Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong trường Mầm non

docx 31 trang Chăm Nguyễn 29/07/2026 320
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong trường Mầm non", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxsang_kien_kinh_nghiem_mot_so_bien_phap_giao_duc_ky_nang_tu_p.docx
  • pdfSáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong trường Mầm non

  1. iii CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: - Hội đồng khoa học Trường mầm non Hoà Thạch. - Hội đồng khoa học Huyện Quốc Oai. Tôi là tác giả: Trương Thị Cẩm Giang. Bộ phận, đơn Tỷ lệ (%) đóng Trình vị công tác, góp vào việc tạo độ (hoặc) số ra sáng kiến STT Họ và tên chuyên CCCD/Hộ Chức (ghi rõ đối với môn chiếu và địa danh từng đồng tác chỉ liên hệ giả, nếu có) Trường Mầm Giáo non Hoà Thạch viên 1 Trương Thị Cẩm Giang Đại học - Hoà Thạch - 100% mầm non Quốc Oai hạng III - Hà Nội. Đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong trường mầm non Đã áp dụng/áp dụng thử từ ngày 14/09/2024 Tại nhóm trẻ 25 – 36 tháng Khu B – Trường Mầm non Hoà Thạch Hiệu quả chính: 100% trẻ đã có một số kỹ năng cơ bản, nhất định để phục vụ nhu cầu bản thân, tỷ lệ trẻ có thói quen vệ sinh tốt, thói quen trong ăn uống sạch sẽ, tự bê ghế, tự xúc cơm , kỹ năng tự phục vụ nhu cầu của bản thân tăng lên một cách đáng kể. Về phía giáo viên, bản thân tôi ngày càng hoàn thiện hơn về kỹ năng tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ. Tiết kiệm được thời gian, thay đổi được lề lối làm việc mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo trong giảng dạy. Về phía phụ huynh rất nhiệt tình hưởng ứng và phối hợp chặt chẽ với giáo viên và nhà trường để cùng có biện pháp chăm sóc và giáo dục trẻ một cách tốt nhất. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trương Thị Cẩm Giang. Những người tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sang kiến lần đầu (nếu có)
  2. iii Ký xác nhận Tên đơn vị đã áp dụng STT Địa chỉ đơn vị của đơn vị áp thử/ áp dụng sáng kiến dụng Tham gia áp 1 Nguyễn Thị Thuyên Nhóm trẻ 25 – 36 dụng các biện tháng khu Trúc pháp trong hoạt 2 Nguyễn Thị Kim Chung Nội. động tại lớp. Tham gia áp 3 Nguyễn Thị Hoàn Nhóm trẻ 25 – 36 dụng các biện tháng khu A. pháp trong hoạt 4 Dương Thị Bắc động tại lớp. Tôi (chúng tôi) xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hoà Thạch, ngày 10 tháng 04 năm 2025 HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI YÊU CẦU CÔNG NHẬN Nguyễn Thị Hạnh Trương Thị Cẩm Giang
  3. 1 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ I. TÊN SÁNG KIẾN Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25 - 36 tháng tuổi trong trường mầm non. II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Bác Hồ vĩ đại của chúng ta đã nói : “ Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan” Qua câu nói giản dị ấy, Bác gửi gắm tình yêu thương vô bờ bến dành cho thiếu nhi, đồng thời nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc chăm sóc, giáo dục trẻ em từ thuở nhỏ. Đặc biệt, Người luôn căn dặn các cấp, các ngành, các thầy cô giáo cần “dạy trẻ lễ phép, thật thà, yêu lao động và yêu Tổ quốc từ tấm bé.”. Giáo dục mầm non không chỉ nhằm trang bị cho trẻ những kiến thức cơ bản mà còn hướng đến việc phát triển các năng lực tự lập, tự chăm sóc bản thân – yếu tố then chốt cho sự phát triển toàn diện của trẻ trong giai đoạn từ 24 đến 36 tháng tuổi. Trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi mà sự tự chủ, tự phục vụ được xem là những kỹ năng sống thiết yếu, việc rèn luyện khả năng tự phục vụ cho trẻ nhà trẻ càng trở nên cần thiết. Thực tiễn cho thấy, mặc dù các cơ sở giáo dục mầm non đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục thường nhật, nhưng phần kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp cụ thể nhằm rèn luyện kỹ năng tự phục vụ cho trẻ còn nhiều hạn chế. Nhiều trẻ vẫn phụ thuộc quá nhiều vào người lớn trong sinh hoạt hàng ngày như tự ăn, tự mặc, tự vệ sinh Những thói quen này nếu không được bồi đắp kịp thời sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự tự tin, khả năng tự quản lý và phát triển độc lập của trẻ sau này. Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25-36 tháng tuổi trong trường mầm non”” được hình thành dựa trên nhu cầu cấp thiết đó, nhằm đề xuất các biện pháp, phương pháp giáo dục mới mẻ và hiệu quả trong việc khuyến khích trẻ tự chăm sóc bản thân. Thông qua việc quan sát, thực hành và sáng tạo trong phương pháp sư phạm, sáng kiến mong muốn tạo dựng môi trường giáo dục thân thiện, gần gũi với trẻ, giúp trẻ phát huy tối đa khả năng tự nhận thức và phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống sau này.
  4. 2 Vậy làm thế nào để rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ là một trong những điều làm tôi luôn trăn trở từ đầu năm học khi được nhà trường phân công phụ trách nhóm nhà trẻ 24-36 tháng tuổi khu B, nên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ 25-36 tháng tuổi trong trường mầm non” vào nghiên cứu tại nhóm lớp mình, trong năm học 2024 - 2025 và là cơ sở để áp dụng cho những năm tiếp theo. III. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN. Phạm vi và thời gian thực hiện: Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2024 đến 4 /2025, tại nhóm trẻ 25 - 36 tháng khu B trường mầm non Hòa, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Đối tượng nghiên cứu: 26 trẻ học nhóm trẻ 25 - 36 tháng khu B - Trường mầm non Hòa Thạch. IV. MỤC ĐÍCH CỦA SÁNG KIẾN. Hình thành cho trẻ thói quen tự lập ngay từ nhỏ rèn luyện các kỹ năng tự phục vụ phù hợp với độ tuổi như: tự xúc ăn, rửa tay, cất đồ dùng, mặc - cởi áo đơn giản Tăng cường sự tự tin, mạnh dạn, chủ động trong các hoạt động thường ngày. Nâng cao nhận thức và kỹ năng trong việc tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nhỏ.Tạo điều kiện để giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực, lấy trẻ làm trung tâm. Từ đó góp phần vào hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ trong nhà trường.
  5. 3 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chương trình chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non. Đây không chỉ là việc rèn luyện thói quen sinh hoạt hằng ngày, mà còn là quá trình hình thành tính tự lập, tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và ý thức kỷ luật ngay từ những năm đầu đời. Kỹ năng tự phục vụ là khả năng của trẻ trong việc tự chăm sóc bản thân và thực hiện các hoạt động sinh hoạt hằng ngày phù hợp với độ tuổi, không phụ thuộc vào sự trợ giúp của người lớn. Việc rèn kỹ năng tự phục vụ cho trẻ bao gồm: Kỹ năng tự xúc ăn, tự uống nước, rửa tay, rửa mặt, đi tất, đi giầy, cất ba lô, túi sách, mặc cởi quần áo, sắp xếp đồ dùng cá nhân, đồ chơi đúng nơi quy định, lau bàn ghế Việc hướng dẫn trẻ kỹ năng tự phục vụ bản thân sẽ mang lại những lợi ích như: Giúp trẻ phát triển khả năng vận động thô và vận động tinh khéo léo, làm việc cẩn thận, gọn gàng. Nhờ đó mà trẻ tập trung và có khả năng xử lý vấn đề; tự tin, tự lập trong cuộc sống, làm chủ bản thân. Trẻ có ý thức và chăm sóc tốt cho bản thân trong mọi hoàn cảnh và có trách nhiệm với công việc, biết ơn khi được giúp đỡ. Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ khi còn bé không những phát huy tính tự lập cho trẻ trong sinh hoạt hằng ngày, mà còn một phần giúp thỏa mãn nhu cầu cũng như mong muốn được sống và làm việc như người lớn của trẻ. Hơn thế nữa nó còn là một trong những điều kiện quan trọng hình thành sự tự tin, năng động, sáng tạo làm cơ sở hình thành kỹ năng sống sau này cho trẻ. Giáo dục kỹ năng tự phục vụ giúp cho trẻ tăng cường thể chất, sự kiên trì, bền bỉ, nhanh nhẹn, khéo léo, tháo vát trẻ nhanh thích ứng với các điều kiện sống thay đổi, thông qua các hoạt động của trẻ; Giúp cho trẻ biết lắng nghe, chia sẻ, sống có trách nhiệm, biết giúp đỡ ông bà, bố mẹ, người thân; giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, đặc biệt rèn luyện cho trẻ thói quen văn minh, kỹ năng tự phục vụ nhu cầu của bản thân đứa trẻ. Năm học 2024 - 2025 tôi được nhà trường phân công dạy lớp 25 - 36 tháng tuổi khu B, tổng số: 26 trẻ. Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
  6. 4 1. Thuận lợi Là một giáo viên dạy nhóm lớp 25-36 tháng tuổi tại khu trung tâm, nơi có cơ sở vật chất đầy đủ, diện tích đúng quy chuẩn , đảm bảo điều kiện an toàn cho trẻ theo quy định, phòng học đẹp, rộng dãi, thoáng mát, đảm bảo an toàn khi trẻ đến lớp. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao, tích cực bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kĩ năng sư phạm cho đội ngũ giáo viên trong trường. Trang thiết bị và đồ dùng cho công tác dạy và học được nhà trường đầu tư tương đối đầy đủ, đồ dùng, đồ chơi tự tạo cho trẻ đa dạng, phong phú, hấp dẫn. Có các phòng chức năng cho trẻ hoạt động. Bản thân tôi là một giáo viên trẻ, có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, có năng lực, kỹ năng sư phạm tốt, yêu nghề, mến trẻ, luôn tích cực tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ. Trẻ có sức khỏe tốt, đi lớp đều đạt tỉ lệ chuyên cần cao. Phụ huynh quan tâm và sát sao phối hợp với giáo viên trong việc giáo dục trẻ. Tin tưởng và ủng hộ giáo viên trong các hoạt động của trẻ. 2. Khó khăn Giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm, hình thức sáng tạo, chưa tạo được sự lôi cuốn hấp dẫn, tập trung chú ý của trẻ và chưa chú ý xây dựng môi trường và tạo cơ hội cho trẻ thực hành kỹ năng tự phục vụ. Trẻ còn nhỏ tuổi, trẻ mới xa người thân, gia đình để đến trường, đến lớp do vậy còn quấy, khóc đòi cô bế, ẵm các công việc tự phục vụ đối với trẻ khá khó khăn. Vốn từ của trẻ ít, trẻ chưa diễn đạt được nhu cầu của mình bằng lời, gây khó khăn cho giáo viên trong việc hiểu và hỗ trợ kịp thời, khả năng nhận thức của trẻ không đồng đều. Đa số trẻ đến lớp chưa có kỹ năng tự phục vụ bản thân. Là một trong những trường thuộc vùng nông thôn, bố mẹ trẻ đa số làm nghề nông, làm công ty, mải làm ăn kinh tế chưa có nhiều thời gian quan tâm đến con mình. Một số phụ huynh còn nuông chiều con, luôn bao bọc và làm theo yêu cầu của con từ đó dẫn tới việc làm cho trẻ mất đi tính tự giác, thường xuyên ỉ lại người lớn, trẻ không tự chủ động những gì mình muốn mà luôn chờ đợi người khác làm cho.
  7. 5 3. Kết quả khảo sát đầu năm Tôi tiến hành khảo sát trên 26 trẻ. Thời gian tháng 9/2024. Kết quả được đánh giá như sau: Số trẻ Tỷ lệ Chưa Tỷ lệ Nội dung khảo sát Đạt khảo sát % đạt % Kỹ năng tự cất và lấy đồ dùng cá nhân: Lấy và cất ba 26 6/26 23% 20/26 77% lô, giày dép, gối Trẻ có kỹ năng biết chờ đợi đến lượt, biết xếp hàng để 26 7/26 27% 19/26 73% lau mặt, rửa tay. Biết tự cầm thìa xúc cơm ăn, 26 9/26 35% 17/26 65% tự lấy ghế ngồi vào bàn ăn. Trẻ có kỹ năng lấy và cất đồ 26 5/26 20% 21/26 80% dùng đúng nơi quy định. Biết đi vệ sinh khi có nhu 26 6/26 23% 20/26 77% cầu, đúng nơi quy định. Qua số liệu kết quả bảng khảo sát tôi nhận thấy kỹ năng tự phục vụ của trẻ còn kém. Tỷ lệ trẻ biết tự cất và lấy đồ dùng cá nhân chiếm 23%, đa số trẻ chưa có kỹ năng biết chờ đến lượt, biết xếp hàng, trẻ biết cầm thìa xúc ăn chiếm 35%. Đa số trẻ chưa biết đi vệ sinh khi có nhu cầu. Từ thực trạng nêu trên đưa ra một số biện pháp như sau: II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN 1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường lớp học tạo cơ hội cho trẻ thực hành các kỹ năng tự phục vụ một cách tích cực Xây dựng môi trường lớp học trong giáo dục mầm non có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với việc hình thành kỹ năng, thói quen và nhân cách cho trẻ. Đối với trẻ mầm non, việc trang trí môi trường lớp học đóng vai trò rất quan trọng trong việc kích thích sự hứng thú, tò mò và ham học hỏi của trẻ. Một môi trường lớp học được trang trí sinh động, gần gũi, phù hợp với độ
  8. 6 tuổi sẽ tạo cảm giác thân thiện, an toàn, giúp trẻ mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học tập và vui chơi. Việc trang trí cần đảm bảo các nguyên tắc: lấy trẻ làm trung tâm, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, dễ quan sát, dễ hiểu và có tính giáo dục cao. Tranh ảnh, đồ dùng học liệu, bảng biểu, sản phẩm của trẻ cần được sắp xếp khoa học, có chủ đề rõ ràng và thay đổi linh hoạt theo thời gian.. Việc xây dựng môi trường lớp học vẫn được thực hiện thường xuyên, liên tục và đổi mới. Môi trường trong lớp nhằm tạo cơ hội cho trẻ thực hành các kỹ năng tự phục vụ là môi trường có nhiều đồ dùng gần gũi với cuộc sống của trẻ như: Ba lô, túi xách, khăn lau, thìa . Để đạt được mục đích giáo dục, tôi đã sưu tầm các đồ dùng đưa vào các góc phù hợp và sắp xếp đồ dùng, đồ chơi gọn gàng ngăn nắp, thường xuyên vệ sinh sạch sẽ ví dụ: Góc bé chăm em có búp bê, thìa, bát, khăn, giấy ăn, yếm ; Góc kỹ năng: Bát, thìa, hạt, cốc cho trẻ tập các bài tập xúc hạt, chuyển nước Trong lớp tôi sắp xếp các giá góc gọn gàng, khoa học, đồ dùng trên giá ngay ngắn và để đúng nơi quy định
  9. 7 (Phục lục 1 - hình ảnh 1). Ngoài ra, tôi còn sưu tầm và chụp ảnh của trẻ lớp tôi về hành vi, thói quen tự phục vụ để trưng bày nơi đón trẻ, để giúp trẻ dễ dàng quan sát và ghi
  10. 8 nhớ rồi học theo . Tôi còn tận dụng ngay chính hình ảnh trẻ ở lớp hoặc ở nhà thực hiện kỹ năng tự phục vụ của mình để làm hình ảnh trang trí ở góc kể chuyện bé nghe để mọi trẻ có thể xem và nhìn thấy. Chính từ những hình ảnh đó, đặc biệt là hình ảnh tự chụp của trẻ là động lực giúp trẻ và các bạn khác hứng thú học tập và làm theo. Hay trước cửa nhà vệ sinh, khu vực uống nước tôi đã dán các hình ảnh có nội dung giáo dục như: Hình ảnh xếp hàng chờ đến lượt từ đó tôi luôn giáo dục trẻ khi đi vệ sinh, hoặc đi uống nước phải biết xếp hàng chờ đến lượt. Tại các góc chơi, tôi lồng ghép các nội dung giáo dục kỹ năng tự phục vụ vào nội quy của từng góc chơi phù hợp với trẻ bằng những hình ảnh ngộ nghĩnh đáng yêu. Môi trường lớp học trong giáo dục mầm non gồm hai yếu tố chính: môi trường vật chất và môi trường tinh thần. Cả hai yếu tố này đều tác động trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của trẻ, đặc biệt là việc hình thành kỹ năng, thói quen tốt như kỹ năng tự phục vụ. Trẻ con bắt chước rất nhanh, trẻ có thể học theo lời nói, theo hành vi của người lớn và lặp lại y như trong các tình huống. Chính vì vậy hàng ngày trẻ đến lớp phần lớn thời gian trong ngày trẻ được học tập và sinh hoạt cùng cô. Ở lứa tuổi mầm non, trẻ rất cần được yêu thương, bảo vệ và dẫn dắt bằng tình cảm chân thành. Vì thế, cô giáo không chỉ là người dạy trẻ học, mà còn là người bạn thân thiết, người mẹ thứ hai trong cuộc sống hằng ngày của trẻ. Vì vậy vai trò của cô giáo rất quan trọng trong việc hình thành những thói quen, nề nếp, kỹ năng cho trẻ và để trẻ có kỹ năng tự phục vụ tốt cô giáo phải là tấm gương cho trẻ noi theo. Hàng ngày khi tới lớp tôi rất chú trọng tới những việc mình làm từ những việc nhỏ nhất, để làm gương cho trẻ, tôi luôn tươi cười, thân thiện giữa tôi với cô giáo cùng lớp, giữa tôi với trẻ tạo bầu không khí an toàn, ấm áp để trẻ có tâm lý thoải mái, an toàn khi được ở bên cô, được cùng cô hoạt động. Mọi hành động, cử chỉ của cô đều phải chuẩn và mẫu mực để trẻ bắt chước làm theo. Khi ở lớp tôi luôn sắp xếp đồ dùng cá nhân của mình một cách gọn gàng như túi xách, mũ, giày dép . Hay Trong mọi hoạt động, sinh hoạt tôi luôn làm gương cho trẻ bằng cách luôn giữ môi trường sạch sẽ, không vứt rác bừa bãi, hay lau dọn đồ dùng của lớp học, vệ sinh trong, ngoài lớp học cẩn thận, từ đó trẻ sẽ học theo để giữ gìn vệ sinh chung cho lớp học..
  11. 9 (Phục lục 1 - hình ảnh 3, hình ảnh 4). Với việc xây dựng môi trường như vậy đã tạo cho trẻ nhiều cơ hội được tiếp cận và thực hành các kỹ năng một cách trình tự, có kỷ luật, qua đó trẻ trong lớp tôi đã có một số tiến bộ nhất định, trẻ đã có nề nếp, ngăn nắp, gọn gàng và tự giác hơn trong các hoạt động, có một số kỹ năng tự phục vụ và đã biết tuân thủ nội quy các góc chơi, biết lấy và cất đồ dùng đúng nơi quy định.