SKKN Một số kinh nghiệm tăng cường kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Ea Bông thông qua các hoạt động Đội

docx 26 trang Chăm Nguyễn 18/06/2026 170
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số kinh nghiệm tăng cường kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Ea Bông thông qua các hoạt động Đội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_kinh_nghiem_tang_cuong_ky_nang_song_cho_hoc_sinh.docx
  • docxBìa.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số kinh nghiệm tăng cường kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Ea Bông thông qua các hoạt động Đội

  1. kỹ năng sống cho học sinh là nhằm giúp các em rèn luyện kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, phòng ngừa tai nạn giao thông, đuối nước và các tệ nạn xã hội. Đối với HS tiểu học việc hình thành các kỹ năng cơ bản trong học tập và sinh hoạt là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này. Chính vì nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của“Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh”bản thân tôi, một giáo viên được nhà trường phân cônglàm Tổng phụ trách Đội nhiều năm liền nên tôi mạnh dạn đưa ra đề tài“Một số kinh nghiệmtăng cường kỹ năng sống cho học sinh trường Tiểu học Ea Bông thông qua các hoạt động Đội” làm đề tài Sáng kiến kinh nghiệm để chia sẻ cùng tất cả quý thầy cô giáo đồng nghiệp. Tăng cường kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua các hoạt động của tổ chức Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hoạt động giáo dục nhằm tăng cường kỹ năng sống cho học sinh ở bậc Tiểu học thông qua các hoạt động của tổ chức đội. Cụ thể là tại Liên đội trường tiểu học Ea Bông bản thân tôi là giáo viên Tổng phụ trách Đội. II. Mục tiêunghiên cứu Với mục tiêu đào tạo con người mới, có đầy đủ kiến thức kỹ năng cho công cuộc hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước hiện nay. Ngành giáo dục đặc biệt là bậc tiểu học đã đang có những thay đổi về phương pháp giảng dạy giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong việc lĩnh hội kiến thức. Do vậy mục tiêu của đề tài này là trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, kỹ năng đúng mực, với cuộc sống thông qua việc tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại Liên đội. Qua đây hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ dần dần những thói quen, hành vi tiêu cực, chưa phù hợp. Đồng thời giúp học sinh có thể vận dụng thật tốt những kiến thức mà mình đã được học vào cuộc sống, tăng tính thực tiễn cho các kiến thức của các bộ môn đã được học trong chương trình chính khóa. Tạo điều kiện để học sinh có thể thực hiện đúng bổn phận của mình, và phát triển một cách toàn diện nhất về thể chất cũng như về trí tuệ và tinh thần, đạo đức của bản thân. Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009 Bộ giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trong đó một nội dung rất quan trọng là rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Vì vậy 3
  2. qua đề tài này giúp trường xây dựng tốt phong phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Trong phạm vi đề tài này, bản thân tôi xin được chia sẻ một vài kinh nghiệm về tăng cường giáo dục kỹ năng sống nói chung, một số hình thức về giáo dục kỹ năng sống đã thực hiện tại Liên đội trong những năm qua. Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận của vấn đề 1.Những khái niệm có liên quan đến hoạt động giáo dục kỹ năng sống Hiện nay có rất nhiều khái niệm về Kỹ năng sống, nhưng để đưa ra một khái niệm chung nhất có lẽ vẫn chưa có. Nhưng theo tôi chúng ta cần hiểu về khái niệm kỹ năng và kỹ năng sống như sau: Kỹ năng là năng lực hay khả năng chuyên biệt của một cá nhân về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó được sử dụng để giải quyết tình huống hay công việc nào đó phát sinh trong cuộc sống. Kỹ năng sống là những trải nghiệm có hiệu quả nhất, giúp giải quyết hoặc đáp ứng các nhu cầu cụ thể, trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của con người. Kỹ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người. Kỹ năng sốngcó thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc rèn luyện của con người. Các nhóm nhận biết về Kỹ năng sốngđược chia ra như sau: a.Theo UNICEF kỹ năng được chia làm 3 cụm chủ đề - Kỹ năng truyền thông và giao tiếp bao gồm; + Truyền thông giao tiếp cá nhân. + Kỹ năng thương lượng từ chối. + Kỹ năng lắng nghe và chia sẻ. + Kỹ năng hợp tác và làm việc theo nhóm. + Kỹ năng biện hộ. - Kỹ năng lấy quyết định và suy nghĩ có phán đoán bao gồm: + Kỹ năng lấy quyết đinh/ giải quyết vấn đề. + Kỹ năng tư duy có phán đoán 4
  3. - Kỹ năng ứng phó và làm chủ bản thân bao gồm: + Kỹ năng làm tăng sức mạnh nội lực để tự chủ. + Kỹ năng làm chủ cảm xúc. + Kỹ năng quản lý stress. b.Theo WHO: cũng được chia làm ba nhóm kỹ năng cơ bản - Kỹ năng tư duy: bao gồm ý thức về bản thân, ý thức xã hội, xác lập mục đích, giải quyết vấn đề, ra quyết định. - Kỹ năng xã hội: bao gồm việc đánh giá và công nhận giá trị của người khác, kỹ năng làm việc với người khác và hiểu vai trò của họ, xây dựng mối quan hệ tích cực với gia đình và bạn bè, lắng nghe và truyền đạt cho hiệu quả, nhận trách nhiệm và đối phó với stress. - Kỹ năng thương lượng: đây không chỉ là thương lượng với người khác mà còn thương lượng với chính bản thân. c.Theo tổ chức Hội đồng kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc lại phân loại kỹ năng sống thành 3 dạng - Kỹ năng sống để phát triển cá nhân. - Kỹ năng sống để tạo mối quan hệ với người khác. - Kỹ năng công nghệ. Tóm lại, tuy có khác nhau trong cách phân loại kỹ năng sống nhưng chung quy lại có 10 kỹ năng sống cơ bản sau: - Kỹ năng ra quyết định - Kỹ năng giải quyết vấn đề. - Kỹ năng tư duy sáng tạo. - Suy nghĩ có phán đoán. - Truyền thông có hiệu quả. - Kỹ năng giao tiếp. - Ý thức về bản thân. - Kỹ năng thấu cảm. 5
  4. - Kỹ năng ứng phó với cảm xúc. - Kỹ năng ứng phó với stress. 2.Các văn bản có liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học -Công văn số 463/BGDĐT-GDTX của Bộ Giáo dục và đào tạo ngày 28 tháng 01 năm 2015 - Công văn số 4026/BGDĐT-GDCTHSSV của Bộ Giáo dục và đào tạo “Về việc tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh” ngày 01 tháng 9 năm 2017. - Chương trình bồi dưỡng thường xuyên bậc Tiểu học Trong chương trình bồi dường thường xuyên dành cho giáo viên Tiểu học có nhiều Modul dành cho giáo viên Tiểu học với các nội dung liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. Trong đó thể hiện rõ nhất ví dụ ở các Modul như: Modul TH 39: Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học qua các môn học; Modul TH 40: Thực hành giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học qua một môn học; Modul TH 41: Giáo dục kỹ năng sống qua các hoạt động giáo dục; Modul TH 42: Thực hành giáo dục kỹ năng sống trong một số hoạt động ngoại khóa ở tiểu học. II. Thực trạng vấn đề: Trong cuộc sống hiện nay việc phát triển của công nghệ đã mang lại cho chúng ta những hiệu quả mà công nghệ đã tạo ra. Bên cạnh những thành công của công nghệ đối với cuộc sống thì nó cũng có những mặt trái mà chúng ta cần phải khắc phục. Hiện nay, chúng ta đang sống trong môi trường công nghệ nên kĩ năng sống của học sinh phổ thông nói chung và học sinh tiểu học nói riêng còn rất nhiều hạn chế. Trong quá trình giáo dục chúng ta thường mới chỉ quan tâm tới việc dạy chữ và chưa quan tâm nhiều tới việc dạy làm người cho học sinh. Vì vậy việc thích ứng với xã hội, với cuộc sống xung quanh là một vấn đề khó với các em. Qua điều tra cho thấy tình trạng học sinh nói tục, chửi bậy, đánh nhau vẫn xảy ra. Trong đó các kĩ năng như tương trợ nhau, giao tiếp, diễn đạt trước đám đông được các thầy cô giáo tích cực hình thành và củng cố nhưng 6
  5. chưa thể hiện được nhiều. Học sinh ngày càng thực dụng, ích kỉ, lười hoạt động và không thích tham gia các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở nhà trường hơn. Việc giảng dạy Kỹ năng sốngđã được đưa vào chương trình giảng dạy trong thời khóa biểu, giúp các em học sinh tiếp thu bài dễ dàng hơn vì đã có những nội dung học và tìm hiểu cụ thể, rõ ràng hơn. Đối với Liên đội Tiểu học Ea Bôngđã được Ban giám hiệu tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa trong năm học phù hợp với lứa tuổi và tình hình thực tế. Thông qua các hoạt động ngoại khóa, các buổi sinh hoạt dưới cờ đã lồng ghép việc giáo dục kỹ năng sống cho các em từ những điều đơn giản nhất như: lễ phép với người lớn tuổi, giữ gìn vệ sinh chung, tuân thủ nội quy trường lớp. Hiện nay việc tổ chức và tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong các nhà trường vẫn chưa được quan tâm nhiều. Một số giáo viên vẫn còn xem nhẹ các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, nhiều gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc tham gia các phong trào của con em mình, từ đó cũng coi nhẹ việc rèn các kĩ năng sống cho học sinh và con em mình. Trường nằm trong địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hầu hết gia đình các em đều làm nông nên điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn. Nhiều học sinh phải ở nhà với ông bà vì bố mẹ đi làm ăn xa nên thiếu sự quan tâm dạy dỗ của bố mẹ. Đây chính là điều kiện tốt để các tệ nạn xã hội xâm nhập vào các em nếu các em không được trang bị tốt nhất các kỹ năng sống cho mình. Nhân cách học sinh được hình thành và phát triển thông qua hai con đường cơ bản là con đường học trên lớp và con đường tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường tiểu học là điều kiện tốt nhất giúp học sinh tích lũy và rèn kỹ năng sống có hiệu quả. Thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp các em được hợp tác, trải nghiệm các kỹ năng sống. Vì vậy giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và của người khác. Sau khi học kỳ I năm học 2017 - 2018 kết thúc và vào đầu năm học 2018-2019 tôi đã tiến hành khảo sát với chủ đề “ Kỹ năng của em”, kết quả thu được như sau: Tổng số học Kỹ năng khi tham gia giao thông 7
  6. sinh Kỹ năng tốt Có hình thành kỹ năng Kỹ năng chưa tốt SL % SL % SL % 2017- 287 150 52,2 92 32 45 15,8 2018 2018- 285 145 50,8 98 34,5 42 14,7 2019 Kỹ năng phòng tránh đuối nước, tai nạn thương tích Tổng số học sinh Kỹ năng tốt Có hình thành kỹ Kỹ năng chưa tốt năng SL % SL % SL % 2017- 287 140 48,7 109 38,1 38 13,2 2018 2018- 285 135 47,3 115 40,4 35 12,3 2019 Kỹ năng phòng tránh bị xâm hại Tổng số học sinh Kỹ năng tốt Chưa có kỹ năng SL % SL % 2017- 157 54,7 130 45,3 2018 287 8
  7. 2018- 285 155 54,3 130 45,7 2019 Kỹ năng tham gia và tổ chức các hoạt động Kỹ năng tốt Chưa có kỹ năng Tổng số học sinh SL % SL % 2017- 287 210 73,1 77 26,9 2018 2018- 285 198 69,4 87 30,6 2019 *Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra. Qua bảng tổng hợp trên kết quả cho thấy, học sinh có kỹ năng tham gia giao thông chưa tốt là trên 14%. Học sinh chưa có kỹ năng phòng tránh đuối nước, tai nạn thương tích chiếm 13%. Học sinh chưa có kỹ năng phòng tránh bị xâm hại là 45,3% và học sinh chưa có các kỹ năng tổ chức các hoạt động tập thể là 26 – 30,6%. Như vậy chúng ta có thể thấy được một số kỹ năng cần thiết hiện nay như phòng tránh bị xâm hại, tai nạn thương tích, đuối nước vẫn chiếm tỉ lệ khá cao. Điều đó yêu cầu chúng ta cần phải có các biện pháp để giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng một cách tốt nhất để vận dụng vào thực tiễn cuộc sống. Việc học sinh còn thiếu những kỹ năng đó xuất phát từ một số nguyên nhân như: Một số gia đình các em có điều kiện kinh tế khó khăn, cha mẹ thường xuyên mâu thuẫn với nhau, một số em cha mẹ đi làm ăn xa nên việc quan tâm giáo dục các em gần như khoán trắng cho nhà trường. Bên cạnh đó một số em được gia đình chiều chuộng nên sớm được tiếp xúc với công nghệ nên thiếu đi các kỹ năng cần thiết. Bên cạnh đó thì việc giáo dục các em ở trong các nhà trường vẫn còn chú trọng chủ yếu vào dạy kiến thức cho các em mà thiếu sự giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho các em nên các em thiếu đi các kỹ năng sống cần thiết. Mặt khác là sự tác độ của cơ chế thị trường, sự phát triển của khoa học công nghệ đã tác động mạnh vào lối sống của các em, xem nhẹ lời khuyên của cha mẹ, thầy cô dẫn đến những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mực đạo đức. 9
  8. III. Các giải pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề: Khi áp dụng việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở bậc tiểu học mục tiêu đưa ra với một số nội dung như : - Biết tự ứng xử trong các trường hợp xảy ra hàng ngày. - Biết cách hợp tác với các bạn trong và ngoài lớp trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập cũng như sinh hoạt. - Có lối sống lành mạnh, biết cách tự chăm sóc mình. - Nhận biết lòng biết ơn, các giá trị đạo đức cơ bản trong cuộc sống. - Biết bao dung, vị tha, tôn trọng với bạn bè, biết quan tâm đến những người xung quanh. * Một số biện pháp nhằm tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua các hoạt động của Đội: Từ thực trạng đã nêu ở phần trên, là giáo viên Tổng phụ trách đội tôi luôn bám sát tình hình thực tế của học sinh trường mình, cố gắng truyền tải cho các em những Kỹ năng sốngthông qua những hoạt động, những hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi, giúp các em tự chủ động lĩnh hội kiến thức và tự trải nghiệm rút ra cho mình bài học để áp dụng trong cuộc sống.Căn cứ vào chương trình hoạt động ngoài giờ của nhà trường, kết hợp với các chủ đề sinh hoạt của Liên đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, mà giáo viên chọn ra những hình thức giáo dục phù hợp. - Biện pháp 1: Tìm hiểu thực tế học sinh và tạo mối thân thiện với học sinh. Là một giáo viên được nhà trường tin tưởng giao trọng trách làm giáo viên- tổng phụ trách đội, bản thân tôi cũng như nhiều đồng nghiệp khác rất tự hào, nhưng xen lẫnđâu đó vẫn có những nỗi lo không tên. Vì trọng trách một người giáo viên tổng phụ trách rất nặng nề, và cóý nghĩa to lớn đối với các em học sinh Việc tìm hiểu gần gũi cũng như tạo mối quan hệ thân thiện với các em không đơn giản một chút nào. Người giáo viên vừa cần nghiêm khắc giúp các em tự giác thực hiện nề nếp nội quy nhà trường, cũng như cần phải thân thiện, là nơi để các em chia sẻ những vấn đề khó nói, hoặc những khó khăn gặp phải trong cuộc sống. Điều vui nhất của giáo viên tổng phụ trách là được thường xuyên tiếp xúc, quan tâm uốn nắn học sinh của mình. Chúng tôi có điều kiện tiếp xúc 10
  9. với cha mẹ học sinh để cùng nhau bàn biện pháp giáo dục một số em học sinh chưa chăm ngoan.Khi các em tiến bộ và trưởng thành, chúng tôi cảm thấy mình như nhận được một món quà vô giá. Đó cũng là nguồn động viên to lớn cho những thầy cô làm công tác kiêm nhiệm. Do đó khi bước vào năm học mới. Giáo viên tổng phụ tráchphải quản lý toàn diện học sinh của toàn trường và cần tìm hiểu những vấn đề cơ bản như: + Hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến học sinh của mình. + Hiểu biết những đặc điểm của các em học sinh (về sức khỏe, sinh lý, trình độ nhận thức, năng lực hoạt động, năng khiếu, sở thích, nguyện vọng, quan hệ xã hội, bạn bè .) + Quản lý toàn diện đặc điểm học sinh của mình, nắm vững mục tiêu đào tạo, giáo dục cả về mặt nhân cách và kết quả học tập của học sinh, đồng thời nắm vững hoàn cảnh của từng em để kết hợp giáo dục để các em phấn đấu và trưởng thành. Làm giáo viên tổng phụ trách đội là một nghệ thuật, đòi hỏi người giáo viên phải là tấm gương sáng cho học sinh noi theo về lời ăn, tiếng nói, tác phong làm việc cho đến trình độ chuyên môn; quan hệ với trò như người thân để trò cảm thấy vừa gần gũi, vừa đáng tin cậy; kiên trì giáo dục học sinh theo kiểu mưa dầm thấm lâu. - Biện pháp 2: Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệmsáng tạo. Nhân cách học sinh được hình thành qua hai con đường cơ bản: Con đường học trên lớp và con đường hoạt động ngoài giờ lên lớp. Hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hoạt động quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường. Chính từ những hoạt động như: lao động, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội đã góp phần rất lớn trong việc hình thành nhân cách của học sinh. Giúp các em biết tự giáo dục, tự rèn luyện, tự hoàn thiện mình. Có thể nói việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp là xây dựng cho các em các mối quan hệ phong phú, đa dạng một cách có mục đích, có kế hoạch, có nội dung và phương pháp nhất định, gắn giáo dục với cộng đồng, tạo sự thân thiện trong mọi tình huống. Biến các nhu cầu khách quan của xã hội thành những nhu cầu của bản thân HS. 11
  10. Nhân cách trẻ được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động có ý thức. Chính trong quá trình sống, học tập, lao động, giao lưu, vui chơi giải trí... con người đã tự hình thành và phát triển nhân cách của mình. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong trường Tiểu học là điều kiện tốt nhất giúp HS tích luỹ và rèn kĩ năng sống có hiệu quả. Thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp các em được hợp tác, trải nghiệm các kĩ năng sống. Vậy giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện các hoạt động ngoài giờ lên lớp sao cho HS có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm và biết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác. Dưới đây là một vài hình thức bản thân tôi đã trải nghiệm và áp dụng có hiệu quả đối với Liên đội: - Biện pháp 3: Hoạt động “Trang trí lớp học thân thiện”. Trong những năm qua Bộ GD&ĐT đã phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực” rộng khắp trên cả nước. Ở trong môi trường đó các em được học tập và sinh hoạt trong một bầu không khí thân thiện, gần gũi như gia đình, điều đó góp phần giúp các em hứng thú trong học tập và đem lại hiệu qua cao trong giáo dục. Nơi đó trường học, lớp học được các em coi như ngôi nhà chung, ngôi nhà thứ hai của mình và các em thấy được mỗi ngày đến trường, đến lớp là một ngày vui, bản thân các em thêm yêu trường, yêu lớp, gắn bó với ngôi nhà chung đó. Lớp học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh, tăng cường giáo dục các kĩ năng sống cho các em. Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh hứng thú học tập, biết rèn luyện kĩ năng và phương pháp học tập, trong đó đặc biệt là phát huy khả năng tự tìm hiểu, khám phá,tư duy sáng tạo Chính vì vậy để giáo dục,rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh thành công tôi luôn quan tâm đến việc trang trí “Lớp học thân thiện”. Đưa cây xanh vào lớp học. Theo tôi, lớp học thân thiện phải có cây xanh, bởi lẻ một lớp học xanh mát, ngập tràn sắc màu thiên nhiên, sẽ giúp các em có một tâm trạng vui tươi nhẹ nhàng với mỗi ngày đến lớp. Nhìn ở phương diện khoa học : cây cỏ lá hoa được ví như lá phổi thanh lọc những khí chất độc hại cho cơ thể. Ở góc độ đời sống tinh thần, màu xanh thiên nhiên có tác dụng giúp tâm hồn thư giản, sảng khoái. Qua đó giáo dục các em tinh thần bảo vệ môi trường sống quanh mình. Trong năm học 2016 – 2017 với phòng học còn chưa được tu sửa, tôi đã cho các em cùng dọn vệ sinh, trang trí thêm các vật dụng như: giá sách, rèm màn mới, trang trí các tranh ảnh, hoặc đồ vật địa phương 12
  11. Trong năm học 2017 – 2018tôi đã tham mưu với lãnh đạo nhà trường tổ chức Hội thi “Lớp học thân thiện”, thông qua hội thi đã giáo dục các em ý thức giữ gìn vệ sinh lớp học cũng như trường mình; các em cùng nhau đoàn kết, hợp tác để tìm hiểu cách trang trí thế nào cho đẹp, cho lạ; và lao động vừa sức của mình, cùng với cha mẹ mình dọn dẹp, sơn sửa mới phòng học. Với không gian lớp học mới, sạch đẹp, khang trang, giúp các em đến lớp với tinh thần tươi vui, phấn khởi, hăng say với các bài học của thầy cô giáo hơn. Đây mới là những kết quả đáng để trân trọng và phát huy. Trang trí lớp học thân thiện - Biện pháp 4: Tổ chức các hoạt động “Lao động dọn vệ sinh”. Để đánh giá xếp loại học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định dựa trên bốn tiêu chí: Văn hóa, đạo đức, lao động và văn thể mĩ. Nhưng hiện nay, tiêu chí hoạt động lao động của học sinh trong trường học dường như đã bị bỏ qua, những hoạt động đó dần được “dịch vụ hóa”. Những năm về trước, hầu hết các trường học đều tổ chức lao động cho học sinh. Các nhà trường thường xuyên duy trì hình thức thay phiên từng lớp lao động trong tuần với các công việc như quét dọn sân trường, lớp, nhổ cỏ, lau bàn ghế Các em thực hiện những công việc đó trước giờ học hoặc ra chơi giữa giờ. Học sinh tự “lao động” sẽ giúp các em biết giữ gìn kết quả công sức lao động của mình, tránh thói quen dựa dẫm ỷ lại, không xả rác bừa bãi trong trường lớp và những nơi công cộng. Tự các em biết mình phải làm gì để giữ gìn môi trường xung quanh sạch đẹp. 13