Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học tốt môn Nhận biết tập nói
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học tốt môn Nhận biết tập nói", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_tre_24_36_thang.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học tốt môn Nhận biết tập nói
- giáo. Vì bộ máy phát âm của trẻ còn yếu ớt rất nhạy cảm và còn tiếp tục hoàn chỉnh cùng với sự phát triển chung của cơ thể. Thông qua quá trình quan sát ở những giờ hoạt động nhận biết tập nói, tôi thấy các cháu rất thích được trò chuyện, thích được giao tiếp và thích được nói nhưng vì ngôn ngữ vốn từ còn hạn chế, các cháu sử dụng ngôn ngữ thụ động nhiều trẻ rất muốn nói những lại không thể diễn đạt được hết những suy nghĩ yêu cầu của mình dẫn đến tình trạng cô hiểu sai ý trẻ, hoặc có một số cô không hiểu trẻ nói gì, không đáp ứng được nhu cầu của trẻ. Cho nên cô giáo có một trọng trách rất quan trọng đối với trẻ là người chịu trách nhiệm hướng dẫn bảo ban trẻ, chỉ bảo cho trẻ mọi điều và việc quan trọng hơn cả là cô giáo phải chú ý và quan tâm đến trẻ hơn về mặt câu từ trẻ có nói đúng ngữ pháp không? có đủ câu chưa? đã tròn âm chữ khi phát âm ra chưa? không những vậy là người giáo viên chúng ta còn dậy trẻ thêm những vốn kiến thức sơ khai, những chào hỏi lễ phép tưởng như đơn giản những không kém phần khó khăn vất vả ở đây. Qua đó trẻ được làm quen thêm về một số môn học khác ở lứa tuổi nhà trẻ trong đó có bộ môn Nhận biết tập nói là bộ môn điển hình + Trẻ được làm quen với các sự vật hiện tượng xung quanh trẻ +Trẻ phát âm chuẩn được các vốn từ về các hiện tượng xảy ra xung quanh trẻ +Trẻ được làm quen và hình thành những khả năng tư duy, tưởng tượng mà hàng ngày cô giáo và cha mẹ vẫn thường cho trẻ thấy qua các góc chơi ở lớp qua mảng chủ đề, qua các giờ học,qua các tranh ảnh, hình ảnh và trẻ được tếp xúc ở bên ngoài với những sự vật hiện tượng Mục đích của hoạt động nhận biết tập nói lứa tuổi nhà trẻ 24-36 tháng là để trẻ hiểu và hòa mình vào các sự vật hiện tượng có trong tự nhiên, trong cuộc sống hàng ngày của trẻ. Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi luôn suy nghĩ, tìm tòi để tìm ra các hình thức, biện pháp giúp trẻ có những giờ học sao cho có chất lượng nhất, bổ ích nhất giúp trẻ phát triển tư duy và những vốn từ hiểu biết của trẻ một cách tự nhiên và thoải mái. Chính vì vậy ngay từ đầu năm tôi đã tìm tòi nghiên cứu sách vở, tài liệu để tìm ra những biện pháp tích cực nhất, hứng thú nhất, phát triển khả năng ngôn ngữ cho trẻ 24-36 tháng. Xuất phát từ những lý do trên mà tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng học tốt môn nhận biết tập nói”. 2. Mục đích của đề tài: - Đánh giá thực trạng về chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Tìm ra các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 – 36 tháng ở trường mầm non. 3. Đối tượng nghiên cứu: Phát triển ngôn ngữ qua hoạt động nhận biết tập nói giúp trẻ 24-36 tháng trong trường mầm non 4. Phạm vi nghiên cứu: Trẻ 24-36 tháng trường mầm non Sao Sáng Thời gian nghiên cứu trong năm học 2022- 2023 II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận:
- Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Học ăn, học nói, học gói, học mở". Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì nó ra đời và tồn tại cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, ngôn ngữ dùng để phục vụ ,mọi thành viên trong xã hội từ việc học tập, lao động đến việc vui chơi giải trí. Có thể nói rằng trong bất kì lình vực hoạt động nào của con người cũng cần đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ giúp cho người trao đổi tư tưởng tình cảm, bộc lộ những cảm xúc và xác lập những mối quan hệ giữa thành viên này với thành viên khác trong xã hội.Ngôn ngữ có thể nói là một thứ công cụ để tổ chức xã hội,để duy trì mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Quá trình phát triển ngôn ngữ là quá trình cung cấp từ ngữ cho trẻ, góp phần là phong phú ngôn ngữ đẩy mạnh quá trình phát triển trí tuệ và tình cảm đạo đức cho trẻ, Có thể nói rằng rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là góp phần tích cực vào việc trang bị cho thế hệ mầm non một phương tiện mạnh mẽ để tiếp thu kinh nghiệm quý báu của thế hệ cha anh, đồng thời tạo điều kiện cho các cháu lĩnh hội các kiến thức, những hiểu biết mới lạ về thế giới xung quanh. Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng như vậy trong cuộc sống, nhưng là thế nào để ngôn ngữ phát triển và muốn có ngôn ngữ phát triển thì chúng ta không thể nói đến việc phát triển vốn từ cho trẻ. Từ là đơn vị có sẵn và cơ bản của ngôn ngữ, là vật liệu chủ yếu tạo nên câu, xây dựng lời nói. Trong cuộc sống không có vốn từ thì không có ngôn ngữ hoặc vốn từ chậm phát triển thì ngôn ngữ cũng chậm phát triển và ngược lại. Vốn từ phát triển phong phú thì ngôn ngữ cũng phát triển phong phú. Khi con người biết sử dụng nhiều loại từ một cách chặt chẽ thì họ sẽ có một cách giao tiếp vững vàng tự tin trong bất kỳ lĩnh vực nào của xã hội. Để có vốn từ phát triển trước tiên ta phải bắt đầu phát triển ngôn ngữ cho rẻ ngay từ lứa tuổi mầm non vì ở lứa tuổi này phát triển vốn từ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu được ý nghĩa của từ, biết sử dụng từ trong giao tiếp. Phát triển từ cho trẻ là quá trình hình thành giúp trẻ làm quen với các từ mới, củng cố vốn từ làm cho vốn từ phong phú tích cực hóa ngôn ngữ cho trẻ.Quá trình này iên quan chặt chẽ với giai đoạn nhận thức tiếp theo của trẻ để hình thành các biểu tượng về thế giới xung quanh.. Vì bộ máy phát âm của trẻ còn yếu ớt rất nhạy cảm và còn tiếp tục hoàn chỉnh cùng với sự phát triển chung của cơ thể. Trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ từ 3 đến 36 tháng, hoạt động nhận biết tập nói giúp trẻ nhận biết và tập nói về tên gọi và một số đặc điểm nổi bật của các đối tượng gần gũi xung quanh để tăng thêm vốn từ và mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh. Những kiến thức mà trẻ nắm được ở hoạt động này là một quá trình quan sát, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng. Từ đó thấy được ý nghĩa quan trọng của ngôn ngữ và thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ thông qua hoạt động nhận biết tập nói là công việc hàng đầu của giáo dục, giúp trẻ không chỉ biết lắng nghe để thể hiện suy nghĩ, tình cảm và ý kiến của mình mà còn chuẩn bị cho việc làm quen với văn học và chữ viết ở những lớp học trên. Đối với trẻ 24 -36 tháng có trẻ nói ít, chậm nói, chưa biết nói, vậy để phát triển
- cũng cố vốn từ cho trẻ thì ngoài việc giáo viên có kỹ năng sư phạm tốt cũng cần phải cho trẻ có cơ hội được trải nghiệm, học hỏi thông qua các hình ảnh, mô hình trực quan, giáo viên cần dạy trẻ mọi lúc mọi nơi, có sự phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường để hoạt động nhận biết tập nói đạt hiệu quả cao. Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi, giai đoạn này người ta gọi là giai đoạn tiền ngôn ngữ vì đặc điểm sinh lý ở lứa tuổi này có vùng ngôn ngữ bắt đầu hình thành và phát triển mạnh, do đó mà trẻ được tác động mạnh mẽ về ngôn ngữ từ phía môi trường xung quanh trẻ, thì vùng ngôn ngữ của trẻ có điều kiện phát triển nhanh. Nhưng trong thực tế môi trường gia đình:ông, bà., bố, mẹ hay môi trường xã hội: cô giáo còn ít quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ nên nhìn chung vốn từ của trẻ còn nhiều hạn chế. Việc hướng dẫn và dạy cho trẻ ở lứa tuổi 24- 36 tháng tuổi làm quen và học tốt môn nhận biết tập nói là việc vô cùng quan trọng và cần thiết. Vì ở lứa tuổi này trẻ con non nớt, vụng về, trẻ cần được chăm sóc về mọi mặt: cả về tinh thần lẫn thể chất. Nhất là trong giai đoạn trẻ đang còn tập nói và nói chưa đủ câu.Trẻ 24- 36 tháng mới phát âm được một đến 2 từ, lời nói của trẻ còn chưa rõ ràng mạch lạc, vốn từ của trẻ còn ít, đa số các cháu còn nói ngọng, nói lắp, nói không rõ chữ, rõ ý, hay lặp lại các câu nói của cô. Mặt khác các cháu còn nhỏ nên thường có phản ứng chậm chạp hoặc rất khó khăn để hiểu những yêu cầu của cô giáo. II. Đặc điểm tình hình: 1. Thuận lợi. - Lớp được chia theo đúng độ tuổi quy định. - Trẻ đi học chuyên cần - Đồ dùng phục vụ cho việc phát triển vốn từ cho trẻ phong phú về hình ảnh, màu sắc hấp dẫn( tranh ảnh, vật thật.. ) - Được sự quan tâm của phòng giáo dục đào tạo đã tổ chức các đợt kiến tập về chuyên môn nghiệp vụ - Nhà trường tạo điều kiện cho giáo viên đi kiến tập, học hỏi kinh nghiệm của các trường bạn. Đồng thời còn giúp đỡ về trang thiết bị, đồ dùng, dụng cụ phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ. - Giáo viên nắm vững phương pháp giảng dạy bộ môn, được bồi dưỡng thường xuyên và tham gia học tập tại các lớp chuyên đề do sở, phòng tổ chức. - Lớp có 2 giáo viên có tinh thần trách nhiệm, yêu nghề mếm trẻ, luôn quan sát, nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý, thói quen của từng trẻ trong lớp. Nắm vững phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ, giáo viên nhiệt tình, sáng tạo làm đồ dùng phục vụ cho việc cung cấp và phát triển vốn từ cho trẻ.Trình độ của giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn.
- - Bản thân luôn có tinh thần tự học hỏi đồng nghiệp, sách báo , internet để tìm hiểu những vấn đề có liên quan đến phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động nhận biết tập nói cho trẻ 24 -36 tháng đạt kết quả cao - Được sự quan tâm và phối hợp của phụ huynh trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. 2. Khó khăn: - Trẻ 24- 36 tháng tuổi do tôi phụ trách là độ tuổi còn non nớt, các cháu bắt đầu đi học còn khóc nhiều, chưa quen với các cô và các bạn, chưa thích nghi với điều kiên sinh hoạt và các hoạt động ở lớp, các cháu không cùng tháng tuổi, mỗi cháu đều có sở thích và cá tính khác nhau. - Do trình độ nhận thức một số cháu lúc đầu đến lớp vẫn chưa phát triển được nhiều ngôn ngữ cần thiết mà độ tuổi cần đạt được trẻ mới phát âm được một đến hai từ “ Ba ba”, “ bà bà” nhận biết được một số câu hỏi ngắn, đơn giản lời nói chưa rỏ, chưa tròn câu. -Ngôn ngữ của trẻ phát triển chưa đồng đều, một số trẻ ở đầu độ tuổi còn nói ngọng, bập bẹ, nhút nhát, khả năng nhận thức chậm, dùng từ không chính xác. – Trí nhớ của trẻ còn nhiều hạn chế, trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu cũng như trật tự các từ khi nhắc lại câu của người lớn. Vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ, bớt âm khi nói. – 85% kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, nhận thức còn hạn chế dẫn đến tình trạng trẻ thường dùng từ không chính xác. – 60% trẻ nói phát âm sai do ảnh hưởng ngôn ngữ của người lớn xung quanh – Ở lớp nhà trẻ, thời gian chăm sóc trẻ chiếm đa số nên việc giáo viên chú ý phát triển vốn từ cho trẻ đôi khi còn gặp nhiều khó khăn. - Kinh nghiệm sống của trẻ chưa có nhiều nên cũng phần nào ảnh hưởng đến hoạt động nhận biết tập nói của trẻ. -Phụ huynh coi nhẹ tầm quan trọng của việc cung cấp kiến thức cho trẻ nhất là trẻ nhà trẻ, phụ huynh còn hạn chế, ít trò chuyện, giao tiếp với trẻ, thường chiều theo ý của trẻ. Đa số phụ huynh đều bận công việc hoặc có những lý do khách quan nào đó ít có thời gian trò chuyện với trẻ và nghe trẻ nói. Trẻ được đáp ứng đầy đủ về nhu cầu mà trẻ cần. + VD: Trẻ chỉ cần chỉ, cần nhìn vào những gì mình thích thì được đáp ứng ngay mà không cần phải dùng lời để yêu cầu hoặc xin. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc vốn từ của trẻ rất nghèo nàn. – Đứng trước một số khó khăn như vậy, tôi đã tìm tòi, suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ và qua thực tiễn dạy trẻ hàng ngày, trong những năm học vừa qua, tôi đã rút ra một số kinh nghiệm. III. Giải quyết vấn đề: 1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 24 - 36 tháng tuổi: Với trẻ mầm non nói chung và lứa tuổi nhà trẻ nói riêng thì nhận thức và phát âm đúng từ ngữ là việc khó khăn vì bản thân trẻ còn nói ngọng, chưa chuẩn cô là người củng cố, uốn nắn trẻ nói từng câu, từng từ, trẻ nói đúng, nói chuẩn, nói đủ câu để
- trẻ phát triển được ngôn ngữ cũng như tư duy một cách tốt nhất. Chính vì vậy mà phải cho trẻ có nhiều cơ hội được quan sát, được thỏa mãn trí tò mò, lòng ham muốn khám phá thế giới thông qua các giờ trẻ được hoạt động với đồ vật là chủ đạo trong suốt quá trình học ở mầm non. Thông thường trẻ trong độ tuổi từ 24 đến 36 tháng bắt đầu biết nói những câu đơn giản và có thể đối thoại ngắn với người lớn. Tuy nhiên, thời gian này, vốn từ của trẻ thì chưa đủ để diễn đạt hết những hiểu biết của trẻ, trẻ nhút nhát, thụ động. 2. Các giải pháp thực hiện: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ. 2.1. Khảo sát trẻ đầu năm: Đây là biện pháp theo tôi là rất cần thiết. Qua khảo sát tôi có thể nắm rõ những mặt ưu điểm và hạn chế của trẻ. Bên cạnh đó khảo sát trẻ trên lớp khiến tôi và trẻ của mình có thể hiểu nhau hơn. Đầu năm tổng số học sinh lớp nhà trẻ 24-36 tháng là 25 trẻ: NỘI DUNG TỐT KHÁ ĐẠT CHƯA ĐẠT SL % SL % SL % SL % Trẻ nói được 23 90% 2 10% 25 100% 0 0 câu một từ Trẻ nói được 20 75% 5 20% 24 95% 1 5% câu hai từ Trẻ nói được 10 40% 6 25% 5 65% 4 35% câu ba từ Trẻ nói được 6 15% 6 30% 9 45% 5 55% câu bốn từ 2.2. Tìm hiểu đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ nhà trẻ – Muốn phát triển vốn từ cho trẻ, theo tôi điều đầu tiên chúng ta phải hiểu được phát triển vốn từ cho trẻ là gì ? Phát triển vốn từ cho trẻ giúp trẻ nắm vững được nhiều từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp. Để làm được như vậy tôi phải dựa trên các cơ sở lý luận sau: 2.2.1. Cơ sở ngôn ngữ – Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ nhà trẻ: Vốn từ của trẻ tăng nhanh, số lượng từ chủ động của trẻ từ 500- 600 từ. Trong vốn từ của trẻ có tất cả các loại từ đơn, từ
- ghép.ở trẻ có cả từ ghép 3- 4 tiếng bên cạnh đó trẻ có nhu cầu giao tiếp với mọi người, trẻ thích tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống xung quanh, những từ các cháu được sử dụng hầu hết là những từ chỉ tên gọi, những gì gần gũi xung quanh mà hàng ngày trẻ tiếp xúc. Ngoài ra, trẻ cũng nói được một số từ chỉ hành động, chỉ những công việc của bản thân và mọi người xung quanh, chỉ hành động của những con vật mà trẻ biết. Ví dụ: Con mèo: Meo meo meo Con vịt: Cạp cạp cạp Con gà: Gâu gâu gâu Vốn từ của trẻ tuy phát triển nhưng vẫn còn hạn chế bộ máy phát âm của trẻ đang hoàn thiện dần nên khi trẻ nói, trẻ hay nói chậm, hay nói kéo dài giọng,đôi khi còn ậm, ừ, ê, a, không mạch lạc. Để giúp trẻ phát triển vốn từ, tôi thấy người giáo viên cần phải nắm vững vốn từ của trẻ. Mặt khác, các cô giáo phải nói to, rõ ràng, mạch lạc, dễ nghe. 2.2.2. Cơ sở tâm lý: Tư duy của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ là tư duy trực quan. Thời kỳ này, khả năng chi giác về các sự vật hiện tượng bắt đầu được hoàn thiện.Trẻ hay bắt chước những cử chỉ và lời nói của người khác, do vậy ngôn ngữ của cô giáo phải trong sáng và chính xác để trẻ nói theo. 2.2.3. Cơ sở sinh lý: Ngôn ngữ của trẻ chỉ được hình thành và phát triển qua giao tiếp với con người và sự vật hiện tượng xung quanh. Để thực hiện điều đó phải thông qua nhiều phương tiện khác nhau như qua các giờ học, các trò chơi, dạo chơi ngoài trời và sinh hoạt hàng ngày, rèn luyện và phát triển vốn từ cho trẻ, tập cho trẻ biết nghe, hiểu và phát âm chính xác các âm của tiếng mẹ đẻ, hướng dẫn trẻ biết cách diễn đạt ý muốn của mình cho người khác hiểu.Vì vậy khi cho trẻ tiếp xúc với các sự vật hiện tượng thì phải cho trẻ biết gọi tên,đặc điểm của đối tượng, không những thế, giáo viên dạy trẻ biết nói câu dầy đủ, rõ nghĩa, dạy trẻ phát âm chuẩn của tiếng việt, đảm bảo các 6 nguyên tắc của giáo dục học tính khoa học, tính hệ thống, tính vừa sức, tính tiếp thu. Dựa vào những cơ sở lý luận trên, đối chiếu với tình hình thực tế, tôi nhận thấy sự chênh lệch về vốn từ của trẻ ở cùng một lứa tuổi trong lớp khá lớn. Qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy vốn từ của trẻ không phụ thuộc vào điều kiện vật chất, kinh tế gia đình mà trước hết liên quan rất nhiều đến thới gian trò chuyện với trẻ hay không? Cô và cha mẹ có lắng nghe bé kể chuyện về sinh hoạt và bạn bè hay không? Cô có thường xuyên kể chuyện cho bé nghe và hướng dẫn bé kể lại không? Tất cả những điều đó không chỉ làm tăng vốn từ của trẻ, sự hiểu biết nghĩa của từ, cách dùng từ của trẻ mà còn làm phong phú hiểu biết và hiểu xúc cảm của trẻ. Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi đã mạnh dạn áp dụng một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ ở lớp thông qua một số hoạt động sau:
- Phát triển vốn từ cho trẻ ở trường Mầm Non là công tác giáo dục có kế hoạch, có mục đích, có tổ chức và phải mang tính hệ thống nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ như một phương tiện giao tiếp quan trọng vì thế chúng ta phải dạy cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi, trên những tiết học cụ thể, trong đó phát triển ngôn ngữ, vốn từ phải được đặt lên vị trí hàng đầu. * Thông qua giờ nhận biết tập nói: Đây là môn học quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp từ vựng cho trẻ. Trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng tuồi đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói một từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết học cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh đó cô cũng phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng, ngắn gọn, trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu, không nói câu cụt lủn hoặc cộc lóc. Ví dụ : Trong bài nhận biết quả dưa, quả cam, quả đu đủ Cô muốn cung cấp từ “ Quả cam” cho trẻ Cô phải chuẩn bị đầy đủ các loại quả thật, để trẻ sử dụng các giác quan: sờ, nhìn, nếm, ngửi, nhằm phát huy được tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát, cô cần đưa ra một hệ thống câu hỏi: + Đây là quả gì? ( Đây là quả cam) + Quả cam có vỏ có màu gì ( Màu xanh) + Đây là cái gì của quả cam (vỏ cam) + Đây là gì? ( Múi cam) + Ăn cam có vị gì?( vị ngọt thanh ạ ) - Cô cho trẻ ôn luyện bằng cách chơi trò chơi. Ảnh 1: Trẻ được cầm sờ cảm nhận và bóc vỏ cam Ảnh 2: Trẻ cùng cô chơi trò chơi vắt nước cam Ảnh 3: Trẻ chơi trò chơi nhổ cà rốt trong vườn Như vậy nhờ có sự giao tiếp giữa cô và trẻ đã giúp trẻ phát huy được tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ, phát triển năng lực quan sát, phát triển các giác quan, kích thích lòng ham hiểu biết tìm tòi khám phá về những điều bí ẩn của các sự vật xung quanh.Qua đó củng cố, mở rộng vốn hiểu biết, làm giầu vốn từ cho trẻ. * Qua giờ thơ, truyện. Trên tiết học khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngư nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vây trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng học thêm được
- các từ mới qua giờ học thơ truyện. Khi tiếp xúc với bài thơ, câu chuyện là trẻ đã được tri giác các bức tranh có hình ảnh và từ ngữ mới tương ứng với nội dung bức tranh. Ví dụ1: Trẻ nghe câu chuyện ” Bác gấu đen và hai chú thỏ” Cô muốn cung cấp cho trẻ từ ” Ướt lướt thướt” Cô có thể cho trẻ xem tranh, mô hình và giải thích từ ‘‘ướt lướt thướt”. Bên cạnh đó cô cũng chuẩn bị một số hệ thống câu hỏi giúp trẻ nhớ được nội dung truyện và từ vừa học. + Bác gấu đen trong câu chuyện cô vừa kể đi đâu ?( Đi chơi rừng ) + Khi gặp trời mưa , bác gấu đen bị làm sao ? ( Ướt lướt thướt ) Cô kể 1 -2 lần giúp trẻ hiểu tác phẩm và đặt tiếp hệ thống câu hỏi hướng vào việc hiểu biết các hành động của nhân vật để trẻ hiều việc nào nên làm, việc nào không nên làm. + Qua câu chuyện, con yêu quý ai ? ( Bác gấu đen, bạn thỏ trắng ) ( Vì bạn thỏ trắng và bác gấu đen là những người tốt bụng ) Ví dụ 2 :Qua bài thơ “Cây bắp cải ” Cô muốn cung cấp cho trẻ từ ” Sắp vòng quanh” Cô có thể cho trẻ quan sát vật thật. Cho trẻ được xem,được sờ các lá bắp cải sắp vòng quanh như thế nào?Cô vừa giải thích vừa chỉ cho trẻ xem và cho trẻ cùng làm động tác mô phỏng các là được xếp vòng quanh với nhau tạo thành cây bắp cải xanh. Bên cạnh đó cô cũng chuẩn bị một hệ thống câu hỏi :+ Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gị ? Cây bắp cải + Cây bắp cải trong bài thơ được tác giả miêu tả đẹp như thế nào ? ( Xanh man mát ) + Lá bắp cải trong bài thơ được tác giả miêu tả như thế nào ? ( Sắp vòng quanh) Như vậy thơ truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà còn dạy trẻ thể hiện và mô phỏng những động tác tương ứng với nhân vật 8 trong bài thơ, câu truyện.Khi trẻ đã biết kể lại truyện cùng với co điều đó chứng tỏ trẻ đã biết ghi nhớ cốt truyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện, lĩnh hội kinh nghiệm tiếp thu kiến thức, biết sử dụng nhiều từ mới thể hiện sự tương ứng mới nội dung câu truyện đó. 3.3.3.. Qua giờ âm nhạc Các tiết học âm nhạc trẻ được tiếp xúc nhiều với đồ vật ( Trống , lắc, phách tre và nhiều vật liệu ) trẻ được học những giai điệu vui tươi kết hợp với các loại hoạt động ( Vận động theo bài hát một cách nhịp nhàng. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức, vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trể được tích lũy và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc.
- Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng những hình ảnh đep của bài hát. Ví dụ : Hát và vận động bài ” Con voi” Trẻ biết sử dụng động tác minh họa đơn giản như:Trông đằng xa kia có con chi to ghê: Trẻ dùng một ngón tay vẫy vẫy Sao trông giống như xe hơi : Hai tay tạo hình chữ nhật ở trước ngực Lăn lăn bánh xe đi chơi : Hai tay quay vòng tròn À thì ra con voi : Dùng tay chỉ kết hợp với vẫy nhẹ Vậy mà đuôi trên đầu: Dùng tay phải đặt giữa đỉnh đầu vẫy nhẹ. Ảnh 4: Trẻ tham gia biểu diễn văn nghệ chào mừng năm mới 3.4 . Phát triển vốn từ của trẻ thông qua chơi. Đây có thể coi là một trong những hình thức quan trọng nhất. Bởi giờ chơi có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ, đặc biệt là tích cực hóa vốn từ cho trẻ. Thời gian chơi của trẻ chiếm nhiều nhất trong thời gian trẻ ở nhà trẻ, là thời gian trẻ được chơi thoải mái nhất. Trong quá trình chơi trẻ được sử dụng các loại từ khác nhau, có điều kiện học và sử dụng các từ có nội dung rất khác nhau. Ví dụ : Trò chơi bế em Búp bê của bạn ăn chưa ? ( Rồi ạ ) Bạn đã cho búp bê ăn lúc nào vậy? ( Vừa ăn xong ) Điều đó cho thấy giờ chơi không chỉ dạy trẻ kỹ năng chơi mà còn dạy trẻ nghe hiểu, giao tiếp cùng nhau Trong quá trình chơi, trẻ được thực hiện nhiều hành động khác nhau với đồ chơi như vậy trẻ phải sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và phát triển lời nói cho trẻ. Ảnh 5: Trẻ chơi góc gia đình Ví dụ : Con ơi ! Con đang xếp gì đấy ? ( Con xếp đoàn tàu )
- Con xếp đoàn tàu bằng những hình gì? (Hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn ạ) Như vậy trò chơi sáng tạo cũng góp phần phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Trong quá trình chơi trẻ bắt buộc phải giao tiếp với nhau do vậy vốn từ của trẻ được phát triển ngày một phong phú. Ví dụ :Trò chơi bế em, cô nhập vai làm mẹ cho búp bê bú, cho búp bê ăn, búp bê ngủ trẻ sẽ bắt chước những lời cô nói như : ” Con của mẹ ngoan quá!” Biết hát ru “à ơi ” cho em bé ngủ Ngoài trò chơi, phản ánh sinh hoạt, trong giờ chơi, cô tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi học tập nhằm phát triển vốn từ cho trẻ. Ví dụ :Trò chơi với động từ, danh từ. Cô nói động từ, trẻ ghép các danh từ chỉ người, con vật, sự vật thích hợp với động từ đó hoặc ngược lại. - Tạo môi trường cho trẻ hoạt động: Sáng tạo một số hình thức phục vụ tiết học -Thay đổi hình thức giới thiệu bài . Tùy thuộc nội dung bài dạy mà tôi lựa chọn cách gây hứng thú cho trẻ một cách linh hoạt nhẹ nhàng. Vì vậy tôi phải xác định được mục đích, yêu cầu của bài dạy, tôi luôn nghiên cứu kĩ giáo án thì mới vận dụng các phương pháp, biện pháp giảng dạy tạo cho trẻ cảm giác gần gũi, vui vẻ, kích thích trẻ thích tham gia vào hoạt động của cô. Ngoài việc tôi phải chuẩn bị giáo án kĩ càng ra tôi còn cần phải chuẩn bị đồ dùng, tranh ảnh vật thật, mô hình sinh động, hấp dẫn, mới lạ. + Sử dụng hình ảnh + Sử dụng vật thật -Ngoài sự chuẩn bị đồ dùng đầy đủ, đẹp trong tiết dạy cô cần áp dụng linh hoạt, sáng tạo thay đổi hình thức dạy, lồng ghép các hoạt động để thu hút trẻ tập trung sự chú ý của trẻ. +Sử dụng các câu đố + Sử dụng các trò chơi, trải nghiệm: Thay đổi hình thức giới thiệu bài . Tùy thuộc nội dung bài dạy mà tôi lựa chọn cách gây hứng thú cho trẻ một cách linh hoạt nhẹ nhàng. Vì vậy tôi phải xác định được mục đích, yêu cầu của bài dạy, tôi luôn nghiên cứu kĩ giáo án thì mới vận dụng các phương pháp, biện pháp giảng dạy tạo cho trẻ cảm giác gần gũi, vui vẻ, kích thích trẻ thích tham gia vào hoạt động của cô. Ngoài việc tôi phải chuẩn bị giáo án kĩ càng ra tôi còn cần phải chuẩn bị đồ dùng, tranh ảnh vật thật, mô hình sinh động, hấp dẫn, mới lạ. * Sử dụng mô hình: Ví dụ: trong tiết Nhận biết tập nói: Đề Tài : củ cà rốt giáo viên tận dụng nhạc bài hát: “Củ cà rốt” mô hình vườn rau với một số loại rau củ cô và trẻ cùng quan sát vườn rau về loại rau củ sẽ định học để trẻ củng cố lại kiến thức về các
- loại rau củ dẫn dắt vào chủ đề “ thực vật ” cũng như vào nội dung bài dạy chính chuẩn bị mô hình cho trẻ quan sát. Trong khi quan sát, cô chỉ vào từng bộ phận của củ cà rốt, và cho trẻ nhắc lại. Ví dụ: cô chỉ vào cuống, và hỏi trẻ đây là gì? ( để cho trẻ nói) sau đó cô đính chính lại đây là cuống cà rốt, bây giờ các con hãy nói lại cùng cô nào! “Cuống cà rốt” cho trẻ nói đi nói lại 2 – 3 lần, tương tự như vậy cô cho trẻ quan sát và gọi tên một sô đặc điểm cơ bản của củ cà rốt. * Sử dụng hình ảnh: Giúp trẻ cảm nhận và nắm được nội dung thông qua câu đố, hình ảnh bằng các hình thức: Ví dụ: Với củ cà rốt: Các con vừa được nghe bài hát gì? Bài hát nói về củ gì! Tôi có thể sử dụng hình ảnh củ cà rốt thật trong mô hình vườn rau tại lớp tạo sự hấp dẫn cho trẻ hoặc cho trẻ xem hình ảnh củ cà rốt thật. Khi quan sát trẻ được sờ vào củ cà rốt trẻ được tự tay nhổ cà rốt Ví dụ: Với củ cà rốt: tôi cho trẻ xem hình ảnh vườn rau có trồng cà rốt thật hoặc dùng câu đố, trò chơi tạo sự hứng thú đối với trẻ. Ảnh 6: Trẻ quan sát củ cà rốt Ví dụ: Với con chim : Cho trẻ nghe tiếng hót của con chim để trẻ đoán xem đó là con gì ? Sau đó cho trẻ xem hình ảnh. Qua hoạt động ngoài trời tôi cho trẻ quan sát con chim đang bay. Chơi trò chơi chim bay, cò bay. Thông qua mỗi hình thức làm quen với một số con vật gần gũi trẻ thì trẻ được củng cố, nói nhiều lần sao cho chính xác từ và tên các con vật cần làm quen và tìm hiểu thêm về một số bộ phận đơn giản của con vật đang tìm hiểu (mỏ , chân , cánh món ăn yêu thích ) tôi cho trẻ chơi trò chơi lấy thức ăn cho gà vịt. Lúc đầu trẻ nói tên con vật to, rõ ràng cùng cả lớp 2- 3 lần . Sau đó cô mời cá nhân, nhóm, cả lớp nói thật to rỏ ràng, mạch lạc: 5-6 trẻ . Ví dụ : Dạy trẻ nhận biết “ Quả cam , quả xoài ”. * Sử dụng vật thật: Cho trẻ xem hình ảnh quả xoài. (Hình ảnh: xoài cắt miếng nhỏ) (Hình ảnh: Trẻ ăn xoài) ( Hình ảnh: Tìm hiểu quả xoài) Tôi chuẩn bị quả thật quả chín và quả xanh, quả có màu sắc rõ ràng, quả xoài cắt miếng nhỏ, bỏ trong đĩa. Tôi cho trẻ sờ, ngửi, nếm để trẻ có thể cảm nhận được màu sắc mùi vị thông qua hoạt động này trẻ sẽ nhớ lâu hơn và có thể nhận biết được màu sắc, mùi vị của từng loại quả một cách nhanh chóng, chính xác. 9 Ngoài sự chuẩn bị đồ dùng đầy đủ, đẹp trong tiết dạy cô cần áp dụng linh hoạt, sáng tạo thay đổi hình thức dạy, lồng ghép các hoạt động để thu hút trẻ tập trung sự chú ý của trẻ. * Sử dụng các câu đố: Ví dụ: Con gì ăn no Bụng to mắt híp Mồm kêu ụt ịt Nằm thở phì phò? * Sử dụng các trò chơi, trải nghiệm. Tôi cho trẻ quan sát bông hoa thật bằng những bông hoa tôi đã chuẩn bị Tôi hỏi trẻ : Các con thấy trong vườn hoa có những loài hoa gì ? Trẻ kể tên các loại hoa hoặc cô sẽ nói để trẻ biết và nói theo đó là hoa gì? (Khi cô nói đến hoa nào cô sẽ chỉ vào bông hoa đó) Các con thấy hoa hồng như thế

