Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 24 - 36 tháng tại trường Mầm non Đắc Lua

doc 26 trang Chăm Nguyễn 16/04/2026 50
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 24 - 36 tháng tại trường Mầm non Đắc Lua", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_nang_cao_hoat_dong_nh.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp nâng cao hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 24 - 36 tháng tại trường Mầm non Đắc Lua

  1. 2.2 Khó khăn Do trình độ nhận thức một số cháu lúc đầu đến lớp vẫn chưa phát triển được nhiều ngôn ngữ cần thiết mà độ tuổi cần đạt được trẻ mới phát âm được một đến hai từ “ Ba ba”, “ bà bà” nhận biết được một số câu hỏi ngắn, đơn giản lời nói chưa rỏ, chưa tròn câu. Ngôn ngữ của trẻ phát triển chưa đồng đều, một số trẻ ở đầu độ tuổi còn nói ngọng, bập bẹ, nhút nhát, khả năng nhận thức chậm, dùng từ không chính xác. Kinh nghiệm sống của trẻ chưa có nhiều nên cũng phần nào ảnh hưởng đến hoạt động nhận biết tập nói của trẻ. Trình độ nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế đa số làm ruộng, ít trò chuyện, giao tiếp với trẻ, thường chiều theo ý của trẻ. Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá đúng khả năng của trẻ để có phương hướng phấn đấu đạt được kết quả cao trong giảng dạy nên ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá trẻ. * Kết quả khảo sát đầu năm Thời gian đầu năm học trẻ mới bắt đầu đến trường chưa quen với môi trường mới và phải xa bố mẹ, người thân trong gia đình nên trẻ còn hay khóc, chưa chịu học, chịu chơi vì vậy việc phát triển vốn từ còn nhiều hạn chế. Kết quả chất lượng đầu năm học lớp nhóm trẻ 2 như sau: Trung Xếp loại Tốt Khá Không đạt bình Số Số Số Số Nội dung % % % % trẻ trẻ trẻ trẻ Trẻ nghe, nói đủ câu rõ 2 10% 3 15% 5 25% 10 50% ràng mạch lạc Trẻ mạnh dạn, tự tin 1 5% 3 15% 7 35% 9 45% Trẻ nói ngọng 1 5% 2 10% 9 45% 8 40% Qua đó tôi thấy việc phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói còn rất kém, với kết quả trên bản thân tôi thấy cần phải tìm ra các biện pháp để giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ để từ đó nâng dần kết quả học tập của trẻ. Vì thế tôi luôn trăn trở làm thế nào ra những biện pháp hữu hiệu để giờ học của trẻ đạt kết quả tốt hơn. III . TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP 1. Đối với giáo viên: 1.1 Giải pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. 3
  2. Thông thường trẻ trong độ tuổi từ 24 đến 36 tháng bắt đầu biết nói những câu đơn giản và có thể đối thoại ngắn với người lớn. Tuy nhiên, thời gian này, vốn từ của trẻ thì chưa đủ để diễn đạt hết những hiểu biết của trẻ, trẻ nhút nhát, thụ động. .Ví dụ : Cháu Quân, cháu Thảo My, Thiên thường hay nhút nhát, thụ động không trả lời câu hỏi của cô, giáo viên cần tạo nhiều cơ hội để trẻ tự nói chuyện có tinh thần thoải mái, Khuyến khích động viên, khen gợi trẻ để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp gợi cho trẻ những việc mà trẻ thích hoặc muốn làm. Vì vậy phải chú ý đến từng đặc điểm tâm sinh lý cá nhân của trẻ, để có những biện pháp phù hợp với trẻ. Từ đó phát huy hết khả năng của trẻ, có các phương pháp dạy cho trẻ hứng thú hơn trong mọi hoạt động. 1.2. Giải pháp 2: Thay đổi hình thức giới thiệu bài . Tùy thuộc nội dung bài dạy mà tôi lựa chọn cách gây hứng thú cho trẻ một cách linh hoạt nhẹ nhàng. Vì vậy tôi phải xác định được mục đích, yêu cầu của bài dạy, tôi luôn nghiên cứu kĩ giáo án thì mới vận dụng các phương pháp, biện pháp giảng dạy tạo cho trẻ cảm giác gần gũi, vui vẻ, kích thích trẻ thích tham gia vào hoạt động của cô. Ngoài việc tôi phải chuẩn bị giáo án kĩ càng ra tôi còn cần phải chuẩn bị đồ dùng, tranh ảnh vật thật, mô hình sinh động, hấp dẫn, mới lạ. * Sử dụng mô hình: ( Hình ảnh: Mô hình đàn gà) Ví dụ: trong tiết Nhận biết tập nói: Đề Tài : Con gà, con vịt hay con chim 4
  3. Tận dụng nhạc của bài “ con gà trống ” cô và trẻ cùng xem phim về các con vật sẽ định học để trẻ củng cố lại kiến thức về các con vật dẫn dắt vào chủ đề “ động vật ” cũng như vào nội dung bài dạy chính chuẩn bị mô hình cho trẻ quan sát. Trong khi quan sát, cô chỉ vào từng bộ phận của con gà, và cho trẻ nhắc lại. Ví dụ: cô chỉ vào đầu gà, và hỏi trẻ đây là gì? ( để cho trẻ nói) sau đó cô đính chính lại đây là đầu gà, bây giờ các con hãy nói lại cùng cô nào! “Đầu gà” cho trẻ nói đi nói lại 2 – 3 lần, tương tự như vậy cô cho trẻ quan sát và gọi tên một sô bộ phận khác của gà. ( Hình ảnh: Trẻ quan sát mô hình) * Sử dụng hình ảnh: Giúp trẻ cảm nhận và nắm được nội dung thông qua câu đố, hình ảnh bằng các hình thức: Ví dụ: Với con gà : Các con vừa được nghe bài hát gì? Con gì gáy Ò Ó o o! Tôi có thể sử dụng hình ảnh con gà đang gáy tạo sự hấp dẫn cho trẻ hoặc cho trẻ xem hình ảnh con gà thật. Khi quan sát có thể cho trẻ được sờ vào con gà Cho trẻ giả làm gà gáy ò ó o... 5
  4. ( Hình ảnh:Tìm hiểu con gà trống) (Hình ảnh: con gà trống) Ví dụ: Với con vịt : tôi cho trẻ xem hình ảnh con vịt đang bơi hoặc làm động tác vịt bơi hoặc dùng câu đố, trò chơi tạo sự hứng thú đối với trẻ. ( Hình ảnh:Tìm hiểu con vịt) Ví dụ: Với con chim : Cho trẻ nghe tiếng hót của con chim để trẻ đoán xem đó là con gì ? Sau đó cho trẻ xem hình ảnh. Qua hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát con chim đang bay. Chơi trò chơi chim bay, cò bay. 6
  5. ( Hình ảnh:Tìm hiểu con chim) Thông qua mỗi hình thức làm quen với một số con vật gần gũi trẻ thì trẻ được củng cố, nói nhiều lần sao cho chính xác từ và tên các con vật cần làm quen và tìm hiểu thêm về một số bộ phận đơn giản của con vật đang tìm hiểu (mỏ , chân , cánh món ăn yêu thích ) tôi cho trẻ chơi trò chơi lấy thức ăn cho gà vịt. Lúc đầu trẻ nói tên con vật to, rõ ràng cùng cả lớp 2-3 lần . Sau đó cô mời cá nhân, nhóm, cả lớp nói thật to rỏ ràng, mạch lạc: 5-6 trẻ . Ví dụ : Dạy trẻ nhận biết “ Quả cam , quả xoài ”. * Sử dụng vật thật: Cho trẻ xem hình ảnh quả xoài. . (Hình ảnh: xoài cắt miếng nhỏ) (Hình ảnh: Trẻ ăn xoài) 7
  6. ( Hình ảnh:Tìm hiểu quả xoài) Tôi chuẩn bị quả thật quả chín và quả xanh, quả có màu sắc rõ ràng, quả xoài cắt miếng nhỏ, bỏ trong đĩa. Tôi cho trẻ sờ, ngửi, nếm để trẻ có thể cảm nhận được màu sắc mùi vị thông qua hoạt động này trẻ sẽ nhớ lâu hơn và có thể nhận biết được màu sắc, mùi vị của từng loại quả một cách nhanh chóng, chính xác. Ngoài sự chuẩn bị đồ dùng đầy đủ, đẹp trong tiết dạy cô cần áp dụng linh hoạt, sáng tạo thay đổi hình thức dạy, lồng ghép các hoạt động để thu hút trẻ tập trung sự chú ý của trẻ. * Sử dụng các câu đố: Ví dụ: Con gì ăn no Bụng to mắt híp Mồm kêu ụt ịt Nằm thở phì phò? * Sử dụng các trò chơi, trải nghiệm. Tôi cho trẻ quan sát bông hoa thật bằng những bông hoa tôi đã chuẩn bị Tôi hỏi trẻ : Các con thấy trong vườn hoa có những loài hoa gì ? Trẻ kể tên các loại hoa hoặc cô sẽ nói để trẻ biết và nói theo đó là hoa gì? (Khi cô nói đến hoa nào cô sẽ chỉ vào bông hoa đó) 8
  7. Các con thấy hoa hồng như thế nào ? ( Rất đẹp ) - Bông hoa cúc có màu gì ? ( Màu vàng ) ( cho trẻ nhắc lại màu vàng) - Bông hoa hồng có màu gì ? ( Màu đỏ) ( cho trẻ nhắc lại màu đỏ) - Khi ngửi hoa các con thấy như thế nào ? ( Mùi thơm ) ( cô cho trẻ ngửi) - Cánh hoa như thế nào ? ( Nhẵn ) ( cô cho trẻ sờ vào cánh hoa) ( Hình ảnh: hoạt động của trẻ) - Nhắc trẻ hoa hồng có gai, nên khi sờ các con phải cận thận. Với cách tổ chức như vậy tôi thấy trẻ hứng thú, tích cực tham gia học tập, tư duy của trẻ phát triển tốt đồng thời ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển có hiệu quả hơn, trẻ biết diễn đạt sự hiểu biết của mình, ý nghĩa của mình một cách mạch lạc hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng rõ rệt. 1.3. Giải pháp 3: Dạy trẻ trên tiết học chính. Qua thời gian tiếp xúc với trẻ tôi nắm được khả năng phát âm của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ phát âm sai sót nhiều. Ví dụ : Cháu Linh thường phát âm. “Con kiến” đọc là “ Con kiếng ” “Đi làm” đọc là “ Đi nàm” “Hạt xoài” đọc là “Hạt oài” Đối với những trẻ phát âm sai, ngay giờ học đó tôi đã chú ý sửa sai cho trẻ. Tôi nói trước rõ lời, nói chậm cho trẻ phát âm theo. khuyến khích động viên trẻ 9
  8. đứng lên phát âm đúng, rõ ràng. Nói từ từ, chính xác từng chữ một, có thể cho trẻ nói hai ba lần để trẻ nhớ. Trong lớp học tôi chia trẻ thành từng tổ, trong từng tổ có các cháu tiếp thu bài khác nhau : giỏi có, khá có, trung bình có. Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng thông qua hoạt động nhận biết tập nói đạt kết quả cao tôi luôn tìm ra những cách dạy hay để gây hứng thú cho trẻ. Ví dụ : Dạy trẻ nhận biết tập nói “ Con chó, con mèo ” Chủ đề : Những con vật nuôi trong gia đình. Với tiết nhận biết tập nói này, tôi làm mô hình một trang trại có các con vật chó, mèo sinh động hấp dẫn. Để trẻ quan sát nhận xét, gọi tên những con vật tôi cho trẻ về chỗ ngồi ổn định, tôi giả làm tiếng kêu hỏi trẻ ; Đấy là tiếng kêu con gì ?. Sau đó đưa mô hình con chó, mèo ra cho trẻ quan sát, nhận xét, gọi tên các bộ phận của con chó, mèo. Sau khi dạy trẻ nhận biết về tên gọi tôi tiến hành cho trẻ phân biệt giữa các đối tượng. Tôi thường cho trẻ phân biệt qua tên gọi, một số đặc điểm, tiếng kêu nổi bật nhằm phát triển tư duy của trẻ như: Đặc điểm phân biệt Con chó Con mèo - Tên gọi - Con chó - Con mèo - Đặc điểm nổi bật - Tai thính - Mắt tinh - Tiếng kêu - Gâu gâu ( cho trẻ nghe - Meo meo ( cho trẻ nghe - Ích lợi tiếng kêu thật, trẻ nói: tiếng kêu thật, trẻ nói meo gâu gâu) meo) - Nuôi để trông nhà ( - Nuôi để bắt chuột ( hình hình ảnh chó trông nhà) ảnh mèo bắt chuột) ( Hình ảnh:Tìm hiểu con chó, con mèo) 10
  9. Ví dụ: Cô đố các con biết con chó kêu làm sao? Con mèo kêu như thế nào? Để kích thích tư duy tính tò mò muốn khám phá của trẻ? Cho trẻ bắt chước tiếng kêu, hoặc tôi giả tiếng kêu của mèo và hỏi trẻ con gì vừa kêu đấy nhỉ! Đến khi kết thúc tiết học tôi tiếp tục sử dụng các biện pháp tích hợp, múa hát đọc thơ, trò chơi Để củng cố nội dung bài mà trẻ vừa được học. Tôi có thể kết hợp hoạt động ngoài trời để cho trẻ xem hình ảnh con chó, mèo thật. Với cách giới thiệu như vậy, tôi thấy các cháu hứng thú học. Tôi thường xuyên thay đổi phương pháp, cách thức dựa vào nội dung bài nhận biết tập nói để tìm cách giới thiệu hay nhất làm sao để tạo được sự hứng thú sau đó đi sâu vào phần chính rèn cho trẻ cách phát âm đúng, chính xác nhất. Trong quá trình dạy tôi luôn chú ý rèn luyện cho trẻ có thói quen nề nếp trong học tập đó là cơ sở ban đầu hỗ trợ cho giờ dạy đạt hiệu quả cao. 1.4. Giải pháp 4 : Lấy trẻ làm trung tâm dựa vào khả năng của trẻ. Phương pháp này làm phát triển tính độc lập và tự tin của trẻ. Trẻ có khả năng suy nghĩ, khám phá mà mà không cần tuân theo bất kì sự chỉ dẫn nào. Vì vậy mà trẻ độc lập, có chứng kiến riêng và sẽ hoàn thành công việc sau khi đã trải qua một quá trình liên tục của những cố gắng và sai lầm. Tôi cho trẻ trải nghiệm thực tế bằng việc cho trẻ đi tham quan, ngoài trời khu trồng rau, hồ cá nhỏ ở đơn vị, qua đó phát triển vốn từ cho trẻ. ( Hình ảnh: Trẻ xem ao cá) ( Hình ảnh: Trẻ xem vườn rau) Trong giờ học hãy để trẻ tự thể hiện, cô luôn là người động viên, khuyến khích trẻ sáng tạo. Trẻ cần được động viên để thể hiện ý muốn, tình cảm, cảm xúc và những hiểu biết của trẻ đối với sự vật, trẻ muốn được lựa chọn. Giáo viên nên đưa ra câu hỏi gợi ý giúp trẻ củng cố và áp dụng những kinh nghiệm đã lĩnh hội trong các hoạt động khác nhau, động viên trẻ suy nghĩ, thăm dò, tìm cách giải quyết vấn đề của trẻ. Hãy để tự trẻ miêu tả những gì trẻ 11
  10. biết và có thể làm. Nhằm giúp trẻ tăng trí thông minh, khả năng ghi nhớ, nhận biết môi trường tự nhiên. Không những thế qua những bài tập trẻ có cơ hội khám phá, học hỏi những kiến thức căn bản. Từ đó một số tính cách của trẻ như sự kiên trì, nhẫn nại, ham học học và đặc biệt là ngôn ngữ dần hình thành phát triển. Sau khi nắm được nhu cầu, hứng thú, khả năng của từng trẻ để có cách giảng dạy phù hợp. Và cũng chính sự khác nhau đó, đòi hỏi tôi phải tạo cho trẻ có nhiều cơ hội để học tìm hiểu thực tế. Tạo môi trường trong lớp học và tận dụng tất cả không gian trong và ngoài lớp học nhằm tạo điều kiện cho trẻ được học, được trải nghiệm, được khám phá mọi lúc, mọi nơi. Cần phải xây dựng tổ chức môi trường giáo dục, tạo nhiều cơ hội cho trẻ học bằng nhiều cách khác nhau để trẻ chủ động tham gia các hoạt động vui chơi, khám phá, trải nghiệm theo phương châm “học mà chơi, chơi mà học” phù hợp với từng độ tuổi khác nhau. Tôi tự thiết kế kế hoạch giảng dạy để dạy trẻ đạt kết quả tốt nhất, căn cứ vào khả năng, nhu cầu học tập, kinh nghiệm sống của trẻ để xác định mục tiêu, nội dung cụ thể trong từng hoạt động và đảm bảo tốt mục tiêu giáo dục đề ra. Việc đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của trẻ trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục tại trường. Việc sáng tạo trong việc làm đồ dùng, đồ chơi phong phú, đa dạng mang tính giáo dục và thẩm mỹ. Trẻ sẽ tích cực, chủ động tham gia các hoạt động, làm việc theo nhóm để được trải nghiệm, trao đổi, chia sẻ và trình bày ý kiến của mình; biết suy nghĩ và vận dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống, giải quyết các tình huống mà trẻ gặp phải Từ đó, trẻ mạnh dạn, tự tin, tích cực, chủ động, tư duy, sáng tạo, thích thú tìm tòi, khám phá trong quá trình tham gia các hoạt động giáo dục ở trường, ở lớp. 2. Đối với trẻ: 2.1 Giải pháp 5: Dạy trẻ mọi lúc mọi nơi. Ngoài những hoạt động chính ra tôi thường dạy trẻ phát tiển vốn từ thông qua các tiết học, lúc đón trẻ, trả trẻ hoặc trong các hoạt động chung, hoạt động góc. Hoạt động ngoài trời, chơi tự do Tôi thường đưa ra các câu hỏi để bồi dưỡng thêm cho từng trẻ ở mọi lúc mọi nơi, 2.1. Thông qua giờ đón trẻ : Lúc đón trẻ tôi cũng thường trò chuyện với trẻ, tôi chú ý đến, cử chỉ hành động của trẻ, nhắc trẻ nói tròn câu, nói mạch lạc, không ngắt quảng, không nói lắp Ví dụ : Ai vừa chở con đi học ? Con có thích được đi học không ? Tôi hướng dẫn trẻ cách chào cô khi trẻ đến lớp, chào tạm biệt bà khi bà về hoặc đến đón trẻ. 12
  11. ( Hình ảnh:Trẻ biết chào cô, chào bà) 2.2. Thông qua giờ ăn : Trước khi ăn tôi hỏi trẻ hôm nay các con ăn gì ? ( Cô giới thiệu cho trẻ nhắc lại tên món ăn) hoặc khi chia cơm tôi cho trẻ đọc bài thơ giờ ăn, giúp hình thành thói quen phát triển vốn từ cho trẻ. Đến giờ ăn cơm Vào bàn bạn nhé Nào thìa, bát, đĩa Xúc cho gọn gàng Chớ có vội vàng Cơm rơi, cơm vãi. 2.3. Thông qua giờ ngủ : Cô kể cho trẻ nghe câu chuyện hay, nhẹ nhàng để trẻ dễ dàng đi vào giấc ngủ. Ví dụ: Câu chuyện “ Thỏ ngoan” “ Khỉ con biết vâng lời’ “ Chú gấu con ngoan” hoặc cô cho trẻ nghe những giai điệu nhạc nhẹ nhàng, hoặc nghe bài thơ « đi ngủ » khi trẻ quen rồi thì sẽ cho trẻ đọc theo. 2.4. Thông qua hoạt động góc: Góc sách - truyện: Cô cho trẻ xem tranh chuyện trong chủ đề. Góc phân vai: Cô cho trẻ tập nhận biết giọng các nhân vật trong câu chuyện. Ví dụ: Câu chuyện “ Quả trứng”. Giọng bạn gà và bạn heo đều ngạc nhiên khi nhìn thấy quả trứng . 2.5 Thông qua giờ chơi : 13