SKKN Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 học tốt dạng toán hình học liên quan đến hình tam giác

docx 35 trang Chăm Nguyễn 18/03/2026 310
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 học tốt dạng toán hình học liên quan đến hình tam giác", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxskkn_mot_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_lop_5_hoc_tot_dang_toan.docx

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp giúp học sinh Lớp 5 học tốt dạng toán hình học liên quan đến hình tam giác

  1. 3/33 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán hình học liên quan hình tam giác. 4. Phương pháp nghiên cứu: - Đọc nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa và sách giảng dạy môn toán ở tiểu học. - Bằng thực tế giảng dạy học sinh, sự trao đổi với đồng nghiệp, sự tích lũy kinh nghiệm của bản thân. - Tìm đọc một số sách tham khảo về hình tam giác, diện tích hình tam giác. 5. Thời gian nghiên cứu: Vấn đề dạy học sinh lớp 5 mảng kiến thức về hình tam giác tôi đã trăn trở và đúc rút qua nhiều năm. Trong năm học 2020 -2021, tôi đã thử nghiệm dạy học sinh của lớp 5D do tôi chủ nhiệm và bước đầu thấy có hiệu quả. Năm học 2021-2022 này, tôi đã trao đổi với đồng nghiệp trong khối, được mọi người tán thành và tôi tiếp tục áp dụng dạy học sinh của lớp 5C do tôi chủ nhiệm, qua tiến hành khảo sát đã thu được kết quả rất tốt. 6. Phạm vi nghiên cứu: - Nội dung nghiên cứu: mảng kiến thức cơ bản và mở rộng, nâng cao về hình tam giác, diện tích hình tam giác trong chương trình môn Toán lớp 5. - Đối tượng khảo sát: 36 em học sinhcủa lớp 5C. - Lĩnh vực khoa học nghiên cứu: phương pháp dạy học môn Toán. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận Đối với các bài toán có nội dung hình học ở các lớp giai đoạn đầu chỉ yêu cầu học sinh quan sát các biểu tượng mà nhận ra các hình đơn giản, tính diện tích với các số đo cho sẵn (lớp 3). Đến lớp 4-5, yêu cầu về các yếu tố hình học đã được nâng cao, trong đó việc giảng dạy các bài toán thuộc hình học được đưa vào dạy ở tiểu học là những nội dung cơ bản,cần thiết và thường gặp trong cuộc sống như điểm, đoạn thẳng, đường thẳng, hìnhvuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình tròn, hình lập phương, thực sự đã làm cho học sinh phát triển được năng lực tư duy hình học mà đặc biệt các bài toán liên quan đến diện tích các hình đã góp phần tích
  2. 4/33 cực vào việc giúp cho học sinh nắm chắc hơn kiến thức và các kỹ năng cơ bản của hình học, tạo khả năng giải toán một cách sáng tạo và linh hoạt. Các bài toáncó nội dung hình học, toán có liên quan đến hình học nói chung, về hình tam giác, diện tích hình tam giác nói riêng là khó đối với học sinh tiểu học. 2. Cơ sở thực tiễn - Căn cứ vào nhiệm vụ năm học 2021 -2022 “dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng và định hướng phát triển tiếp cận năng lực của học sinh”. - Nội dung “Tam giác - Diện tích hình tam giác” được đưa vào chươngtrình Toán 5 ở Tiểu học chủ yếu tập trung ở 3 tiết: Tiết 85: Hình tam giác; Tiết86: Diện tích hình tam giác; Tiết 87: Luyện tập. Nhưng lại được vận dụng tínhdiện tích hình tam giác vào rất nhiều trong những tiết Luyện tập chung, Luyện tập về tính diện tích vàxuyên suốt cho đến những bài cuối cùng của chương trình Toán 5, đặc biệt trong các cuộc thi để phân loại học sinh không bao giờ thiếu bài toán về hình tam giác. 3. Thực trạng của việc dạy toán về hình tam giác trong trường Tiểu học Qua quá trình dạy học, tham gia việc nâng cao, bồi dưỡng chất lượng mũi nhọn cho học sinh liên quan đến dạng toán về hình tam giác, tôi thấy: 3.1. Thực trạng dạy của giáo viên Giáo viên đã dạy đầy đủ kiến thức cho học sinh.Các bài toán có nội dung liên quanđến hình tam giác, tính diện tích hình tam giáctrong sách giáo khoa được giáo viên giải quyết thông quaviệc dạy kiến thức, kỹ năng mà học sinh vừa học. Khi dạy về: “Hình tam giác- Diện tích hình tam giác” do trình độ của giáo viênkhác nhau nên một số giáo viên chưa nhận thức hết tầm quan trọng việc hình thành các khái niệm: đáy, đường cao, chiều cao. Dẫn đến học sinh chưa chuẩn bị kỹ đồ dùng nênvận dụng công thức mang tính áp đặt, bắt học sinh phải công nhận cònviệc khắc sâu, mở rộng kiến thức, phát triển tư duy cho học sinh ít đượcchú ý đến. Khi hình thành quy tắcgiáo viên chưa đặt ratình huống khiến học sinh phải suy nghĩ. Cụ thể là: Mỗi tam giác có thể có nhiều nhất mấy cạnh đáy và mấy đường cao tương ứng? Đơn vị đo của cạnh đáy vàchiều cao phải như thế nào? Nếu số đo độ dài đáy và chiều cao khác nhau thì ta phải làm gì?
  3. 5/33 Trong quá trình lên lớp, giáo viên thường chỉ giúp học sinh giải quyết những bài tập trong sách chứ chưa có sự đào sâu, mở rộng để cho học sinh ghi nhớ lâu. 3.2. Thực trạng học của học sinh Quanhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 5 và khi dạy bài:“Tam giác - Diện tích hình tam giác”tôi thấy học sinh còn tồn tại một số vấn đề sau: + Các em chỉ ra được 3 đỉnh, 3 góc, 3 cạnh của hình tam giác nhưng không chỉ ra đủ ba đáy và ba đường cao tương ứng và càng lúng túng khi vẽ đường cao nhất là đường cao trong tam giác tù. + Các em chưa hiểu được tường tận vì sao khi tính diện tích hình tam giác lại lấy(đáy x chiều cao) : 2 vì thế các em áp dụng công thức tính một cách máy móc. + Khi làm bài tập các em chưa đọc kỹ đề, chưa phân tích bài toán cụ thể xem : Bài toán đã cho biết gì? Bài toán hỏi gì?Các kích thước cạnh đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo không? Nếuđơn vị đo không cùng nhau thì ta phải làm gì? Ví dụ: Khi các em làm bài 2(a)(SGKtrang 88): Tính diện tích hình tam giác có: a) Độ dài đáy là 5m và chiều cao là 24dm. Qua theo dõi, tôi thấy có em giải như sau: S= 5 x 24:2 60(dm2) Hoặc: S 5 x 24:2 60(m2) Hay như Bài tập 2 (SGK trang 95 - tiết Luyện tập chung): Diện tích của hình thang ABED lớn hơn diện tích của hình tam giác BEC bao nhiêu đề-xi-mét vuông? Tôi thấy nhiều em lúng túng khi tính diện tích tam giác BEC vì không xác định được chiều cao ngoài của tam giác tù. 3.3. Khảo sát kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trước khi thực hiện đề tài: Để kiểm chứng tính thuyết phục và triết lí đưa ra của đề tài, trước khi triển khai thực nghiệm, tôi đã tổ chức khảo sát chất lượng 35 em học sinhcủa lớp 5D năm học 2020 – 2021 về dạng toán này bằng 2 phiếu.( có minh chứng 1 kèm theo)
  4. 6/33 * Nhận xét: Từ kết quả khảo sát trên tôi thấy: học sinh có học lực khá, giỏi khi giải các bài toán có liên quan đến hình tam giác còn sai nhiều, chưa hứng thú với môn học, đặc biệt không thích giải các bài toán về hình tam giác. Tôi đã hỏi thì đa số các em cho rằng các bài toán về hình tam giác khó nên em không thích. Để kiểm tra nguồn thông tin trên về mức độ tiếp thu bài và vận dụng làm các bài tập vềhình tam giác, tôi tiếp tục tiến hành khảo sát 35 em học sinh của lớp 5D phiếu số 2 (có minh chứng 2 kèm theo): Giải 4 bài toán về hình tam giác, tính diện tích hình tam giác. Kết quả: ( có minh chứng kèm 3 theo) * Nhận xét: Mức độ học sinh nắm vững kiến thức toán về hình tam giác, tính diện tích hình tam giácvà vận dụng vào giải các bài tập chưa cao, nhiều em kĩ năng nhận dạng hình và giải toán về hình tam giác chưa chắc chắn. Nhiều em chỉ làm được bài 1 và bài 2 còn bài 3 và bài 4 các em làm sai hoặc bỏ vì không làm được. * Những nguyên nhân của thực trạng: Học sinh chỉbiết trong mỗi tam giác có một cạnh đáy và một đường cao tương ứng như các hình tam giác có trong sách giáo khoa. Các em thừa nhận công thức tính diện tích hình tam giác giáo viêngiảng giải đưa ra mà không được thực hành cắt ghép, trao đổi để rút ra được cách tính diện tích. Thao tác tìm công thức ngược đối với học sinh còn khá lúng túng. Khi làm bài tập các em chưa đọc kỹ đề bài, chưa phân tích tổng hợp bàitoán cụ thể, chưa đặt ra câu hỏi suy nghĩ: Nếu đơn vị đo của cạnh đáy và chiềucao không cùng nhau thì ta phải làm gì? Đổi về đơn vịnào để tính cho tiện nhất? * Tiểu kết:Từ những thực trạng và nguyên nhân cơ bản trên đã làm cho nhiều giáo viên lúng túng trong cách dạy, nhiều học sinh lúng túng, mơ hồ trong cách giải. Với trách nhiệm là một giáo viên cơ bản đứng lớp, song song với việc kèm học sinh yếu, tôi thấy mình có trách nhiệm bồi dưỡng học sinh năng khiếu để các em phát triển tư duy toán học. Bản thân tôi đã suy nghĩ, tìm tòi, chắt lọc và lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp, với mục đích khắc phục những hạn chế trong quá trình dạy học, để bồi dưỡng học sinh có thể giải tốt các bài toán có liên quan đến hình tam giác, đồng thời khơi gợi trong các em niềm ham mê khám phá, hứng thú với môn học.
  5. 7/33 4. Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán hình học liên quan đến hình tam giác. *Mục tiêu của giải pháp, biện pháp: Các biện pháp trong đề tài này nhằm giúp giáo viên dạy họcsinh hệ thống hóa các yếu tố, công thức tính diện tích hình tam giác; giúp họcsinh hiểu và giải đúng bài toán liên quan, thấy được những nhầm lẫn thường mắc khi giải bàitoán liên quan đến hình tam giác; qua đó các em có kinhnghiệm trong việc vẽ hình, tính toán trong thực tế. *Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:Khi giải các bài toán về hình tam giác, học sinh phải vận dụng tổng hợp nhiều kiếnthức và hiểu biết về: + Yếu tố hình học: Điểm, đoạn thẳng, đỉnh, góc, cạnh, công thức tính diện tích...và các công thứcngược. Nhận dạng, vẽ được các loại hình tam giác, chiều cao ứng với đáy cho trước bằng thước vàeke. Nắm được công thức tínhdiện tích hình tam giác. Biết tính chiều cao và cạnh đáy hình tam giác theo công thức ngược. + Các phép tính số học: Cộng, trừ, nhân, chia số tự nhiên, số thập phân,phân số. 4.1. Biện pháp 1: Giúp học sinh nắm vững các yếu tốcủa hình tam giác. * Mục tiêu: Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản và mở rộng về các yếu tố của hình tam giác, đặc biệt là đáy, đường cao, chiều cao để có thể làm được các bài tập ở mức 3, mức 4 và các bài nâng cao nhằm phát triển tư duy toán học cho học sinh. * Cách tiến hành:Từ phân tích nội dung, giáo viên giúp học sinh xác định rõ đường cao xuất phát từ 1 đỉnh luôn vuông góc với đáy tương ứng và trong một tam giác sẽ có 3 đường cao tương ứng với 3 cạnh của tam giác làm đáy. 4.1.1. Các yếu tố của hình tam giác: A Tam giác ABC có:+ 3 góc: góc A, góc B, góc C + 3 đỉnh: đỉnh A, đỉnh B, đỉnh C B C + 3 cạnh: cạnh AB, cạnh AC, cạnh BC H + Đáy BC, đường cao AH vuông góc với BC. + Độ dài của đường cao AH là chiều cao.
  6. 8/33 4.1.2. Mối quan hệ giữa cạnh đáy và đường cao trong tam giác Trong tam giác, các yếu tố như cạnh, góc, đỉnh học sinh đã được làm quen ở lớp dưới, còn yếu tố như đáy, đường cao, chiều cao lên lớp 5 các em mới được học. Trong SGK chỉ giới thiệu cho các em mỗi tam giác có một cạnh đáy và một đường cao tương ứng nhưng theo tôi, để bồi dưỡng kiến thức cho học sinh nhất là học sinh có năng khiếu toán, giáo viên phải mở rộng cho các em biết và phân biệt, xác định được mỗi dạng tam giác lần lượt ba cạnh đáy và ba đường cao tương ứng. * Lưu ý: đường cao của một tam giác là đoạn thẳng kẻ từ một đỉnh và vuông góc với cạnh đối diện. Cạnh đối diện này được gọi là cạnh đáy. Vậy trong một tam giác có ba đỉnh tương ứng với ba cạnh đối diện là ba cạnh đáy nên sẽ có ba đường cao. Trong giới hạn môn toán ở tiểu học, tôi chia hình tam giác thành ba dạng: * Dạng 1: Tam giác có 3 góc nhọn Sau khi học sinh đã quan sát trong sách giáo khoa về đặc điểm của loại hình này, giáo viên có thể gợi mở bằng 1 số câu hỏi sau: - Ba góc của tam giác lớn hơn hay nhỏ hơn góc vuông? - AH là đường cao tương ứng với đáy BC như hình vẽ. Nếu lấy đáy là AC ta sẽ có đường cao nào? Tương tự nếu lấy đáy là AB thì đường cao sẽ hạ từ đâu? Tiếp theo, tôi đưa ra một số hình tam giác với các vị trí đáy khác nhau, yêu cầu học sinh vận dụng những điều vừa học dùng eke vẽ xác định đường cao lần lượt tương ứng với các đáy AB, AC, BC, như các hình dưới đây: A A B H B H C H B C A C - Ba đường cao của tam giác có 3 góc nhọn nằm trong hay ngoài tam giác? Cuối cùng giáo viên chốt: Từ một đỉnh bất kì, ta có thể kẻ một đường cao tương ứng xuống đáy (cạnh đối diện). Cả 3 đường cao này đều nằm trong tam giác. *Dạng 2: Tam giác có 1 góc vuông và hai góc nhọn (Tam giác vuông)
  7. 9/33 Trong sách giáo khoa chỉ giới thiệu AB là đường cao A ứng với đáy BC nhưng theo tôi, giáo viên cần cho học sinh quan sát và khẳng định thêm: Nếu xem BC là đáy thì AB là đường cao B C B A Sau khi học sinh nhận biết được đáy, giáo viên lại cho họcA sinh xác định với các tam giác có vị trí đáy khác nhau. C B C A K A B A C B Đáy BC, đường cao AB Đáy AB, đường cao BC Đáy AC, đường cao BK - Em có nhận xét gì về các đường cao trong tam giác vuông? Giáo viên chốt: 2 cạnh vuông góc với nhau nên chúng đều có thể làm đường cao và tương ứng với 2 đáy và 1 đường cao nữa nằm trong tam giác. * Dạng 3: Tam giác có một góc tù và hai góc nhọn: Trong 3 dạng của hình tam giác thì việc xác định A đường cao trong loại tam giác này thực sự khó khăn đối với học sinh kể cả học sinh khá giỏi. Giáo viên cần lưu ý học sinh để kẻ được đường cao tương ứng H C với đáy là một cạnh của góc tù trước hết ta phải kéo B dài cạnh đáy BC sang hai bên, sau đó kẻ đường cao AH từ đỉnh A vuông góc xuống cạnh đáy BC. Tương tự phần trên, giáo viên cũng đưa ra các tam giác với các vị trí đáy khác nhau và yêu cầu học sinh thực hành kẻ đường cao tương ứng với các đáy. A C C H H H B B B C A A Đáy BC, đường cao AH Đáy AB, đường cao CH Đáy AC, đường cao BH
  8. 10/33 Cuối cùng, giáo viên hỏi: Em có nhận xét gì về 3 đường cao trong tam giác có 1 góc tù, 2 góc nhọn? (Có 2 đường cao ngoài và 1 đường cao trong tam giác). Việc sử dụng đường cao ngoài của tam giác rất khó cho học sinh yếu kém tuy nhiên ta vẫn phải cho các em làm quen để học sinh nắm được bản chất. Từ đó các em có điều kiện học tốt hơn ở các bài học khác. Ví dụ, ở bài tập 2, tiết 93 (trang 95- tiết Luyện tập chung: Khi tính diện tích hình tam giác BEC học sinh dùng đường cao ngoài tam giác từ đỉnh B xuống đáy EC, đó chính là đường cao hình thang ABCD thì bài toán sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. * Bài tập ứng dụng: Bài 1 (Có minh chứng 4 kèm theo) Tiểu kết: Sau khi tôi áp dụng biện pháp trên vào dạy bài Hình tam giác, tôi thấy học sinh không còn lúng túng khi tôi yêu cầu vẽ hay chỉ ra đáy và đường cao trong tam giác. Điều này sẽ thật sự có ích không những ở học sinh yếu kém mà nó đặc biệt quan trọng cho học sinh khá giỏi vì đây là tiền đề, là cơ sở cho các em học tốt hơn môn hình học ở lớp trên. Hiện nay ở các đề thi học sinh giỏi bậc tiểu học không bao giờ vắng bóng bài toán có nội dung hình học cần sử dụng đường cao ngoài tam giác. 4.2. Biện pháp 2: Giúp học sinh nắm vững công thức tính diện tích hình tam giác Việc hình thành quy tắc và công thức tính diện tích hình tam giác cho học sinh có nhiều cách và không khó nhưng làm thế nào để các em có thể ghi nhớ và thuộc ngay tại lớp? Muốn được như vậy thì các em phảiđược thực hành cắt ghép hai hình tam giác có diện tích bằng nhau thành một hình chữ nhật. Học sinh được 1 trao đổi, thảo luận, tự tìmhiểu và rút ra được cách tính: Diện tích hình tam giác = 2 diện tích hình chữnhật. Suy ra: Diện tích hình tam giác = đáy x chiều cao : 2 a h Công thức tính diện tích: S Trong đó: S: Diện tích 2 a: Độ dài đáy
  9. 11/33 h: Chiều cao Tiếp theo, giáo viên đặt câu hỏi để học sinh liên hệ với các hình đã học: + Muốn tính được diện tích của hình tam giác thì ta cần phải biết các số đo nào? + Trong các hình đã học, hình nào khi tính diện tích chúng ta cũng cần phải biết hai số đo? Để tính được diện tích của các hình đó, các số đo em cần lưu ý gì? GV chốt: Cũng như việc tính diện tích hình chữ nhật, hình thoi, hình bình hành đã được học, để tính được diện tích hình tam giác thì các em cần lưu ý các số đo: chiều cao, độ dài đáy cũng phải cùng một đơn vị đo. Các em cần phải lựa chọn đổi ra đơn vị đo nào để thực hiện phép tính cho thuận tiện hoặc phù hợp với yêu cầu của đầu bài.Muốn tính toán hay so sánh diện tích hình tam giác ta căn cứ vào số đo của độ dài đáy và chiều cao. * Bài tập ứng dụng: Bài 2, 3, 4, 5, 6 (Phụ lục 3) * Tiểu kết:Sau khi thực hiện biện pháp trên, tôi thấy học sinh được ôn tập, mở rộng kiến thức nên nắm rất vững về hình tam giác. Các em đều thấy được các đơn vị đo của đáy và chiều cao phải cùng một đơn vị. Các em đều làm đúng các bài tập trong SGK. Ví dụ: Khi các em làm bài 2(a) (SGK trang 88): Tính diện tích hình tam giác có: a) Độ dài đáy là 5m và chiều cao là 24dm. Qua theo dõi, tôi thấy học sinh giải theo 2 cách sau: Cách 1:Đổi 5m = 50dm. S 50 x 24 : 2 600(dm2) Cách 2: Đổi 24dm = 2,4m. S 5 x 2,4:2 6(m2) Cả hai cách các em làm đều đúng với yêu cầu của đề bài. Khi đã có cái “gốc” rồi, giáo viên cần cung cấp cho các em kiến thức mở rộng, nâng cao để phát triển tư duy, khơi gợi niền say mê khám phá của học sinh.Trên cơ sở đó, tôi tiếp tục cung cấp, bồi dưỡng cho học sinh các bài toán nâng cao về hình tam giác. 4.3.Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh giải một dạng bài toán nâng cao về hình tam giác. 4.3.1. Bài toán có liên quan đến tìm số đo kích thước của một hình: * Mục tiêu:Ở lớp 5 có rất nhiều bài toán cho biết diện tích và yêu cầu tìm số đo kích thước của một hình. Các bài tập dạng này có tác dụng nâng cao năng lực tư
  10. 12/33 duy củahọc sinh, các em phải hiểu rõ mối quan hệ giữa các thành phần trong một công thứctừ đó suy ra công thức tính ngược. * Cách tiến hành:Tôithường xuyên ôn tập và hệ thống hóa kiến thức để giúp các em nhận thấy có thể từcông thức này suy ra công thức kia, chẳng hạn :Từ công thức tính diện tích hình tam giác S = (a x h) : 2 có thể suy ra cáccông thức tính ngược: - Coi a x h là số bị chia, 2 là số chia, S là thương, ta có: a x h = S x 2 - Coi S x 2 là tích, h là thừa số đã biết, a là thừa số chưa biết, ta có đáy = diện tích 2 : chiều cao. Côngthức tính đáy là: a = (S x 2) : h - Tương tự ta có Côngthức tính chiều cao là: h = (S x 2) : a Khi đã nắm được các công thức, tôi cho học sinh có thể vận dụng để làm các bài tập từ dễ đến khó như một số ví dụ sau: Bài toán 1:Tính chiều cao của một tam giác có diện tích 12cm2 và đáylà 6cm. Bài giải: Chiều cao của tam giác là: 12 x 2 : 6 = 4 (cm) Đáp số: 4 cm Bài toán 2:Một thửa đất hình tam giác ABC có diện tích là 150 cm2. Nếu kéodài đáy BC 5cm thì diện tích sẽ tăng thêm 37,5 cm2. Tính đáy BC củathửa đất đó. - Phân tích và hướng dẫn giải: + Bài toán yêu cầu chúng ta làm gì? (Tính đáy BC của thửa đất hình tamgiác) Giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ hình để thấy được mối liên hệ giữa các yếu tố : + Hướng dẫn học sinh vẽ chiều cao của phần đất mới. + Mối quan hệ giữa chiều cao của phần đất cũ và phần đất mới (Chiều cao của phần đất mới cũng chính làchiều cao của phần đất cũ). + Ta tính đáy BC của thửa đất khi chưa mở thêm theo công thức:a = S x 2 : h Bài giải : Từ A kẻ chiều cao AH của tam giác ABC thìAH cũng là chiều cao của tam giác ABD Chiều cao của mảnh đất hình tam giác là:37,5 x 2 : 5 = 15 (cm)
  11. 13/33 Đáy của mảnh đất hình tam giác là:150 x 2 : 15 = 20 (cm) Đáp số: 20 cm Bài toán 3: Một lá cờ thể thao hình tam giác có cạnh đáy dài 30cm. Nếu kéo dài cạnh đáy thêm 7cm nữa thì diện tích lá cờ tăng thêm 140 cm 2. Tính diện tích vải để may lá cờ đó. - Phân tích và hướng dẫn giải: Sau khi gọi học sinh đọc đề bài, GV hỏi học sinh để vẽ hình như hình bên: GV hướng dẫn học sinh cách giải tương tự bài toán 2. Bài giải: Chiều cao của lá cờ cũng chính là chiều cao của phần vải mở rộng và bằng là: 140 x 2 : 7 = 40 (cm) Diện tích vải để may lá cờ đó là:30 x 40 : 2 =600 (cm2) Đáp số: 600 cm2, * Bài tập ứng dụng: Bài 7, 8, 9, 10, 11, 12 (Phụ lục 3) Tóm lại:Khi gặp các bài toán khó về diện tích các hình, một số em thường lúng túng không biết nên bắt đầu từ đâu. Để giải tốt dạng toán này, tôi yêu cầu các em vẽhình chính xác, nắm các yếu tố liên quan với nhau và vận dụng linh hoạt các kiếnthức để giải. 4.3.2. Giải bài toán thông qua tỉ số của các yếu tố * Mục tiêu: Dựa vào tỉ số của các cạnh đáy, chiều cao hay diện tích để chúng ta tính độ dài hay so sánh các đoạn thẳng, so sánh hoặc tính diện tích của một hình theo yêu cầu của đầu bài. * Cách tiến hành:Trong một bài toán hình học, người ta có thể dùng tỉ số các số đo đoạn thẳng, tỉ số các số đo diện tích như một phương tiện để tính toán, giải thích, lập luận cũng như trong thao tác so sánh các giá trị về độ dài đoạn thẳng, về diện tích.