Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số Lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số

doc 22 trang Chăm Nguyễn 21/06/2026 200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số Lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_dan_toc.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số Lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số

  1. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. việc làm cấp bách, thiết thực, để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung, kĩ năng thực hiện các phép tính với phân số nói riêng. Đó là lí do tôi chọn đề tài Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ đề tài Giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số. Nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy và học. Đề tài nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, có liên quan đến vấn đề nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số lớp 5, đối với học sinh dân tộc trường Tiểu học Võ Thị Sáu. 3. Đối tượng nghiên cứu Môn Toán lớp 5 và những biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số. 4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu Học sinh lớp 5, trường Tiểu học Võ Thị Sáu từ năm học 2014 – 2015 đến hết học kì I năm học 2015 – 2016. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập thông tin. Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Phương pháp trải nghiệm thực tế. Phương pháp quan sát. Phương pháp học nhóm. Phương pháp trò chơi. Phương pháp làm mẫu, so sánh đối chiếu. II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận Theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Toán đối với từng lớp ở tiểu học, đã được quy định tại Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học (ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo). Chuẩn kiến thức, kĩ năng là yêu cầu cơ bản, tối thiểu mà tất cả học sinh cần phải đạt được sau từng giai đoạn học. Vậy mà, học sinh lớp 5 còn chưa nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số, còn nhầm lẫn, còn làm sai nhiều mặc dù kiến thức này các em đã được học ở lớp dưới. Bên cạnh đó, theo Công văn số 10141/GDTH ngày 12/9/2006 của bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn giảng dạy các môn học với học sinh lớp 5 cho các vùng miền đã nêu rõ đối với môn Toán là: Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 3
  2. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. - Phương pháp dạy học Toán tốt nhất là để học sinh tự khám phá kiến thức thông qua các hoạt động học, để học sinh vận dụng vốn sống, để tìm kiếm kiến thức mới. Tạo cơ hội để học sinh được thực hành ,vận dụng kiến thức vào thực tế, vừa học vừa ôn luyện để củng cố kiến thức cho học sinh. Quá trình giúp học sinh học toán phải đi từ dễ đến khó. Phải cung cấp cho học sinh những kiến thức và kĩ năng cơ bản cần thiết. Chương trình môn Toán cấp Tiểu học sắp xếp theo đường thẳng, kiến thức trước là phương tiện để tiếp thu kiến thức sau. Không thể bỏ qua những kiến thức kĩ năng cơ bản của môn Toán. Điều quan trọng là kết hợp ôn tập kiến thức cũ và hình thành kiến thức mới phù hợp với đối tượng học sinh dân tộc thiểu số. Để làm được điều đó khi dạy học môn Toán giáo viên cần thực hiện những yêu cầu sau: + Khai thác triệt để bộ đồ dùng thực hành toán, giúp học sinh thực hiện các thao tác bằng tay phát hiện ra kết quả, mô tả được cách làm phát hiện ra kiến thức toán học bằng chính hoạt động học tập của mình. Trong quá trình dạy học, giáo viên cố gắng lấy các ví dụ thực tế gần với vốn sống học sinh để giúp các em nắm bài một cách nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả. + Khi hình thành kiến thức, giáo viên không giảng giải, giải thích nhiều vì chính các em còn hạn chế về ngôn ngữ tiếng Việt. + Tổ chức cho học sinh hoạt động thông qua các việc làm cụ thể, từ các việc làm cụ thể làm ra sản phẩm. Giáo viên hướng dẫn học sinh gọi đúng tên việc làm sản phẩm. Với cách làm này học sinh được học ngôn ngữ, kí hiệu toán học một cách tự nhiên. Ngôn ngữ để hướng dẫn học sinh làm, giáo viên cần chọn lọc, ngắn gọn, gần gũi với địa phương, nhắc lại lần 2; 3 .. không sai khác lần 1. Đây chính là những cơ sở lí luận thúc đẩy tôi nghiên cứu và áp dụng đề tài Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số. 2. Thực trạng 2.1. Thuận lợi, khó khăn * Thuận lợi Được sự quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường. Có đầy đủ các tài liệu, công văn hướng dẫn và sự góp ý của đồng nghiệp trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài. Bản thân luôn học hỏi, tìm tòi và tận tâm, kiên trì áp dụng các biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số. Có nhiều học sinh chăm ngoan, đi học chuyên cần, hưởng ứng và tham gia tích cực trong quá trình nghiên cứu. Đồng thời nhiều cha mẹ học sinh quan tâm đến việc học của con mình. * Khó khăn Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 4
  3. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. Vì các em chậm hiểu, một số em chưa thuộc hết bảng nhân, bảng chia và chưa chăm chỉ luyện tập nên sự tiến bộ rất chậm. Năm học 2014 – 2015 và năm học 2015 - 2016, tôi được giao chủ nhiệm lớp 5A và 5D ở phân hiệu 1 và 3, có100% học sinh là người dân tộc thiểu số(Ê-đê). Các em đều ở trong buôn làng ít có điều kiện giao tiếp với bên ngoài nên các em còn thiếu mạnh dạn, tự tin trong quá trình học. Và một số em cộng, trừ trong phạm vi 20 còn khó khăn, chưa thuộc bảng nhân, bảng chia, trí nhớ không bền, lâu nhớ mau quên. Nhiều học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ ít quan tâm. Điều kiện kinh tế xã Ea Bông còn nhiều khó khăn (9 buôn có 5 buôn khó khăn) các phân hiệu của trường đều đóng ở buôn khó khăn, đã ảnh hưởng đến khả năng học tập của các em nói chung và môn Toán nói riêng. Cơ sở vật chất nhà trường chưa thật sự đáp ứng cho quá trình dạy và học hiện nay. 2.2. Thành công, hạn chế * Thành công Đề tài giúp học sinh nhận ra những sai sót của mình trong tính toán và sửa sai. Từ đó các em nắm chắc kiến thức, mạnh dạn, tự tin làm đúng các phép tính với phân số và học môn Toán ngày một tốt hơn. * Hạn chế Bản thân đôi lúc còn nôn nóng muốn được ngay kết quả khi áp dụng đề tài. Học sinh quen dùng tiếng mẹ đẻ(Ê-đê) việc hiểu nghĩa tiếng Phổ thông còn chậm mà tôi lại không biết tiếng của các em nên khi hướng dẫn học sinh chưa phát huy hết tác dụng của đề tài. 2.3. Mặt mạnh, mặt yếu * Mặt mạnh Đề tài giúp giáo viên điều chỉnh được những thiếu sót trong quá trình giảng dạy các phép tính với phân số. Đồng thời giúp học sinh hiểu sâu hơn, nắm vững kiến thức hay kiến thức tối thiểu cần đạt về thực hiện các phép tính với phân số. * Mặt yếu Một số học sinh có trí nhớ không lâu, sau vài ngày lại quên mất kiến thức đã học. 2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động * Các nguyên nhân Phần lớn học sinh là học sinh có học lực đạt chuẩn nên góp phần không nhỏ đến sự thành công của biện pháp. Vì 100% học sinh là người Ê-đê, lại sống trong buôn làng quen dùng tiếng mẹ đẻ, việc hiểu nghĩa ngôn ngữ thứ hai (tiếng Phổ thông) là rất khó khăn và một Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 5
  4. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. số em chưa chăm học nên ảnh hưởng đến quá trình lĩnh hội kiến thức toán học, việc thực hiện các biện pháp. * Các yếu tố tác động đến việc giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số Nhiều gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, coi nhẹ việc học tập. Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu thốn. Mặt bằng kinh tế của xã Ea Bông còn nghèo nàn, trình độ dân trí thấp. 2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng đã đề ra Việc quan tâm đến giáo dục thế hệ trẻ là một điều tất yếu. Mọi người, mọi nhà, mọi tổ chức và toàn xã hội nói chung và trường Tiểu học Võ Thị Sáu nói riêng, đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục, bồi dưỡng con người mới, con người xã hội chủ nghĩa, có đủ tài và đủ đức trong công cuộc “Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”. Ban lãnh đạo nhà trường chỉ đạo, quan tâm sát sao đến quá trình nghiên cứu đề tài của bản thân tôi. Đây chính là những thuận lợi giúp tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài. Cùng với điều đó, sự thành công của đề tài chính là nhờ đến sự tận tâm, tận tình, sự kiên trì nhẫn nại và lòng say mê học hỏi, tìm tòi của bản thân, sự giúp đỡ của đồng nghiệp và sự tích cực của học sinh trong quá trình nghiên cứu và thực hiện những biện pháp. Song, đơn vị tôi công tác có 3 phân hiệu, 98% học sinh dân tộc thiểu số, đặc biệt 2 lớp tôi chủ nhiệm có 100% học sinh dân tộc Ê-đê, các em chủ yếu sống trong buôn làng ít giao tiếp với bên ngoài nên thiếu mạnh dạn và tự tin trong quá trình học, việc chủ động lĩnh hội kiến thức của các em là rất vất vả. Trí nhớ của các em không bền, kiến thức học ở lớp dưới sau hơn hai tháng nghĩ hè hầu như các em quên hết, một số em ý thức học tập chưa cao còn hay nghĩ học ở nhà giúp cha mẹ. Một số cha mẹ học sinh còn chưa quan tâm đến việc học của con mình, còn phó mặc cho nhà trường. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn nhiều, các phòng học trong phân hiệu đều đã xuống cấp, trang thiết bị thiếu thốn, chưa thật sự đáp ứng được quá trình dạy học hiện nay. Trình độ và chất lượng chuyên môn của giáo viên trong trường chưa đồng đều, còn có giáo viên dạy học theo phương pháp cũ, đã ảnh hưởng không ít đến việc lĩnh hội kiến thức toán học của học sinh nói chung, quá trình thực hiện biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số nói riêng. Mặt khác, do điều kiện kinh tế của xã Ea Bông còn khó khăn(có 5 buôn thuộc diện vùng khó khăn của huyện), đời sống nhân dân còn nghèo, trình độ dân trí thấp, một số cha mẹ học sinh không đủ trình độ để kèm cặp con mình. Những thực trạng trên là những yếu tố tác động không nhỏ đến quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số. Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 6
  5. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. 3. Giải pháp, biện pháp 3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Mục tiêu của các biện pháp là: Giúp cho học sinh nắm chắc cấu tạo phân số và phát hiện ra những sai sót khi thực hiện bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số; rèn cho các em thói quen thử lại khi làm tính và khích lệ, rèn luyện cho học sinh lòng say mê học toán. Bên cạnh đó, phụ đạo cho học sinh còn khó khăn trong học tập. Từ đó, giúp các em nắm vững các phép tính với phân số và vận dụng một cách chính xác khi cộng, trừ, nhân, chia phân số. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán nói chung, kĩ năng tính toán với phân số nói riêng. 3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp Biện pháp 1: Công tác chủ nhiệm lớp a) Về tổ chức cơ cấu lớp Sau khi nhận lớp công việc đầu tiên là củng cố nề nếp học tập, bầu ban tự quản lớp học. Tôi tiến hành kiểm tra chất lượng để phân loại trình độ học tập của học sinh, phân chia lớp thành nhóm học tập, bầu ra nhóm trưởng có học lực tốt để kiểm tra việc thực hiện các bài tập thực hành. Các bài tập đưa ra theo quy luật từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Các em được giao nhiệm vụ vào cuối tiết học ngày hôm trước và được kiểm tra và sửa bài vào tiết học hôm sau, khi các em làm được bài tôi động viên khích lệ các em. Ví dụ như bài tập: 2 3 2 3 ? ? 7 7 5 4 5 3 3 3 ? : ? 6 4 10 4 Hay: Một người bán vải lần đầu bán được 1 tấm vải, lần sau bán được 2 3 5 tấm vải đó. Hỏi: a) Cả hai lần bán được mấy phần của tấm vải b) Còn lại mấy phần của tấm vải? b) Đối với cha, mẹ học sinh Tôi tổ chức và tham gia các cuộc họp cha mẹ học sinh để báo cáo kết quả học tập của các em và bàn bạc về cách phối hợp giáo dục học sinh. Ví dụ như: - Họp cha mẹ học sinh vào đầu năm học báo cáo kết khảo sát đầu năm và bàn về biện pháp giáo dục học sinh. - Họp cha mẹ học sinh vào cuối kì I, báo cáo kết quả học tập của các em và bàn về biện pháp giáo dục học sinh ở kì II. - Họp cha mẹ học sinh vào cuối năm, báo cáo kết quả học tập rèn luyện của các em. Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 7
  6. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. c) Phụ đạo học sinh khó khăn về cộng, trừ trong phạm vi 20, chưa thuộc bảng nhân, bảng chia và kĩ năng tính nhẩm * Với học sinh khó khăn về cộng, trừ trong phạm vi 20, tôi hướng dẫn các em làm thước cộng, trừ trong phạm vi 20. Khi dạy thấy học sinh khó khăn cộng nhẩm tôi đã làm như sau: 11 3 Ví dụ 1: Trong phép tính ; 11 + 3 học sinh nhẩm không ra kết quả, tôi 9 9 đã hướng dẫn dùng thước cộng như sau: Học sinh kéo thước trượt xuống phía dưới sao cho vị trí số 3 thẳng hàng với 11 + trên giá trượt. Nhìn dấu mũi tên chỉ số 14. Vậy 11 + 3 = 14 (hình 4). (Hình 4) 11 3 11 3 14 Vậy: 9 9 9 9 20 13 Ví dụ 2: Trong phép tính ; 20 - 13 học sinh nhẩm không ra kết quả, 19 19 hay trả lời sai, tôi đã hướng dẫn dùng thước trừ như sau: Học sinh kéo thước trượt lên phía trên sao cho vị trí số 20 thẳng hàng với - 13 trên giá trượt. Nhìn dấu mũi tên chỉ số 7. Vậy 20 - 13 = 7 (hình 5). (Hình 5) Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 8
  7. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. 20 13 20 13 7 Vậy: 19 19 19 19 (Khi các em đã cộng, trừ thành thạo tôi không yêu cầu các em dùng thước cộng, trừ nữa.) * Về bảng nhân và bảng chia có một số em chưa thuộc nên dẫn đến không biết nhân, biết chia hoặc là nhân, chia sai. Tôi đã hướng dẫn các em cách học thuộc bảng nhân, bảng chia như sau: - Với bảng nhân Tôi dạy cách sử dụng ngón tay để học thuộc bảng nhân, ví dụ như bảng nhân 4 cụ thể là: + Đếm thầm “Bốn” (bật một ngón tay) và nói to “Bốn nhân một bằng bốn”. + Đếm thầm “Tám” (bật hai ngón tay) và nói to “Bốn nhân hai bằng Tám”. Cứ như thế cho đến “4 x 10 = 40” Ở đây thừa số thứ nhất luôn là 4, còn thừa số thứ hai là ngón tay bật lên, tích là kết quả đếm thêm. - Với bảng chia Tôi dạy cách sử dụng ngón tay để học thuộc bảng chia, như bảng chia 4 cụ thể là: + Đếm thầm “Bốn” (bật một ngón tay) và nói to “Bốn chia bốn bằng một”. + Đếm thầm “Tám” (bật hai ngón tay) và nói to “Tám chia bốn bằng hai”. Cứ như thế cho đến “40 : 4 = 10”. Ở đây số bị chia là kết quả đếm thêm 4, số chia là 4, thương là ngón tay. (Khi các em đã thuộc bảng nhân, bảng chia tôi không yêu cầu các em dùng ngón tay nữa.) Để những cách dạy học trên đạt kết quả cao, tôi đã thường xuyên kiểm tra bảng nhân, bảng chia và khả năng vận dụng vào làm tính cộng, trừ, nhân , chia phân số của các em, tạo điều kiện để các em được thực hành nhiều. - Rèn luyện cho học sinh tính nhẩm. Trong khi dạy, tôi thấy một số em tính nhẩm rất yếu và tôi đã hướng dẫn học sinh kĩ năng tính nhẩm như sau : Ví dụ : 15 + 8 15 + 8 = 15 + 5 + 3 = 20 + 3 = 23 (Tách 8 = 5 + 3 lấy 15 + 5=20 rồi lấy 20 + 3 = 23). Vậy : 15 + 8 = 23 Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 9
  8. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. Ví dụ : 59 – 12 59 – 12 = 59 – 10 – 2 = 49 – 2 = 47 (Tách 12 thành 10 và 2, lấy 59 – 10 = 49, rồi lấy 49 – 2 =47) Vậy: 59 – 12 = 47 Việc làm này đã giúp học sinh khó khăn nắm được cách cộng, trừ nhẩm và vận dụng. d) Trang trí lớp học Tôi yêu cầu học sinh làm bảng cộng, trừ, nhân, chia và treo trang trí lớp học của mình, nơi các em dễ quan sát nhất. Như vậy hằng ngày các em đều quan sát và ghi nhớ. Hay học sinh khó khăn về học toán có thể vận dụng khi nhân, chia, cộng, trừ. Biện pháp 2: Giúp học sinh nắm chắc về cấu tạo phân số, quy đồng mẫu các phân số và bốn phép tính với phân số. a) Khái niệm phân số * Giúp học sinh nhớ khái niệm phân số tôi đã làm như sau : - Viết một phân số lên bảng, yêu cầu các em đọc và nêu cấu tạo. Ví dụ: Phân số: 3 4 Trong đó 4 gọi là mẫu số, được hiểu là số phần bằng nhau mà đơn vị chia ra, 3 là tử số được hiểu là phần bằng nhau của đơn vị đã lấy đi. Mặt khác, phân số 3 3 còn có thể hiểu là kết quả của phép chia: 3 : 4 4 4 Từ ví dụ trên, tôi yêu cầu học sinh rút ra khái niệm phân số và học thuộc. * Giúp học sinh nhớ kiến thức: số tự nhiên cũng có thể viết thành phân số. - Tôi viết số tự nhiên lên bảng, yêu cầu học sinh viết thành phân số. 2 5 13 Ví dụ: 2 ; 5 ; 13 1 1 1 Từ ví dụ tôi hướng dẫn học sinh rút ra kết luận: Mỗi số tự nhiên lớn hơn 0 có thể coi là một phân số có mẫu số bằng 1. b) Rút gọn phân số Về rút gọn phân số các em thường mắc lỗi rút gọn phân số chưa tối giản. 12 12 : 2 6 15 15 : 5 3 Ví dụ: (Chưa tối giản); (Chưa viết thành số tự 8 8 : 2 4 5 5 : 5 1 nhiên). Để khắc phục thiếu sót trên cho các em, tôi làm như sau: Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 10
  9. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. - Viết bài của các em lên bảng, yêu cầu các em suy nghĩ và rút gọn tiếp. 12 12 : 2 6 6 : 2 3 15 15 : 5 3 Ví dụ: ; 3 8 8 : 2 4 4 : 2 2 5 5 : 5 1 - Đối với học sinh năng khiếu, tôi yêu cầu các em tìm ra cách rút gọn nhanh nhất. 12 12 : 4 3 Ví dụ: (Vì 12 và 8 đều chia hết cho 4 lớn nhất) 8 8 : 4 2 c) Quy đồng mẫu số hai phân số Lỗi các em thường mắc phải là: Khi quy đồng mẫu số hai phân số có mẫu số của phân số này chia hết cho mẫu số của phân số kia các em vẫn quy đồng như cách thông thường. Ví dụ: Quy đồng mẫu số: 3 và 1 4 2 3 3 2 6 1 1 4 4 ; 4 4 2 8 2 2 4 8 Để khắc phục lỗi này, tôi làm như sau: - Chép bài làm của các em lên bảng, yêu cầu các em tìm ra cách quy đồng khác và so sánh cách nào gọn hơn. Ví dụ: Quy đồng mẫu số: 3 và 1 4 2 1 1 2 2 Vì 4 : 2 = 2 nên 2 2 2 4 - Từ ví dụ tôi yêu cầu học sinh nêu cách quy đồng mẫu số hai phân số có mẫu số của phân số này chia hết cho mẫu số của phân số kia: Tìm thương của hai mẫu số, lấy tử số và mẫu số của phân số có mẫu số bé hơn nhân với thương vừa tìm được, ta được phân số quy đồng. d) Một số lỗi sai khi thực hiện bốn phép tính về phân số * Phép cộng - Đối với phép cộng, các em thường làm sai là: Ví dụ: 1 2 1 2 3 a) 7 7 7 7 14 6 5 6 5 11 b) 7 8 7 8 15 3 4 3 4 3 7 c) 4 1 7 7 1 7 7 Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 11
  10. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. Để khắc phục các lỗi sai trên cho các em, tôi đã làm như sau: - Chép bài làm sai và làm đúng của học sinh lên bảng, yêu cầu các em nhận xét và tìm ra chỗ sai. Ví dụ: 1 2 1 2 3 a) (Sai, vì làm như phép nhân phân số, lấy tử số cộng tử 7 7 7 7 14 số, mẫu số cộng mẫu số). 1 2 1 2 3 (Đúng, vì làm theo quy tắc cộng hai phân số cùng mẫu số: 7 7 7 7 Lấy tử số cộng tử số, mẫu số giữ nguyên). 6 5 6 5 11 b) (Sai, vì không quy đồng mẫu số hai phân số mà lấy tử 7 8 7 8 15 số cộng tử số, mẫu số cộng mẫu số). 6 5 48 35 83 (Đúng, vì đã quy đồng mẫu số hai phân số, sau đó cộng 7 8 56 56 hai tử số của hai phân số đã quy đồng, giữ nguyên mẫu số). 3 4 3 4 3 7 c) 4 1 (Sai, vì không viết số tự nhiên thành phân số, 7 7 1 7 7 rồi vận dụng cách cộng hai phân số khác mẫu số, mà lấy số tự nhiên cộng với tử số). 3 4 3 28 3 28 3 31 4 (Đúng, vì viết số tự nhiên thành phân 7 1 7 7 7 7 7 số, rồi vận dụng cách cộng hai phân số khác mẫu số). 3 4 7 3 28 3 31 Hay: 4 (Đúng, vì lấy số tự nhiên nhân với 7 7 7 7 mẫu số rồi cộng với tử số được tử số và giữ nguyên mẫu số). Với cách làm trên tôi giúp học sinh nhận ra những sai sót và khắc phục, từ đó không làm sai và nắm chắc kiến thức kĩ năng cộng phân số. * Phép trừ Đối với phép trừ các em thường làm sai như phép cộng đã nêu trên, các trường hợp đó tôi đã hướng dẫn các em sữa sai tương tự như phép cộng. Ngoài ra các em còn có lỗi sai khi làm phép trừ là: Ví dụ: 4 1 4 1 3 a) 9 6 9 6 3 3 2 3 3 2 1 b) 2 1 2 1 2 2 1 1 Để khắc phục lỗi sai trên, tôi làm như sau: Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 12
  11. Một số biện pháp giúp học sinh dân tộc thiểu số lớp 5 nắm vững bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số. - Chép bài làm sai và làm đúng của học sinh lên bảng, yêu cầu các em nhận xét và tìm ra chỗ sai. Ví dụ: 4 1 4 1 3 a) (Sai, vì không làm theo quy tắc trừ hai phân số khác mẫu 9 6 9 6 3 số). 4 1 24 9 24 9 15 (Đúng, vì làm theo quy tắc trừ hai phân số 9 6 54 54 54 54 khác mẫu số: Quy đồng mẫu số hai phân số, sau đó trừ hai tử số của hai phân số đã quy đồng, giữ nguyên mẫu số). 3 2 3 3 2 1 b) 2 1 (Sai, vì quên cách trừ số tự nhiên cho phân số). 2 1 2 2 1 1 3 2 3 4 3 4 3 1 2 (Đúng, vì làm theo cách trừ số tự nhiên cho 2 1 2 2 2 2 2 phân số: Viết số tự nhiên thành phân số, rồi vận dụng cách trừ hai phân số khác 3 2 2 3 1 mẫu số). Hay: 2 (Đúng, vì lấy mẫu số nhân với số bị trừ rồi trừ 2 2 2 cho tử số và giữ nguyên mẫu số). * Phép nhân, các em thường làm sai là: Ví dụ: 7 4 7 4 21 a) 9 5 9 5 55 4 4 4 b) 3 7 7 3 21 Để sửa lỗi sai trên cho học sinh tôi làm như sau : - Viết bài làm sai và làm đúng của học sinh lên bảng, yêu cầu các em nhận xét và tìm ra chỗ sai. Ví dụ: 7 4 7 4 21 a) (Sai, vì chưa thuộc bảng nhân 7 và 9 ; 7 x 4=21 ; 9 5 9 5 55 9 x 5 =55 là sai). 7 4 7 4 28 (Đúng, vì bạn thuộc bảng nhân 7 và 9 ; 7 x 4 = 28 ; 9 5 9 5 45 9 x 5 = 45). 4 4 4 b) 3 (Sai, vì không nắm được cách nhân phân số với số tự 7 7 3 21 nhiên). Doãn Tiến Tám Trường Tiểu học Võ Thị Sáu 13