Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng tuổi yêu thích đến lớp, trường Mầm Non
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng tuổi yêu thích đến lớp, trường Mầm Non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_tre_24_36_thang.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp trẻ 24-36 tháng tuổi yêu thích đến lớp, trường Mầm Non
- mọi nơi. Giúp tôi hiểu hơn về tâm sinh lý của trẻ, bản thân tôi còn có được lòng tin yêu của phụ huynh. Chính vì vậy, việc giúp trẻ 24-36 tháng tuổi ở trường chúng tôi yêu thích đến lớp, đến trường là một việc làm hết sức ý nghĩa góp phần quan trọng trong việc hoàn thành nhiệm vụ năm học của nhà trường nói chung và chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ 24-36 tháng tuổi nói riêng. II. Thực trạng vấn đề: 1. Số liệu điều tra - Bảng khảo sát đầu năm về trẻ yêu thích đến lớp, trường mầm non. Kết quả khảo sát đầu năm TT Nội dung Kết quả Số trẻ đạt Tỷ lệ % 1 Đánh giá trẻ chuyên 17/25 trẻ 68% cần 2 Trẻ còn quấy khóc 22/25 88% 3 Trẻ thích đến lớp 3/25 trẻ 12% Trong quá trình chăm sóc và dạy trẻ tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng của lớp mình tôi nhận thấy có những thuận lợi và khó khăn sau: 1. Thuận lợi - Phòng GD - ĐT thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, mở các lớp tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên được đi tham quan học tập các trường trọng điểm trong huyện. - Trường lớp có đầy đủ phòng học, khuôn viên trường rộng rãi, khang trang, sạch sẽ để trẻ hoạt động - Bản thân là một giáo luôn nêu cao tinh thần học hỏi từ bạn bè đồng nghiệp, luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, yêu thương trẻ, có kỹ năng, phương pháp chăm sóc và giáo dục trẻ. - Trẻ trong lớp khỏe mạnh, ngoan ngoãn, đi học đúng độ tuổi, 100% trẻ ăn bán trú tại trường nên thuận lợi trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. - Đa số phụ huynh có kiến thức dạy con, có điều kiện vật chất và thời gian để chăm sóc con, quan tâm đến việc học của các con. 2 Khó khăn: 3
- - Giáo viên vì mới năm đầu tiên đứng lớp nhà trẻ nên một số tình huống xử lý chưa linh hoạt, chưa có kinh nghiệm rèn nề nếp hoạt động trong lớp. - Hầu hết trẻ mới đi học còn khóc nhè, không chịu vào lớp, cô bế không chịu, thậm chí còn nôn trớ lên người cô... Nhận thức của trẻ trong lớp không đồng đều: Cháu thì hiếu động quá, hay nói, hay trêu chọc bạn, cháu thì nhút nhát, hay khóc, ăn ít, nói ít ...Mặt khác ở độ tuổi nhà trẻ, sức đề kháng còn kém, vẫn thường xuyên đau ốm nên đi học không chuyên cần nên việc thích nghi cũng hạn chế - Một số ít phụ huynh còn nhận thức sai lệch cho rằng trẻ đến lớp chỉ để chơi, giữ trẻ nên sự quan tâm, chia sẻ, hợp tác còn hạn chế, chưa có sự phối hợp với cô để rèn các nề nếp thói quen học tập, thói quen vệ sinh cho trẻ. Bên cạnh đó còn thương con không kiên trì trong việc đưa con đến lớp nên việc thích nghi của trẻ còn hạn chế Với kết quả trên tôi cảm thấy rất băn khoăn, lo lắng, tôi luôn trăn trở làm sao để có được kết quả tốt hơn tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp như sau: III. Các giải pháp thực hiện giải quyết vấn đề: 1. Biên pháp 1: Tự học, bồi dưỡng, nâng cao năng lực trình độ hiểu biết sư phạm và rèn luyện đạo đức Việc bồi dưỡng về nhận thức và chuyên môn của bản thân tôi và mỗi giáo viên là một việc làm vô cùng cần thiết giúp cho tôi có nhận thức đúng đắn trang bị cho tôi những hiểu biết, các kiến thức về chuyên môn giúp tôi chủ động, tự tin trong quá trình tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ. Luôn tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm qua sách, phương tiện truyền thông, qua đồng nghiệp, qua các họat động dự giờ, các buổi tập huấn chuyên đề của Phòng, cụm, trường nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sư phạm, cách quản lý trẻ. Tìm hiểu sâu thêm về đặc điểm của lứa tuổi trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng tuổi để nắm bắt tâm lý, Kỹ năng tiếp nhận của trẻ để có kế hoạch phù hợp, đạt hiệu quả cao trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ ở độ tuổi 24 – 36 tháng tuổi. Lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp với đặc điểm tình hình của trẻ lớp mình. Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện cho tôi được tham gia dự giờ các tiết dạy thể nghiệm, dạy mốc, dạy chuyên đề ở các lĩnh vực, các hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Trường mầm non Hoa Mai, Trường mầm non Quỳnh Thạch. Ngoài ra, tôi còn học các kỹ năng giao tiếp với trẻ và phụ huynh. Hàng tháng tôi được dự giờ đồng nghiệp để nâng cao trình độ chuyên môn. Qua dự giờ của đồng nghiệp tôi rút ra những kinh nghiệm, những điểm mới, cái hay, cái sáng tạo để áp dụng vào phương pháp giảng dạy của mình. Tham khảo trên mạng 4
- về chương trình bồi dưỡng kiến thức cho giáo viên mầm non để học những tiết dạy tốt. Với tôi, là giáo viên mầm non tôi hiểu rằng làm việc phải xuất phát từ chính cái tâm của mình đó chính là đạo đức nghề nghiệp. Cô phải yêu thương trẻ như chính những đứa con của mình, cô giáo phải có kiến thức, nắm bắt được tâm lí lứa tuổi. Điều này không phải bỗng nhiên mà có, nó phải đòi hỏi bản thân tôi học hỏi, tìm tòi trên các sách báo và bạn bè đồng nghiệp, nên muốn chăm sóc trẻ độ tuổi này tốt nhất thì bản thân tôi luôn phải cố gắng học hỏi kiến thức, tự bổi dưỡng nâng cao năng lực và rèn luyện đạo đức song song với nhau. Đặc biệt là một giáo viên tôi luôn là một tấm gương mẫu mực trong lời ăn tiếng nói, cử chỉ cho trẻ, tâm huyết với nghề. 2. Biên pháp 2: Yêu thương, gần gũi trẻ, tạo niềm tin với trẻ và phụ huynh. Trẻ 24-36 tháng tuổi là lớp đầu tiên của trẻ đến trường, ngày đầu tiên đến trường trẻ phải xa bố mẹ, xa người thân của mình trẻ rất hay khóc và còn khóc rất nhiều, có những cháu không chịu cô, vậy làm thế nào để gần gũi với cháu, đó chính là khó khăn lớn nhất đối với tôi khi bắt đầu dạy, nhưng dần dần nhận được sự giúp đỡ của nhà trường, sự chỉ bảo của chị em đồng nghiệp tôi đã quen dần và nhận thấy rằng muốn chăm sóc các cháu lớp 24-36 tháng tuổi được tốt, trước hết cô giáo phải thật sự là người mẹ thứ hai của trẻ, phải luôn gần gũi, chăm sóc vỗ về trẻ tạo tâm thế an toàn cho trẻ. Ví dụ: Ở lớp tôi trong thời gian đầu năm có bạn Linh Đan, cứ vào đầu buổi đón trẻ, khi được bố mẹ ( ông bà) đưa đến cháu luôn khóc, không muốn cô bế, đòi về nhà... Với những trẻ như vậy thì tôi luôn ân cần, vui vẻ, vỗ về trẻ, quan tâm, trò chuyện để nắm bắt tâm lí trẻ, động viên, gợi ý cho trẻ chơi một số đồ chơi trong lớp, cho trẻ xem các bức tranh về các bạn đang ngồi ăn cơm, ngồi xếp hình, các bạn đang múa, hát....tạo cảm giác gần gũi, an toàn để trẻ quên đi nỗi nhớ nhà. Sau khi trẻ có biểu hiện chú ý cô tiếp tục cho trẻ làm quen với đồ chơi trong lớp, cô gợi ý chơi chung cùng cô, bạn, giúp trẻ dần dần thích nghi với cô và bạn, môi trường trong lớp học. Hình ảnh cô bế trẻ, trò chuyện với trẻ 5
- Việc yêu thương, gần gũi trẻ giúp bản thân tôi nhìn nhận chính xác được tâm lý của các cháu lớp mình, từ đó đưa ra các hoạt động điều chỉnh đến từng cá nhân trẻ, bởi vì mỗi trẻ có một tính cách khác nhau. Còn đối với phụ huynh thì khi đón trẻ tôi thường an ủi với phụ huynh trước tiên, vì họ rất thương con, lo lắng cho con, sợ con đi học khóc nhiều sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe. Những lời động viên của tôi sẽ giúp họ an tâm hơn. Mặt khác vấn đề an toàn tôi luôn đặt hàng đầu, chính vì thế mà việc đảm bảo an toàn cho trẻ trong giờ học, giờ chơi, giờ ăn, giờ ngủ tôi luôn luôn phải coi trọng nhất. Tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về tình hình tiến bộ của trẻ, chụp ảnh, quay vi deo các hoạt động của trẻ gửi lên nhóm lớp để phụ huynh thấy được ở lớp trẻ được học những gì, phụ huynh thấy được sự quan tâm của cô, con có sự tiến bộ, phụ huynh sẽ phấn khởi, yên tâm từ đó phụ huynh đưa trẻ đi học thường xuyên, yên tâm giao con cho cô giáo, trẻ sẽ ngoan hơn có như vậy thì việc thích nghi với môi trường lớp học, đồ dùng đồ chơi trong lớp .. Tôi vẫn tiếp tục cùng phụ huynh trò chuyện về thói quen, tập quán của trẻ để dễ dàng thích nghi với trẻ, cho đến khi trẻ cảm thấy sự gần gũi giữa mẹ và cô, từ đó trẻ sẽ chơi với cô và các bạn trong lớp. Khi trẻ có cảm tình, có hứng thú tôi có thể sử dụng nghệ thuật của mình để thu hút, lôi cuốn trẻ vào các hoạt động một cách dễ dàng. Với lòng yêu nghề mến trẻ tôi luôn đặt mình như là một người mẹ chăm sóc trẻ, yêu thương trẻ, thể hiện những cử chỉ, chăm sóc, hiểu được những đặc điểm tâm sinh lý mỗi trẻ trong lớp. Mỗi trẻ thì có những xử lý tình huống khác nhau, nắm bắt được tâm sinh lý của mỗi trẻ từ đó đưa ra được các biện pháp, cách ứng xử phù hợp với với mỗi trẻ từ đó đưa ra được các biện pháp, cách ứng xử phù hợp với mỗi trẻ, giúp trẻ thích nghi, hòa đồng với bạn, nhóm chơi, môi trường trong và ngoài lớp học để trẻ thích đi học và ngày càng ngoan hơn. Qua quá trình tôi giúp trẻ, đến nay trẻ thực sự yêu mến tôi yêu các bạn và yêu mến lớp, tình cảm thân mật giữa tôi và các bạn ngày càng gắn bó và gần gũi hơn. Để tạo được sự tin tưởng của phụ huynh đối với cô và nhà trường, thấy được sự cần thiết cho trẻ với môi trường mới thì chúng ta phải tuyên truyền cho phụ huynh thấy được tầm quan trọng của việc đưa con đến trường đúng độ tuổi thông qua chúng ta đưa hình ảnh, các hoạt động của trẻ hàng ngày vào nhóm lớp để thấy được sự tiến bộ của trẻ, trẻ được học những gì ở lớp. * Biện pháp 3: Tạo mối quan hệ gần gũi giữa cô và trẻ, tạo tâm thế an toàn "Cô giáo như mẹ hiền"cho trẻ . Trẻ em có bản năng tự nhiên, chúng sẽ nhút nhát và không thể ngay lập tức thân thiết với người xa lạ, chưa từng gắn bó. Để vượt qua trở ngại này, một lời giới thiệu ấm áp về cô giáo với bé vầ về bé với cô giáo sẽ kích thích mối quan hệ mới này phát triển và tạo sự gần gũi giữa cô và trẻ. 6
- Mối quan hệ giữa cô và trẻ mang lại nhiều lợi ích trong quá trình nuôi dưỡng - chăm sóc và giáo dục trẻ. Đối với bậc học mầm non nói chung và trẻ 24- 36 tháng tuổi nói riêng, mối quan hệ giữa cô giáo và trẻ là mối quan hệ “Mẹ - con”. Điều đó nó phản ánh được mối quan hệ như gia đình, các con sẽ yên tâm đến lớp hơn khi được “mẹ” yêu thương chăm sóc. Ngay ngày đầu tiên khi trẻ mới đến lớp, hầu hết các bé đều khóc và sợ phải xa mẹ. Tôi rất quan tâm đến việc tạo cảm xúc ban đầu tốt đẹp của trẻ đối với giáo viên. Tôi nghĩ trẻ sẽ cảm thấy an toàn khi bên cạnh trẻ là một người mẹ thứ hai biết yêu thương, sự yêu thương ở đây không chỉ được thể hiện bằng lời nói mà được thể hiện và bộc lộc qua cử chỉ, hành động trong công tác chăm sóc, thái độ trò chuyện cởi mở, ở trẻ nhà trẻ thì việc ôm ấp, vỗ về, nựng nịu là không thể thiếu. Và quan trọng nhất là nụ cười luôn túc trực trên môi khi trò chuyện với trẻ. Để tạo mối quan hệ giữa cô và trẻ bản thân tôi luôn cố gắng trở thành người bạn tin cậy của trẻ, dành thời gian quan tâm, gần gữi với trẻ thông qua sinh hoạt hằng ngày như: Ru trẻ ngủ, chăm cho trẻ ăn hay dỗ dành khi trẻ khóc... hoặc tạo sự gần gũi trẻ thông qua các hoạt động hàng ngày. Khi thấy được sự tiến bộ dù là nhỏ nhặt tôi động viên, khuyến khích kịp thời, tuyên dương trẻ trước lớp vì mọi đứa trẻ đều thích được khen. VD: Khi đón trẻ, nếu trẻ khóc thì tôi sẽ luôn cố gắng vỗ về, bồng bé và động viên trẻ để trẻ bớt sợ hãi, lo âu, đồng thời trò chuyện để giúp phụ huynh an tâm hơn khi gửi con tại lớp (Hình ảnh cô vỗ về và trò chuyện với trẻ) VD: Trong giờ ngủ khi có trẻ quấy khóc, khó ngủ, tôi ôm ấp, vỗ về, bế trẻ trên tay và hát ru nhẹ nhàng cho trẻ đi vào giấc ngủ, qua hành động đó trẻ cảm 7
- nhận được sự gần gũi, yêu thương và tình cảm mà cô giáo dành cho mình. Từ đó tạo cho trẻ cảm giác an tâm khi tới lớp, trẻ không còn hoảng sợ và lo lắng nữa. (Hình ảnh ôm ấp, vỗ về để trẻ đi vào giấc ngủ) * Biện pháp 4: Xây dựng môi trường học tập và vui chơi gần gũi và thân thiện, Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh. Hầu hết các bé yêu trong những ngày đầu đi học thường sợ sệt, lo lắng, không muốn đến lớp, hay quấy khóc, không hòa nhập với các bạn và chỉ muốn ở nhà khiến bố mẹ rất lo lắng. Nhất là k hi bố mẹ tự nhiên thả rơi con vào một môi trường hoàn toàn lạ lẫm. Chính điều đó biến việc đưa trẻ đến lớp mỗi ngày trở thành vấn đề hết sức khó khăn. Vậy làm thế nào để trẻ hứng thú và yêu thích việc đi học như một niềm vui mỗi ngày? Làm thế nào để có thể giải tỏa nỗi lo lắng này cho bé ? Để tạo cho trẻ sự hứng thú, tích cực khi đến lớp thì môi trường lớp học là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng. Khi trẻ được hoạt động trong môi trường giáo dục gần gũi, thoải mái sẻ hình thành và phát triển ở trẻ tâm lý tích cực, hứng thú mỗi khi đến lớp, góp phần hình thành và nâng cao mối quan hệ thân thiện, gần gũi giữa giáo viên với trẻ. Môi trường giáo dục hấp dẫn, lôi cuốn sẽ thu hút được tính tích cực của trẻ khi đến lớp. Ở lớp tôi luôn tạo một không gian mới mẻ, sinh động, thu hút trẻ. Luôn tạo không khí vui tươi nhằm tạo niềm vui thích cho trẻ khi đến lớp. Tranh ảnh trang trí ở các góc trong lớp tôi luôn thay đổi thường xuyên, sử dụng những 8
- hình ảnh sinh động, hấp dẫn lôi cuốn trẻ. Tôi thường xuyên lồng âm nhạc vui nhộn vào các hoạt động để tạo một môi trường vui vẻ, thoải mái cho trẻ khi đến lớp. VD: Ở các góc, tôi luôn trang trí những tranh ảnh động vật ngộ nghĩnh và thay đổi tranh thường xuyên nhằm không gây sự nhàm chán cho trẻ. Vào các giờ đón và trả trẻ tôi luôn mở những bài nhạc vui vẻ, sôi động tạo sự tích cực hứng thú cho trẻ mỗi khi trẻ đến lớp: Chú ếch con, Chú voi con...Các bài hát được thay đổi theo từng chủ đề và mang âm hưởng vui tươi, sôi động (Hình ảnh trang trí góc nghệ thuật) Môi trường giáo dục gần gũi còn được thể hiện qua việc sử dụng đồ dùng đồ chơi tự tạo hấp dẫn, bắt mắt thu hút sự chú ý, hứng thú của trẻ đến lớp. Những đồ dùng, đồ chơi tự tạo ngộ nghĩnh, đáng yêu, màu sắc đẹp đó đã làm cho trẻ thích thú muốn được chơi, hoạt động với chúng, kích thích được tính tò mò, tham gia tích cực các hoạt động và ham thích đến lớp để chơi với những đồ chơi đó. VD: Giờ hoạt động âm nhạc tôi tạo sân khấu trong lớp để kích thích trẻ hoạt động. (Hình ảnh giờ hoạt động âm nhạc của lớp) 9
- (Hình ảnh tạo môi trường cho trẻ hoạt động) Việc cô cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh để trẻ cảm thấy nơi đây trở nên thân thuộc là một điều vô cùng cần thiết. Một khi đã quen với việc tiếp xúc môi trường công cộng, đông người, có nhiều người lạ bé yêu sẽ ít sợ hãi, lạ lẫm hơn trong những ngày đầu tiên đi học mẫu giáo đấy. Chính vì vậy, những ngày đầu tiên trẻ đến lớp, sau khi xây dựng môi trường đẹp mắt, gần gũi, thân thiện thì tôi đã thường xuyên đưa các con đi chơi xung quanh lớp, dẫn trẻ đến từng góc chơi và các khu vực trong lớp, trong trường. Từ đó giới thiệu cho bé làm quen với các đồ dùng đồ chơi ở các góc, làm quen với bạn mới, môi trường mới, giới thiệu cho bé những điều thú vị nơi đây để trẻ yên tâm hơn, cảm thấy an toàn, gần gũi , hứng thú hơn, thích đi học hơn. VD: Tôi thường xuyên tổ chức cho trẻ chơi một số trò chơi tập thể như: Trò chơi Kéo co, nu na nu nống... những trò chơi này yêu cầu trẻ phải chơi chung cùng nhau, phải đọc thơ, đồng dao, hòa mình vào tập thể. Qua đó giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và hòa đồng hơn khi tới lớp. (Hình ảnh trẻ chơi trò chơi trò chơi cùng cô) 10
- Môi trường sinh hoạt tập thể cũng rất cần cho sự phát triển của trẻ. Vì vậy, tôi đã tổ chức các hoạt động ngoài trời, tổ chức cho trẻ chơi các trò chơi tập thể để trẻ chơi chung với nhau, trẻ hòa đồng và tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp với cô giáo và bạn bè. Điều đó tạo nên sự thích thú cho trẻ, tạo cho trẻ tâm lý thoải mái, muốn và thích thú đến lớp. * Biện pháp 5: Đổi mới hình thức giáo dục nhằm kích thích sự hứng thú cho trẻ khi đến lớp, đến trường. Nếu như việc xây dựng môi trường giáo dục là để kích thích sự hứng thú bằng trực quan thì việc đổi mới hình thức giáo dục sẽ kích thích trực tiếp sự hứng thú của trẻ bằng các hình thức dạy học tích cực, mới mẻ, ở đó người giáo viên để trẻ được tương tác tích cực với những gì diễn ra xung quanh chúng. Bản chất việc học ở trẻ em là thông qua sự bắt chước, khám phá, trải nghiệm, thực hành để hiểu về những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ, đồng thời trẻ học cách biểu đạt những hiểu biết đó thông qua sự chia sẻ, trao đổi với bạn bè. Vì vậy, tôi đã khai thác các tình huống cũng như các vật liệu khác nhau để khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau, để lôi cuốn sự thích thú của trẻ. Ở hoạt động chơi tập có chủ đích tôi tìm chọn những đề tài mới mẻ, hấp dẫn cho trẻ hoạt động. Hướng trẻ phát triển các kỹ năng của bản thân bằng cách tạo ra được những sự tò mò cho trẻ để trẻ hứng thú tham gia vào hoạt động. Ví dụ: Khi dạy chuyện “Thỏ con không vâng lời” thay vì trình chiếu hoặc sử dụng tranh ảnh thì tôi đóng giả chú thỏ để giao lưu cùng trẻ, tạo hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động. Hay khi dạy hoạt động âm nhạc thay vì cũng mời trẻ đứng dậy hát, thì tôi thiết kế sân khấu và cho trẻ lên sân khấu để biểu diễn. (Hình ảnh thiết kế sân khấu trong lớp học phục vụ hoạt động âm nhạc) 11
- Nhằm phát huy triệt để khả năng, thế mạnh riêng của từng trẻ, tôi tổ chức các hoạt động của trẻ theo từng nhóm nhỏ để có thể dễ dàng bao quát trẻ, quan tâm và giúp trẻ phát huy thế mạnh của bản thân. Thông qua những lần như vậy tôi nắm được sở thích và cá tính riêng của từng trẻ để từ đó tôi tạo điều kiện cho trẻ thể hiện bản thân một cách tối đa. Ở hoạt động chơi ở các góc, tôi lựa chọn hình thức chơi theo nhóm nhỏ (từ 2-3 trẻ) để trẻ có cơ hội được bộc lộ khả năng của bản thân hơn. Tránh việc tập trung quá đông trẻ vào một góc chơi sẽ gây lộn xộn, trẻ hoạt động không hiệu quả và cô cũng khó bao quát, trao đổi với trẻ trong quá trình chơi (Hình ảnh trẻ chơi theo nhóm nhỏ) (Hình ảnh trẻ chơi ở góc thao tác vai) 12
- Tích cực phát triển hình thức học bằng chơi, chơi bằng học để tránh gây nhàm chán cho trẻ bằng cách thông qua các hoạt động chơi để cung cấp kiến thức cho trẻ dưới hình thức chơi theo nhóm nhỏ. Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen, nhận biết các con vật tôi tổ chức cho trẻ chơi trò chơi tìm và ghép hình các con vật để kích thích trẻ hứng thứ tham gia hoạt động. Đồng thời cũng bằng hình thức này trẻ sẽ ghi nhớ tốt hơn ( Hình ảnh trẻ chơi ghép hình) Bên cạnh đó tôi cũng phối hợp tốt với nhà trường tổ chức cho trẻ các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm để tạo sân chơi bổ ích cho trẻ, và gây được hứng thú cho trẻ và sự quan tâm của phụ huynh. Ví dụ: Tôi tổ chức hoạt động đón tết và sinh nhật một cách ấm cúng. Để từ đó trẻ biết được ý nghĩa của ngày tết và cũng tạo không khí vui vẻ để trẻ thích đến trường hơn. (Hình ảnh trẻ sinh nhật và hoạt động đón tết) 13

