Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hứng thú học môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học

docx 28 trang Chăm Nguyễn 29/07/2026 240
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hứng thú học môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_hung_thu_hoc.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hứng thú học môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hứng thú học môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học

  1. tưởng của các em. Và đó cũng là một việc khó để người giáo viên mĩ thuật khai thác được hết những trí tưởng tượng trong các thiên tài ấy. - Còn một số học sinh không có năng khiếu cho rằng môn này học khó, chưa tự tin còn lúng túng trong giao tiếp. - Chưa có phòng chức năng cũng gây khó khăn cho giáo viên di chuyển đồ dùng từ lớp này sang lớp khác, cũng như bảo quản sản phẩm của học sinh. Vậy trước thực trạng trên làm thế nào để giúp cho học sinh có ý thức, có hứng thú hơn khi tham gia vào quá tình học tập của môn đạt kết quả cao. Tôi đã tiến hành khảo sát, thăm dò ở học sinh xem có bao nhiêu em thích học vẽ và không thích học vẽ, để tìm ra giải pháp khắc phục 1.3. Tình hình thực tế trước khi thực hiện: - Khảo sát đầu năm: Học sinh Học sinh hoàn Học sinh chưa Tổng số hoàn thành tốt thành hoàn thành học sinh SL TL % SL TL % SL TL % 217 30 14 185 85 2 1 Qua kết quả khảo sát và những nguyên nhân trên cho thấy sự cần thiết phải cải tiến phương pháp cũng như hình thức dạy học, Cần thực hiện một số giải pháp nhằm hình thành một số hình thức học tập giúp các em phát huy được tính tập thể; phối hợp cùng suy nghĩ, cùng làm việc, tranh luận, thảo luận để có cùng hướng giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, cụ thể hóa tính yêu cầu bài học. Chúng ta cần có sự tác động đúng hướng bằng các phương pháp dạy học tích cực thì mới tạo được tiền đề cho các bước phát triển hoạt động sáng tạo tiếp theo của học sinh. Đảm bảo sự tiến bộ qua từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng kì, từng năm. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến nhằm nâng cao hứng thú học môn Mỹ thuật theo định hướng phát triển năng lực. Bản chất của phương pháp dạy học phát triển năng lực là chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp, kỹ thuật, thủ thuật dạy học tích cực giúp người học trải nghiệm, tìm kiếm và vận dụng kiến thức vào thực tế. Chương trình GDPT 2018 nhấn mạnh, môn Mĩ thuật chú trọng dạy học trải nghiệm; vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật, hình thức tổ chức dạy học, không gian hoạt động học tập nhằm huy động kiến thức, kinh nghiệm, kích thích trí tưởng tượng, tư duy hình ảnh thẩm mĩ, tạo cơ hội để học sinh được vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, thể nghiệm ý tưởng và đưa các sản phẩm sáng tạo vào đời sống; coi trọng kết hợp phương pháp dạy học với khai thác, sử dụng hợp lí thiết bị dạy học, mạng Internet, tận dụng các chất liệu, vật liệu sẵn có ở địa phương.
  2. 2.1. Giải pháp thứ 1: Phương pháp dạy học trực quan kết hợp với các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực. Ngoài các đồ dùng trực quan có sẵn, tôi sưu tầm, tự làm các đồ dùng học tập, giúp cho trực quan từng bài có nhiều màu sắc,sinh động. Khi thực hiện những hoạt động này thì tôi thấy các em rất vui vẻ và hứng thú, tôi nhìn thấy sự chăm chú quan sát và sự ngưỡng mộ trong ánh mắt của các em. Khi đó tôi đã hiểu là tôi đã truyền được cảm hứng tới học sinh của mình. Để bồi dưỡng lòng say mê, tinh thần quyết tâm cho các em tôi kể cho các em nghe các tấm gương thực tế về các bạn khuyết tật nhưng vẫn đam mê vẽ và vẽ đẹp như: Trúc Phương, Đăng Khôi, ... Ngoài ra tôi cho các em xem tranh vẽ đạt các giải thưởng của các anh chị lớp học trước mà tôi đã dạy. Tôi khuyến khích các em sưu tầm các tài liệu liên quan đến bài học. Khi các em đã đặt được mục tiêu làm sao để vẽ đẹp được như cô và các anh chị, thì tôi tiếp thêm nghị lực và lòng tin cho các em bằng các lời động viên khích lệ kịp thời để giúp các em luôn có được niềm tin tuyệt đối vào khả năng của bản thân. * Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: Việc giới thiệu, tuyên truyền sâu rộng đến với học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau. Qua đó tạo được niềm tin và sự hứng thú của học sinh với môn mĩ thuật. 2.2 . Giải pháp thứ 2: Hướng dẫn cách vẽ theo từng đối tượng học sinh. Để thực hiện biện pháp này đầu tiên phải khảo sát để phân loại từng nhóm học sinh. Tôi nhận thấy học sinh vẽ các dạng bài như tranh phong cảnh, tranh sinh hoạt, tranh chân dung ....thì còn lúng túng do chưa biết vẽ hình, vẽ hình chưa tốt ...Để đưa ra cách hướng dẫn phù hợp, sau khi phân loại học sinh tôi tiến hành hướng dẫn các em thực hiện các hoạt động như sau: - Hướng dẫn học sinh tìm, chọn hình ảnh: Hình ảnh trong tranh vẽ chính là các hình ảnh có thật trong đời sống hằng ngày như bông hoa, chiếc lá, con người, con vật, Tôi cho học sinh vẽ trực quan các hình ảnh đó bằng cách tổ chức các tiết học ngoài trời, để tạo sự hứng thú cho các em. Tôi hướng dẫn các em biết cách chọn những hình đơn giản, chắt lọc, cách điệu, lược bớt chi tiết rườm rà rồi đưa vào bài vẽ cho sinh động và đẹp hơn phù hợp với từng nhóm đối tượng học sinh. Ví dụ: Lớp 1, ở chủ đề “Em vẽ chân dung bạn.” Tôi cho các em vẽ thông qua chân dung thật, ảnh chụp và đoạn video để tạo kho hình ảnh. Với nhóm vẽ hình yếu thì hướng dẫn các em lượt bỏ bớt chi tiết, các em có năng khiếu thì vẽ nhiều chi tiết.
  3. - Hướng dẫn cách vẽ và sắp xếp bố cục hình thông qua trò chơi: + Hướng dẫn các em từ đúng đến vẽ đẹp, thông qua trò chơi giúp các em hứng thú trong học tập đồng thời rèn tư duy logic và phát triển khả năng tạo hình Ví dụ: Lớp 4, ở chủ đề “Sự chuyển động của dáng người.” Vẽ dáng người thì các em dùng những hình cơ bản nào? Sau đó các em thực hiện: hình tròn, vuông, tam giác có thể làm đầu; hình chữ nhật, vuông, tam giác làm thân; chữ nhật dài làm tay chân, Từ đó hình thành cách vẽ cho mình. + Hướng dẫn các em cách sắp xếp bố cục hình ảnh chính phụ phù hợp cân đối với giấy. Ví dụ: Lớp 5, ở chủ đề “Chân dung tự hoạ” đưa ra một tranh có hình nhỏ, một tranh có hình quá to, tranh có hình lệch qua một bên, ... yêu cầu các em chọn hình nào thấy thuận mắt. Từ đó các em nhận ra được cách sắp xếp bố cục sao cho cân đối. Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: Không áp đặt cách vẽ cho học sinh, để các em tự do sáng tạo hình vẽ của mình. Các em có thể tiếp cận theo nhiều cách vẽ khác nhau.
  4. 2.3. Giải pháp thf í 3: Tổ chfíc trò chơi gây hfíng thú trong dạy học Mĩ thuật. Trò chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa tuổi. Là một hoạt động vui chơi của trẻ mang tính giáo dục: giáo dục đạo đức, giáo dục tính kiên trì, , khéo léo, hợp tác, ứng xử thông minh, quyết đoán,..giúp cho học sinh “ Học vui - vui học”, “Học mà chơi- chơi mà học” một cách hứng thú và bổ ích. Muốn tổ chức trò chơi, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ mục tiêu từng chủ đề, xem những nội dung mới, quan trọng trong giờ dạy để từ đó tổ chức trò chơi cũng cố kiến thức. Tùy vào từng nội dung chủ đề, giáo viên nên tập trung vào nội dung trọng tâm mà tổ chức trò chơi, không chơi một cách tràn lan thường chơi vào đầu tiết hoặc cuối tiết học. Ví dụ: Chủ đề 1. “Chân dung tự họa.” Để tạo hứng thú cho học sinh, đầu tiết tôi tổ chức trò chơi; “ Họa sĩ mù.” Giáo viên vẽ hai bức chân dung. Chia lớp làm 2 đội, mỗi đội khoảng 4 học sinh cho học sinh quan sát hình khoảng 1 phút sau đó bịt mắt học sinh lại . Khi nghe hiệu lệnh của giáo viên, lần lượt từng học sinh của mỗi đội lên vẽ các bộ phận của gương mặt, đội nào vẽ đúng , nhanh và đẹp sẽ thắng. * Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: - Sử dụng trò chơi trong dạy học Mĩ thuật cho kết quả rất tốt. Trò chơi gây được hứng thú học tập cho các em, phát huy được trí thông minh, sáng tạo, tinh thần tập thể cho các em, khơi gợi trí tò mò, ham hiểu biết ,..từ đó yêu thích môn học, chất lượng học tập được nâng cao một cách rõ rệt. 2.4. Giải pháp thứ 4: Hướng dẫn học sinh sử dụng màu hiệu quả. Để bức tranh thêm sinh động và đẹp hơn thì màu sắc trong tranh phải phong phú và có đậm nhạt học sinh cần biết cách sử dụng màu một cách hiệu quả. Để đạt được điều đó thì tôi đã hướng dẫn học sinh cách lựa chọn loại màu phù hợp, phương pháp pha trộn màu, một số kĩ thuật vẽ màu sáp như sau: - Hướng dẫn học sinh lựa chọn màu phù hợp với bài học: Đa số các em sử dụng sáp màu và chì màu, có một số loại màu tô không ăn giấy dẫn đến bài vẽ màu nhạt nhòa, không đạt được hiệu quả như mong muốn, ảnh hưởng đến sự sáng tạo của học sinh. Do đó ngay từ cuối năm học trước và đầu năm học này tôi kết hợp với giáo viên chủ nhiệm trong buổi họp phụ huynh
  5. để hướng dẫn chọn màu phù hợp. Lựa chọn màu sáp phù hợp giúp các em sáng tạo tốt và hứng thú hơn trong giờ học Mĩ thuật. - Hướng dẫn phương pháp pha trộn màu: Cách pha trộn màu sáp không giống cách pha trộn của màu bột hay màu nước mà sử dụng kĩ thuật tô chồng màu lên nhau hoặc kết hợp với kĩ năng chà màu để trộn lẫn các màu lại với nhau. Vẽ đều tay, mịn, không chườm ra ngoài. Ví dụ: Tôi cho học sinh thực hành trên giấy A4. Các em tự vẽ hình quả cam, hình chiếc lá, hình quả cà tím. Bước 1: Dùng bút màu vàng vẽ một lượt kín hình, rồi dùng bút màu đỏ vẽ lại một lượt trèn kín hình quả cam cho một sản phẩm quả cam có màu da cam. Bước 2: Dùng bút màu vàng vẽ một lượt kín hình, rồi dùng bút màu lam vẽ lại một lượt kín hình chiếc lá cho một sản phẩm chiếc lá màu xanh lục.
  6. Bước 3: Dùng bút màu lam vẽ một lượt kín hình, rồi dùng bút màu đỏ vẽ lại một lượt kín hình quả cà - cho một sản phẩm quả cà màu tím. - Hướng dẫn một số kĩ thuật vẽ màu sáp: Ngoài các kĩ thuật đã được học từ những lớp trước tôi hướng dẫn thêm cho các em các kĩ thuât: Di màu, chà màu, vẽ đậm - nhạt, tạo nét, kết hợp giữa màu sáp và màu bút lông, hay các chất liệu khác để các em thỏa sức sáng tạo. Tôi quan sát thấy các em vẽ màu ngày một tốt hơn, bài làm dã có đậm nhạt; biết chia màu mảng chính, phụ, và thích thú hơn trong giờ học Mĩ thuật * Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: Phải giúp học sinh lựa chọn được màu phù hợp như các màu sáp đất dùng có thể sự dụng để đè mau, trà màu, cạo màu; màu dạ để tạo nét màu cho đẹp. Học sinh hiểu được quy luật của màu sắc, nắm vững cách vẽ màu và cách pha màu thì màu sắc trong bài vẽ sẽ đẹp hơn. 2.5. Giải pháp thứ 5: Tăng cường dạy học cá nhân kết hợp với dạy học hợp tác, tạo sân chơi bổ ích cho học sinh. Để tạo ra một sân chơi bổ ích cho học sinh tôi tổ chức các hoạt động: - Phát huy hiệu quả hoạt động nhóm trong các tiết dạy. - Thành lập câu lạc bộ Mĩ thuật. - Đưa ra các nội dung phù hợp, mang tính thời sự vào bài học. Ví dụ: Vào giờ sinh hoạt tôi đưa ra chủ đề “dịch bệnh hiện nay” sau đó cô và trò cùng trao đổi một số biện pháp phòng chống dịch, những hình ảnh đẹp trong mùa dịch, hướng dẫn cho các em cách vẽ, cho các em xem các hình ảnh thực trong đời sống; cô trò cùng phân tích đánh giá bài và đưa ra các câu thông điệp để tuyên truyền phòng chống dịch. - Tổ chức các cuộc thi vẽ do Liên đội, Hội đồng đội Huyện, Hội đồng đội thành phố, Phòng, Sở, Bộ giáo dục.... phát động theo nội dung như: Em yêu biển
  7. đảo Việt Nam, Hà Nội trong em, Nước sạch Mizu, Thanh thiếu niên sáng tạo trường học nói không với bạo lực học đường và lao động trẻ em.... Mỗi cuộc thi tùy theo kế hoạch của cấp trên, Tôi làm một kế hoạch trình BGH để tổ chức các cuộc thi vẽ tranh theo các chủ điểm, có chấm giải, có trao phần thưởng của Liên đội vào các sáng thứ 2 đầu tuần. Những hình ảnh này được chụp lại gửi lên trang web của trường để tạo thêm động lực và hứng thú cho các em. * Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: Những bài vẽ của học sinh nên giữ lại và tổ chức triễn lãm tranh cấp trường để tạo thêm hứng thú cho các em. 2.6. Giải pháp thứ 6: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Tổ chức dạy học theo chủ đề dưới hình thức dự án học tập, chủ đề STEAM và trải nghiệm sáng tạo. - Giáo án điện tử để giúp học sinh có sự thích thú, say mê với tiết dạy vì có rất nhiều hình ảnh phong phú, đa dạng và đẹp mắt tạo được sự chú ý cho học sinh nên bài vẽ của học sinh rất hiệu quả. - Tiến hành các dự án học tập để học sinh nghiên cứu, sưu tầm tài liệu bài học. - Hướng dẫn học sinh tích hợp kiến thức các môn học khác, dạy học theo hình thức các chủ đề STeem để tạo sản phẩm mang tính ứng dụng cao như trong các bài học chủ đề: “Trường em”, “Trang trí sân khấu và sáng tác câu chuyện” của khối 5, chủ đề “Đồ vật thân quen” của khối 3.... * Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: Nên ứng dụng một cách linh hoạt trong từng hoạt động, ở phần hướng dẫn cách vẽ giáo viên nên vẽ trực tiếp kết hợp ứng dụng công nghệ thì sẽ thu hút học sinh hơn. Với các bài học liên quan đến cảnh đẹp quê hương, sự kỳ thú của đại dương...lên chiếu các vi deo ngắn để kích thích tính hiếu kỳ cho các em. Với các bài Stem, các dự án học tập, giáo viên phải nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ các em, để các em tự tin vào bản thân. 2.7. Giải pháp thứ 7: Khuyến khích tạo hình 3D Có một số em không có khiếu vẽ tranh nhưng lại tạo hình 3D rất khéo léo và tỉ mỉ. Chúng ta cần tạo mọi điều kiện để các em phát huy hết sở trường sẵn có bằng cách hướng dẫn các em nắm được cách tạo hình 3D như thế nào là đúng, nhanh và sản phẩm tạo ra lôi cuốn được người xem. Tiếp theo cho các em quan sát các mô hình 3D khác nhau sẽ khơi gợi trong các em sự thích thú, mong muốn được tự tay tạo ra sản phẩm mà mình thích.
  8. * Kinh nghiệm rút ra từ giải pháp: Nên hướng dẫn cách tạo hình 3D một cách linh hoạt trong từng hoạt động. Ở phần dặn dò chuẩn bị dồ dùng học tập cần nhắc nhở học sinh đem đầy đủ vật liệu để tạo hình. Hướng dẫn cách tạo hình 3D cho từng nhóm đối tượng hoặc từng đối tượng cụ thể; và nên giữ lại sản phẩm. Tổ chức triễn lãm tranh 3D cấp trường để tạo thêm hứng thú cho các em. 3. Kết quả sau khi áp dụng giải pháp, sáng kiến. Sau khi áp dụng trên đối tượng học sinh từ khối 1 đến khối 5 thu được kết quả: 3.1. Biểu đồ 1: So sánh năng lực đặc thù của học sinh trước và sau thực nghiệm
  9. So sánh trước và sau thực nghiệm đối với nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng cho thấy, năng lực của 02 nhóm đều được cải thiện, cụ thể mức Yếu và Trung bình giảm; mức Khá và Tốt tăng lên. Các năng lực mĩ thuật của học sinh được cải thiện rõ nét, thể hiện ở các mức độ chỉ báo của năng lực. Trong năng lực quan sát và nhận thức thẩm mĩ: các yếu tố tạo hình như hình, khối, màu sắc, hình mảng; phân biệt được các màu cơ bản và màu thứ cấp; liên hệ nội dung chủ đề với hình ảnh thực tiễn được phát triển rõ rệt. Học sinh biết thể hiện ý tưởng, bố cục, chất cảm, chấm, nét, không gian, chuyển động, tỉ lệ, hài hòa của sản phẩm mĩ thuật. Trong năng lực sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ: Học sinh thực hiện đúng quy trình tạo ra sản phẩm; tạo được màu thứ cấp trong sản phẩm sáng tạo; sự tương phản của hình, khối dạng cơ bản để mô phỏng đối tượng; tạo cảm giác bề mặt của chất liệu, biểu đạt hình động, thể hiện được chi tiết, hình ảnh làm trọng tâm ở sản phẩm; kỹ năng, kỹ thuật tạo sản phẩm khéo léo hơn. Trong năng lực phân tích và đánh giá thẩm mĩ: Học sinh trình bày, thuyết minh cho sản phẩm khá tự tin; nhận xét thiên về chất lượng của sản phẩm mĩ thuật. 3.2. Biểu đồ 2: Phân bố tần suất kết quả đánh giá sản phẩm tranh vẽ trước và sau thực nghiệm Kết quả cho thấy, các biện pháp đề xuất đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, muốn có kết quả tốt hơn cần phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trong thời gian dài, được đầu tư thỏa đáng.
  10. Qua quan sát các sản phẩm của học sinh sau thực nghiệm: Ý tưởng, kết cấu và bố cục rõ ràng; màu sắc, đường nét sắc sảo; hình khối không gian và chất cảm khá rõ nét; tỉ lệ hài hòa, cân đối; Các hình mảng, chấm, nét, sự cân bằng, tương phản, nhịp điệu, nhấn mạnh và chuyển động có sự tiến bộ rõ rệt; tạo được sự biểu đạt hình động cho sản phẩm; thể hiện được chi tiết, hình ảnh làm trọng tâm ở sản phẩm; thể hiện được cảm xúc của bản thân với tác phẩm bằng các màu sắc tươi vui, hợp tâm lý lứa tuổi. 4. Hiệu quả của sáng kiến Qua kết quả trên cho thấy số liệu đã có sự thay đổi rõ rệt và vượt trội. Kết quả còn thể hiện hiệu quả của biện pháp dạy học Mĩ thuật mới thật sự tạo nên sự hứng thú và say mê học môn Mĩ thuật. Việc áp dụng thành công giải pháp: “Một số biện pháp nâng cao hứng thú học môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực của học sinh Tiểu học” còn mang lại cho tôi thêm niềm tin tưởng ở sự nỗ lực của bản thân, tạo động lực để tôi luôn cố gắng thay đổi, sáng tạo trong dạy học. - Nâng cao chất lượng trong giảng dạy các tiết học nói chung và nâng cao chất lượng môn mĩ thuật nói riêng. - Nắm được nội dung bài học; có lòng say mê, ham tìm hiểu và tham gia nhiệt tình vào các cuộc thi vẽ tranh. - Qua theo dõi nhận thấy các em hứng thú và thích học môn Mĩ thuật và tham gia nhóm tự tin, nhiệt tình, thân thiện hơn với nhau. Một số học sinh giỏi, năng khiếu đã phát huy được vai trò chỉ đạo nhóm nhanh nhẹn, có sự sáng tạo trong các hoạt động ngoại khóa. 5. Tính khả thi Sáng kiến của tôi được BGH, tổ khối thông qua. Tôi đã chia sẻ cho các đồng nghiệp trong trường cùng áp dụng. 6. Thời gian thực hiện đề tài, sáng kiến - Đề tài được áp dụng trong môn mĩ thuật, khối 1, 2, 3, 4, 5. - Thời gian: Học kỳ 1 năm học 2023 - Đối tượng nghiên cứu: Học sinh trường Tiểu học TTNC Bò và Đồng Cỏ Ba Vì. III. KIẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT: 1. Kiến nghị. - Theo chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018; việc đưa môn Mỹ thuật vào giảng dạy là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết. Tuy nhiên chúng ta không đào tạo học sinh thành hoạ sĩ, mà đây là chúng ta truyền thụ cho học sinh một số kiến thức cơ bản, ban đầu về thẩm mĩ, tư duy sáng tạo, cách nhìn nhận, cách suy nghĩ. Đó là nền tảng cho các em học ở cấp II, cũng là nền tảng sau này
  11. các em học những ngành nghề có mang tính chất mĩ thuật như thiết kế thời trang, kỹ sư xây dựng, kỹ sư kiến trúc . - Vì vậy, người thầy giáo dạy môn mĩ thuật phải có trình độ chuyên môn nhất định, phải hiểu rõ tâm lý học sinh, phải biết dẫn dắt khơi gợi trí tưởng tượng, tránh áp đặt các em về ý của mình, phải tôn trọng ý tưởng học sinh. - Biết chọn thời điểm thích hợp, để khuyến khích và động viên học sinh, phải tạo lồng ghép trò chơi và giáo dục môi trường vào tiết dạy với nhiều hình thức và nội dung phong phú theo từng quy trình học. - Giáo viên phải có tâm huyết với nghề, có trách nhiệm với giờ dạy của mình, giảng dạy phải có sự đầu tư suy nghĩ; tìm ra phương pháp mới giúp học sinh đóng vai trò “chủ động” tìm tòi, sáng tạo, giáo viên đóng vai trò “chỉ đạo”. - Luôn nâng cao trình độ chuyên môn nhằm nắm bắt kịp thời và chú ý đổi mới phương pháp ngày càng hiện đại, khắc phục lối dạy chay. - Luôn có học hỏi, trao dồi kinh nghiệm của đồng nghiệp để hiểu rõ thêm cái mới, cái đẹp, nhằm nâng cao trình độ của bản thân. - Giáo viên phải là người có tâm huyết nghề nghiệp cao, yêu thương học sinh, yêu nghề, luôn luôn nghiên cứu và học hỏi nhiều kinh nghiệm để phát huy nghiệp vụ của bản thân. Thành công của đề tài “Một số biện pháp nâng cao hứng thú học môn Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh tiểu học” đã chứng minh chỉ cần lòng nhiệt huyết, yêu nghề, yêu học sinh, không ngừng học hỏi nâng cao tri thức của bản thân thì các thầy cô giáo sẽ luôn đem lại nền giáo dục tốt nhất cho các thế hệ học trò. 2. Đề xuất: Để cho việc dạy và học môn Mĩ thuật ngày càng nâng cao về chất lượng, tôi mong các cấp lãnh đạo quan tâm hơn nữa đến việc giảng dạy bộ môn này và tôi có một số kiến nghị sau: - Nhà trường cần: Tổ chức nhiều buổi triễn lãm tranh cấp trường. Nhằm giúp các em có nhiều sân chơi vào hứng thú hơn với môn Mĩ thuật. Cấp phòng chức năng theo đặc thù của môn học cho giáo viên mĩ thuật. - Bộ GD-ĐT cần cấp một số đồ dùng dạy phân môn Mĩ thuật cần thiết. - Phụ huynh cần quan tâm đến con em mình nhiều hơn, sát thực hơn đối với việc học Mĩ thuật của các em. Cụ thể là đồ dùng học tập của các em. - Giáo viên phải có lòng nhiệt tình, tâm huyết với chuyên môn. Phải thường xuyên sưu tầm học hỏi kinh nghiệm cũng như mạnh dạn áp dụng phương pháp mới.