểm thời tiết, về bầu trời hay cảm nhận về vẻ đẹp những bông hoa Khi được trải nghiệm trẻ sẽ sử dụng tiếng Việt để trao đổi cùng với bạn và trẻ sẽ phải sử dụng các câu dài để nói lên suy nghĩ của mình. Qua đó giúp khả năng nói tiếng Việt của trẻ được lưu loát và trọn câu.
- Biện pháp 5: Tăng cường tiếng Việt cho trẻ thông qua việc tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh. Góp phần thành công trong việc “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số” đó là công tác tuyên truyền, phối kết hợp với phụ huynh. Chính vì vậy tôi đã tận dụng thời gian ở các giờ đón trẻ, trẻ trẻ, các buổi họp phụ huynh, tôi tuyên truyền và giải thích cho phụ huynh hiểu về tầm quan trọng của tiếng Việt đối với sự phát triển của trẻ. Ví dụ: Tôi đã giải thích cho phụ huynh như sau: Việc trẻ nghe hiểu tiếng Việt giúp trẻ phát huy tối đa khả năng tư tuy và lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng trong các hoạt động một cách tốt hơn nhờ việc nghe hiểu tiếng Việt, giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh và đặc biệt giúp trẻ hòa nhập với cuộc sống xã hội một cách thuận lợi hơn Bên cạnh đó, tôi thường động viên phụ huynh sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với cô giáo, với các phụ huynh khác. Động viên các bậc phụ huynh sử dụng tiếng Việt để giao tiếp với trẻ khi ở nhà cũng như khi đến trường. Đồng thời, tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về khả năng sử dụng tiếng Việt của từng trẻ, đặc biệt những trẻ kỹ năng sử dụng tiếng Việt hạn chế để hướng dẫn phụ huynh bồi dưỡng tăng cường tiếng Việt cho trẻ khi ở nhà. * Kết quả đạt được: Sau một thời gian nghiên cứu và áp dụng “Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số", tôi thấy việc sử dụng tiếng Việt của trẻ lớp tôi có sự tiến bộ rõ rệt: trẻ có được một vốn tiếng Việt phong phú và đa dạng hơn; trẻ nghe, hiểu và nói tiếng Việt đúng nghĩa hơn, tình trạng nói lắp, nói cụt ở trẻ ngày càng giảm, bên cạnh đó khả năng diễn đạt và nói tiếng Việt của trẻ ngày càng lưu loát hơn, thành thạo hơn; trẻ tự tin, mạnh dạn hơn khi giao tiếp với mọi người xung quanh bằng tiếng Việt, trẻ còn chủ động giao tiếp với người khác mỗi khi có người lạ tới thăm trường, thăm lớp; việc học của trẻ ngày một tốt hơn, trẻ lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng trong các hoạt động một cách nhanh hơn nhờ việc nghe, hiểu tiếng Việt; trẻ ngày càng yêu thích tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt thường xuyên hơn (hầu như trong tất cả các giờ hoạt động ở lớp trẻ đều sử dụng tiếng Việt để giao tiếp và trao đổi với nhau, trẻ còn sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với bố mẹ và hướng dẫn bố mẹ sử dụng tiếng Việt). Điều đó được thể hiện ở kết quả cụ thể như sau: Trước khi chưa sử Sau khi sử dụng Nội dung khảo sát dụng biện pháp biện pháp Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % 1. Nghe, hiểu và nói tiếng 10/27 37% 25/27 92,6%
- Việt đúng nghĩa 2. Trẻ diễn đạt rõ ràng, mạch 8/27 29,6% 25/27 92,6% lạc, trọn câu 3. Trẻ mạnh dạn tự tin khi 8/27 29,6% 26/27 96,2% giao tiếp bằng tiếng Việt 4. Trẻ yêu thích tiếng Việt 3/27 11,1% 27/27 100% 3. PHẦN KẾT LUẬN 3.1. Ý nghĩa, phạm vi áp dụng của đề tài * Ý nghĩa: Việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển toàn diện cho trẻ. - Giúp trẻ ghi nhớ và lĩnh hội được một vốn tiếng Việt phong phú. - Giúp trẻ nghe, hiểu và nói tiếng Việt đúng nghĩa hơn; Làm giảm tình trạng nói lắp, nói cụt ở trẻ, tăng khả năng diễn đạt và nói tiếng Việt được lưu loát hơn. - Giúp trẻ tự tin, mạnh dạn khi giao tiếp với mọi người xung quanh bằng tiếng Việt và tạo cơ hội giao tiếp mọi lúc mọi nơi bằng tiếng Việt cho trẻ. - Phát huy tối đa khả năng tư duy và lĩnh hội được kiến thức kỹ năng trong các hoạt động một cách tốt hơn nhờ việc nghe hiểu tiếng Việt. - Giúp trẻ yêu thích và sử dụng tiếng Việt một cách thường xuyên hơn. * Phạm vi áp dụng đề tài: Đề tài “Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số”, trước hết được áp dụng cho trẻ ở 5 – 6 tuổi trong trường tôi giảng dạy và sau đó áp dụng rộng rãi ở các đơn vị trường mầm non thuộc vùng dân tộc thiểu số trong toàn huyện cũng như toàn tỉnh. 3.2. Kiến nghị Để việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non tại vùng dân tộc thiểu số nói chung và trẻ 5 – 6 tuổi mà tôi phụ trách nói riêng được tốt, tôi có một số kiến nghị sau: * Đối với Phòng Giáo dục và đào tạo: Tăng cường tổ chức các buổi tập huấn cho giáo viên và cung cấp nhiều tài liệu hơn về việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ mầm non. * Đối với nhà trường: Ban giám hiệu nhà trường cần thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn về tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Tạo điều kiện cho giáo viên được học hỏi và bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
- * Đối với giáo viên các lớp: Cần tự học, tự bồi dưỡng để hiểu đúng hơn về việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Cần mẫu mực, là tấm gương để trẻ noi theo. Thường xuyên khuyến khích, tạo điều kiện để trẻ có cơ hội được tiếp xúc và sử dụng tiếng Việt một cách tốt nhất. Cần làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ. * Đối với phụ huynh: Phối hợp chặt chẽ với giáo viên và cùng giáo viên rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Việt mọi lúc mọi nơi cho trẻ. Trên đây là “Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số” mà tôi đã áp dụng thành công trên trẻ ở lớp tôi phụ trách. Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của BGH nhà trường và hội đồng khoa học cũng như sự góp ý của bạn bè, đồng nghiệp giúp tôi có những giải pháp hiệu quả và sáng tạo hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
- ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC PHÒNG GD & ĐT

