Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường Mẫu giáo Vàng Anh
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường Mẫu giáo Vàng Anh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_tang_cuong_tieng_viet.docx
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc thiểu số tại trường Mẫu giáo Vàng Anh
- 3 trình thực hiện luôn theo dõi sự phát triển của từng trẻ qua các hoạt động, ở mọi lúc mọi nơi để điều chỉnh kế hoạch, hình thức, phương pháp giáo dục phát triển tiếng Việt phù hợp với khả năng của trẻ. Tạo điều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm nhỏ được nhiều hơn, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng để trẻ học tiếng Việt thực sự có hiệu quả, giúp trẻ tự khám phá và phát triển ngôn ngữ đặc biệt là trong giao tiếp. Xây dựng các hoạt động học tiếng Việt phù hợp với mục tiêu và yêu cầu giáo dục theo chủ đề. Ví dụ: Kế hoạch chủ đề: Bé vui đến trường đón trung thu (3 tuần), tôi chọn các đề tài như sau: Thơ “Bàn tay cô giáo”. Làm quen chữ cái o ô ơ. Sau khi chọn các đề tài phù hợp với chủ đề thì đưa ra yêu cầu với trẻ, với bài thơ “Bàn tay cô giáo” để đưa ra mục đích yêu cầu với trẻ lớp mình như sau: Trẻ có thể đọc lưu loát và phát âm chuẩn từng câu, từng từ trong bài thơ, cô nhấn mạnh những từ khó hiểu và lồng ghép giải thích cho trẻ hiểu ý nghĩa của từ đó, như vậy sẽ giúp trẻ hiểu nhiều hơn ngôn ngữ tiếng Việt, từ đó giúp trẻ định hướng và hình dung được ý nghĩa của từ. Ngoài ra tôi còn xây dựng kế hoạch giúp trẻ tăng cường tiếng Việt theo các sự kiện lễ hội, các ngày hội văn hoá của đồng bào dân tộc Khmer diễn ra tại địa phương để lựa chọn các nội dung giáo dục phù hợp. Ví dụ ở địa phương tôi đồng bào dân tộc Khmer có Lễ hội Ok Om Bok (lễ cúng trăng) nên tôi đã thực hiện Dự án Lễ hội Ok Om Bok quê bé, thời gian dự án này diễn ra cùng hoặc gần đến thời gian lễ hội đó để trẻ hòa vào không khí phấn khởi, say mê tìm hiểu và hứng thú với các hoạt động, từ đó trẻ lĩnh hội các kiến thức một cách nhẹ nhàng không bị gò bó hay gượng ép. 2.2.2. Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục mới như Stem/Steam trong tổ chức hoạt động giúp trẻ chủ động nói tiếng Việt. Các phương pháp giáo dục mới như Stem/Stem có ưu thế là giúp trẻ phát triển toàn diện về nhiều mặt trong đó có phát triển ngôn ngữ nói tiếng Việt. Trong quá trình hoạt động học tập theo phương pháp Stem/Steam trẻ không chỉ làm mà trẻ còn được hoạt động nhóm, trẻ trao đổi và nói lên những ý tưởng của mình với cô, với bạn. Qua đó, ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ cũng được cải thiện rõ rệt. Ví dụ: Trong dự án Lễ hội Ok Om Bok của bé tôi có thực hiện Đề tài “Bé làm bánh gừng, bánh ớt” theo phương pháp Steam. Và ở bước 3 – hướng dẫn thực hành là bước mà trẻ có cơ hội làm việc nhóm và nói nhiều nhất, trẻ trao đổi với bạn về lượng nước, lượng bột, và các bước cần làm để có thể nặn được bánh đúng theo yêu cầu. Qua đó giúp trẻ nói mạch lạc tiếng Việt, mạnh dạn nói tiếng Việt và khả năng bày tỏ ý kiến để người khác hiểu. 2.2.3. Xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Việc xây dựng môi trường tăng cường tiếng Việt giúp trẻ nắm bắt kiến thức một cách tốt hơn, trẻ hăng hái tham gia vào các hoạt động học và vui chơi, trẻ tự
- 4 tin hơn khi trao đổi trò chuyện cùng cô bằng tiếng Việt trẻ có nhiều cơ hội được học tiếng Việt với nhiều hình thức và tình huống khác nhau góp phần tăng thêm vốn từ, kỹ năng phát âm. Chính vì vậy tôi đã xây dựng môi trường trong và ngoài lớp đa dạng và phong phú như sau: * Môi trường trong lớp: Ngay từ đầu năm học, tôi đã trang trí môi trường lớp học phù hợp với tính chất của các hoạt động, phù hợp với chủ đề và phù hợp với lứa tuổi. Bố trí, sắp xếp các khu vực chơi, hoạt động trong lớp đảm bảo an toàn phù hợp với không gian, thuận tiện cho việc sử dụng của cô và trẻ. Thông qua đồ dùng, đồ chơi, tranh ảnh, vật thật có trong các lớp như: gắn thẻ tên cho các đồ vật đó bằng từ tiếng Việt song song với tiếng Khmer, hướng dẫn trẻ chú ý quan sát và nghe cách phát âm đối với từng đồ vật của cô giáo, sau đó cho trẻ phát âm lại, bằng cách "đọc" như vậy trẻ nhớ được tên gọi của các loại đồ vật trong lớp và vốn từ tiếng Việt cũng được tăng lên. Thường xuyên yêu cầu trẻ lấy đồ dùng, gọi tên các đồ dùng trong lớp bằng tiếng Việt, khuyến khích trẻ nói một số câu đơn giản. Ví dụ: Cô giáo chỉ vào cho trẻ phát âm từ “Cái kéo” và dạy trẻ tập sau đó mở rộng cho trẻ đặt câu đơn giản với đồ dùng đó "Đây là cái kéo" chỉ vào cái bút chì nói " Đây là cái bút chì".... cứ như vậy cho trẻ ôn luyện thường xuyên giúp trẻ ghi nhớ tên gọi tiếng Việt và tập cho trẻ cách nói đủ câu bằng tiếng Việt thông qua các đồ vật xung quanh trẻ. Ảnh minh hoạ 1 số góc trong lớp học. Sắp xếp thiết bị, đồ chơi, theo hướng mở, kích thích sự chú ý và hứng thú tìm tòi, khám phá của trẻ; tạo cơ hội cho trẻ được hợp tác trò chuyện và chia sẻ ý kiến với bạn bè từ đó ngôn ngữ của trẻ được phát triển hơn. Sắp xếp sách vở học liệu trong lớp gọn gàng để trẻ dễ nhận biết phân biệt, dễ lấy, dễ cất vừa tầm với trẻ sử dụng. Khi cho trẻ chơi hoặc tô màu sách tạo hình, chữ cái, vở toán tôi lồng ghép luôn về cách phát âm (tay phải cầm bút, tay trái giữ vở, cái bút, quyển sách, bút chì, bút màu). Ngoài các góc chơi phổ biến ở góc lớp thì tôi cũng sưu tầm thêm các góc như góc kỹ năng sống với đồ dùng đa dạng để trẻ tăng thêm vốn từ.
- 5 Góc“Góc thư viện” Sắp xếp những quển sách truyện phù hợp với lứa tuổi để trẻ tăng thêm vốn từ cho trẻ. Hình ảnh bé học chữ cái * Môi trường ngoài lớp học: Không gian ngoài lớp học luôn hấp dẫn trẻ ngay từ ngày đầu đến trường, lớp, môi trường ngoài lớp học sạch sẽ, gọn gàng, an toàn cho trẻ vui chơi học tập, hoạt động tăng cường tiếng Việt tốt hơn. Bên ngoài lớp học, mỗi đồ dùng trang trí hay cây xanh, đồ chơi, khu vui chơi, chúng tôi đều lồng ghép chữ tiếng Việt và chữ Khmer để cho trẻ tri giác và làm quen. Trẻ vui chơi và thoải mái, tự nhiên gọi tên, phát âm các chữ cái mà trẻ biết, việc này giúp trẻ tự tin hơn khi sử dụng tiếng Việt để giao tiếp. Bên cạnh đó trẻ còn cảm thấy yêu và tự hào về tiếng dân tộc của mình được các cô giáo ghi ở mọi nơi. Qua một thời gian trẻ lớp tôi nói và phát âm được chính xác hơn, rõ ràng, mạch lạc, lưu loát hơn, trẻ tự tin khi nói tiếng Việt. Hình ảnh bé chơi ở góc bếp quê
- 6 Hình ảnh môi trường bên ngoài cho trẻ hoạt động 2.2.4. Tạo mọi điều kiện để tăng cường tiếng Việt cho trẻ mọi lúc mọi nơi. Từ khi bắt đầu thực hiện chuyên đề “Tăng cường tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số dựa trên cơ sở tiếng mẹ đẻ”, trường mẫu giáo Vàng Anh đã triển khai đưa nội dung chuyên đề vào thực hiện lồng ghép trong chương trình giáo dục cho trẻ tại trường. Để thực hiện tốt chuyên đề, lớp tôi đã thực hiện lồng ghép giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt qua tất cả các hoạt động, tuy nhiên có 1 số hoạt động dưới đây cho trẻ cơ hội phát triển vốn tiếng Việt nhiều nhất: * Giờ đón trẻ: Giờ đón trẻ tôi thường xuyên trao đổi, trò chuyện với trẻ bằng cách chọn từ ngữ sao cho ngắn gọn, dễ hiểu kết hợp hướng dẫn giúp trẻ hiểu những vấn đề, nhiệm vụ gần gũi đối với trẻ như là nhắc trẻ chào người thân, chào cô, để đồ dùng đúng chỗ, hỏi thăm tâm trạng hôm nay của trẻ, * Giờ thể dục sáng: Giờ thể dục sáng tôi cho trẻ đứng vào hình tròn có vẽ những chữ cái, chữ số để trẻ đứng vào ô để tập khoảng cách giữa các trẻ phù hợp. Sử dụng các dụng cụ tập thể dục như cờ, bóng có gắn chữ cái quen thuộc. * Hoạt động học: Trong các hoạt động học, tôi luôn chú ý điều chỉnh khi trẻ nói sai, nói ngọng với thái độ ân cần, gần gũi, khuyến khích trẻ. Tôi tạo nhiều cơ hội cho trẻ được nói, được thể hiện cảm xúc và được trực tiếp tham gia hoạt động qua đó giúp trẻ có nhiều cơ hội được nói, được phát âm tiếng Việt làm vốn từ của trẻ tăng lên, trẻ phát âm chuẩn và chính xác hơn, tự tin hơn khi giao tiếp bằng tiếng Việt Ví dụ: Giờ làm quen với chữ cái: “Làm quen chữ cái g, y” Tôi luôn cho trẻ phát âm nhiều lần với nhiều hình thức. Vì trẻ lớp tôi hay phát âm ngọng trẻ phát âm chữ cái “g” thành chữ “nhờ” tăng cường cho trẻ những từ khó trong bài. Khuyến khích, gợi mở hỏi trẻ để trẻ tích cực nói để sửa sai cho trẻ.
- 7 Hình ảnh giờ học làm quen chữ cái * Các hoạt động ngoài trời, tham quan trải nghiệm: Khi hoạt động ngoài trời, tham quan trải nghiệm trẻ được trực tiếp quan sát, tiếp xúc với các sự vật hiện tượng phong phú xung quanh trẻ như: Quan sát vườn rau, quan sát thời tiết, làm con trâu bằng lá mít,... giúp trẻ tăng thêm vốn từ tiếng Việt. Ví dụ: Giờ hoạt động “Quan sát thời tiết” tôi cho trẻ vừa đi vừa hát bài “Trời nắng trời mưa” ra ngoài sân tôi đặt một số câu hỏi: Hôm nay các con thấy thời tiết thế nào, bầu trời hôm nay có mây trắng không? Không khí lạnh vào buổi sáng các con phải mặc quần áo như thế nào?... Rồi cho trẻ nhặt lá, tưới rau, nhổ cỏ, chăm sóc vườn rau của trường. Khi trẻ thực hiện cô vừa quan sát vừa trò chuyện với trẻ nhằm củng cố và tăng vốn từ cho trẻ. Ngoài ra tôi tổ chức một số trò chơi vận động, trò chơi dân gian như: Trời nắng trời mưa, Rồng rắn lên mây. Qua những trò chơi này, trẻ vừa được tham gia vui chơi, vừa phát triển khả năng phản ứng nhanh mà đặc biệt là phát triển ngôn ngữ nói tiếng Việt. Hình ảnh trẻ chăm sóc vườn rau và trải nghiệm khi hoạt động ngoài trời 2.2.5. Giáo viên cùng phụ huynh phối hợp đồng hành giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt. Tuy trẻ đến lớp với cô hàng ngày nhưng cô không thể tập trung vào mỗi cá nhân và hiểu trẻ bằng bố mẹ. Vì vậy phối hợp với gia đình trong việc cung cấp
- 8 vốn tiếng Việt cho trẻ lại càng tốt hơn. Qua các cuộc họp phụ huynh tôi thông báo tình hình của trẻ ở trường cho phụ huynh nắm và đặc biệt không quên cho phụ huynh biết khả năng tiếp thu kiến thức bài học bằng ngôn ngữ Tiếng việt của mỗi cháu ra sao và nhờ phụ huynh dạy trẻ thêm tiếng Việt ở nhà để việc giao tiếp, học tập của trẻ được tốt hơn. Ví dụ: Tôi hướng dẫn cho phụ huynh khi ăn cơm anh chị hãy chỉ cho các cháu biết những món ăn trong gia đình, các đồ dùng, trang phục, thời tiết, khi trẻ đi học về nhắc con chào ông bà, Hình ảnh cô giáo trao đổi với phụ huynh 2.3. Kết quả: Qua thời gian thực hiện các biện pháp với những kinh nghiệm đúc rút của mình tôi thấy chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ lớp tôi đã chuyển biến rõ rệt cụ thể kết quả như sau: - Trẻ mạnh dạn tự tin giao tiếp bằng Tiếng việt, khả năng nghe hiểu tiếng Việt của trẻ tăng lên, trẻ nói rõ ràng và dễ hiểu hơn, vốn từ giao tiếp của trẻ phong phú hơn. - Bản thân mạnh dạn ứng dụng đổi mới hình thức tổ chức các hoạt động mở rộng tiếng Việt cho trẻ, tích luỹ thêm những kinh nghiệm trong giảng dạy với đối tượng là trẻ dân tộc thiểu số. - Đã nâng cao nhận thức của phụ huynh học sinh trong việc tăng cường tiếng Việt cho trẻ. Phụ huynh ngày càng tin tưởng vào chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường, sẵn sàng hỗ trợ khi giáo viên cần có sự giúp đỡ.
- 9 Bảng so sánh chất lượng ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ trước và sau khi áp dụng các biện pháp tăng cường tiếng Việt cho trẻ dựa trên cơ sở tiếng mẹ đẻ: Trước khi áp Sau khi áp TT Nội dung Tổng dụng biện pháp dụng biện khảo sát số trẻ pháp Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % 1 Nghe – hiểu ngôn ngữ 32 15 46,9 25 78,1 bằng tiếng Việt. 2 Nói rõ ràng mạch lạc 32 14 43,8 28 87,5 bằng tiếng Việt. 3 Trẻ mạnh dạn – tự tin 32 16 50 22 68,8 giao tiếp bằng tiếng Việt. 3. Kết luận Tăng cường tiếng Việt cho trẻ 5-6 tuổi vùng dân tộc thiểu số dựa trên cơ sở tiếng mẹ đẻ là việc làm cần thiết và rất quan trọng. Thông qua các hoạt động học, hoạt động vui chơi trẻ sẽ tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp bên cạnh đó nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt của trẻ, đảm bảo cho trẻ có kiến thức và kỹ năng cơ bản trong việc sử dụng tiếng Việt, để hoàn thành chương trình Giáo dục mầm non, tạo tiền đề cho việc học tập, hình thành nên nhân cách, lĩnh hội kiến thức cho trẻ 5 – 6 tuổi chuẩn bị bước vào lớp 1, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ vùng dân tộc thiểu số. Việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt là cả một quá trình liên tục và có hệ thống đòi hỏi giáo viên phải kiên trì và nỗ lực khắc phục mọi khó khăn để tìm ra giải pháp, biện pháp cũng như phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Đặc biệt hơn là phải có sự phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để cùng thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này. Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Người viết XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG XÉT DUYỆT KHOA HỌC, SÁNG KIẾN CẤP THÀNH PHỐ

