Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh Lớp 2
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh Lớp 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_bien_phap_xay_dung_lop_hoc_hanh_phuc_c.docx
Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh Lớp 2.pdf
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm Biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc cho học sinh Lớp 2
- 3 Học sinh hạnh phúc: Trong tiêu chí lớp học hạnh phúc không thể thiếu điều kiện học sinh hạnh phúc. Tất cả học sinh trong lớp cần được tôn trọng, được yêu thương và được tạo cơ hội để thể hiện tình yêu thương. Học sinh đều được tạo cơ hội học tập, vui chơi phù hợp với nhu cầu, khả năng của mình. Trẻ tự tin, hợp tác, chủ động, chia sẻ và yêu thương trong học tập, sinh hoạt, vui chơi, thư giãn. Giáo viên hạnh phúc: Trong mô hình lớp học hạnh phúc, giáo viên cũng cần được hạnh phúc. Giáo viên tự chăm sóc sức khỏe về tâm lý, thể chất và trang bị cho bản thân các kỹ năng sống, giá trị sống phù hợp với nhân cách, đạo đức trong môi trường giáo dục. Đồng thời thực hiện hỗ trợ đồng nghiệp khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Thầy cô giáo tự bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, nhận thức để thực hiện công tác giáo dục trẻ. Giáo viên thường xuyên thể hiện cảm xúc tích cực, thực hiện việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm phù hợp với yêu cầu đào tạo của nhà trường. Phụ huynh hạnh phúc: Trong tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc không chỉ giáo viên và học sinh hạnh phúc, cha mẹ cũng cần biết ý nghĩa lớp học hạnh phúc. Phụ huynh chủ động tham gia các hoạt động giáo dục, chăm sóc và các hoạt động khác của trẻ tại lớp học. Cha mẹ trân trọng, yêu quý và tin tưởng vào giáo viên giảng dạy cho con em mình. Mối quan hệ trong và ngoài lớp học: Mô hình lớp học hạnh phúc bao gồm hạnh phúc trong các mối quan hệ trong và ngoài lớp. Vì vậy tiêu chí lớp học hạnh phúc cần có mối quan hệ giữa học sinh và học sinh, học sinh với giáo viên, giáo viên với giáo viên cần được xây dựng dựa trên mối quan hệ tích cực, yêu thương, tôn trọng, chia sẻ và giúp đỡ. 3. Thời gian, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: - Thời gian nghiên cứu: năm học 2023 – 2024 - Đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp xây dựng thành công “ Lớp học hạnh phúc” - Phạm vi nghiên cứu: Học sinh lớp 2A3 trường Tiểu học Tây Đằng B, huyện Ba Vì, TP Hà Nội.
- 4 II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN 1. Hiện trạng của vấn đề: * Thuận lợi: - Ngay từ đầu năm học, trường Tiểu học Tây Đằng B đã quan tâm và phát động tới toàn thể giáo viên và học sinh trong nhà trường hưởng ứng thực hiện cuộc vận động xây dựng trường học, lớp học hạnh phúc. Ban giám hiệu nhà trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho giáo viên trong công tác giảng dạy và các hoạt động tập thể. - Tập thể giáo viên trong trường luôn đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong công tác. - Học sinh khá ngoan và biết vâng lời thầy cô. - Đa số cha mẹ học sinh quan tâm đến việc học tập, rèn luyện của con. * Khó khăn: - Đối với giáo viên: + Đôi khi còn mất bình tĩnh, thiếu kiềm chế khi học sinh không làm bài hay nghịch ngợm mà đã sử dụng ngôn ngữ nặng lời, trách phạt, làm cho không khí của tiết học trở nên nặng nề. + Giáo viên chưa thấu hiểu học sinh. + Giáo viên chưa khơi dậy, tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong suy nghĩ và hành động. + Giáo viên chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn hạn chế, chưa thật sự gần gũi, chia sẻ và thấu hiểu với học sinh. - Đối với phụ huynh và học sinh: + Một số phụ huynh ít quan tâm đến con cái. + Một số học sinh chưa mạnh dạn trong giao tiếp với thầy cô và bạn bè. + Một số học sinh còn thể hiện thái độ, lời nói chưa lịch sự. + Một số học sinh ỷ lại, thiếu sự tự chủ, tích cực trong học tập. -Về cơ sở vật chất: Lớp học mới được xây dựng nên chưa được trang trí. 2. Giải pháp thực hiện sáng kiến để giải quyết vấn đề. Giải pháp 1: Xác định rõ vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc, làm cho bản thân cảm thấy hạnh phúc với lớp học của mình. Giải pháp 2: Tìm hiểu và phân loại học sinh lớp chủ nhiệm. Giải pháp 3: Tạo dựng môi trường lớp học an toàn, thân thiện. Giải pháp 4: Tôn trọng sự khác biệt của học sinh. Giải pháp 5: Vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Giải pháp 6: Giáo dục trẻ biết yêu thương và chia sẻ Giải pháp 7: Phối kết hợp với cha mẹ học sinh để xây dựng lớp học hạnh phúc.
- 5 CHI TIẾT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN *********** Giải pháp 1: Xác định rõ vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc, làm cho bản thân cảm thấy hạnh phúc với lớp học của mình. 1. Mục đích: Giáo viên sẽ hiểu rõ vai trò của mình với lớp chủ nhiệm trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc để có biện pháp giáo dục phù hợp. 2. Cách tiến hành: 2.1. Học cách kiềm chế cảm xúc của bản thân: Trước tiên, tôi đã học cách kiềm chế cảm xúc của bản thân, điều chỉnh suy nghĩ tiêu cực thành suy nghĩ tích cực, cố gắng tìm kiếm mặt tích cực trong mọi tình huống. Tôi luôn lắng nghe để thấu hiểu học sinh, luôn đặt mình vào các con. Cô giáo là chủ thể mang tính chủ động và có khả năng dẫn dắt, định hướng cho học sinh, là người đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc. Với tôi, hiểu một cách đơn giản, lớp học hạnh phúc là nơi khiến cả cô và trò đều có cảm giác “muốn đến”, là nơi có thể cảm nhận được sự an toàn, sự nâng đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu được thỏa mãn, là lớp học được xây lên đến từ trái tim biết cho đi yêu thương và chúng ta cũng sẽ nhận lại được quả ngọt từ sự yêu thương đó. Xây dựng lớp học hạnh phúc là tạo ra môi trường học tập thân thiện, an toàn, gần gũi với học sinh. Nơi mà ở đó học sinh được tạo điều kiện để sống khỏe mạnh, vui vẻ, tích cực học tập và tham gia các hoạt động khác, được giáo viên nhiệt tình giảng dạy, yêu thương, tôn trọng, được gia đình và cộng đồng tạo điều kiện phát huy hết tiềm năng của mình, quyền được đi học của học sinh được bảo đảm. Cô giáo là người đầu tiên thể hiện trước, bằng lời nói, bằng cử chỉ, bằng hành động. Cô giáo luôn cười nói vui vẻ với trẻ, có cử chỉ thân thiện, trìu mến, sẵn sàng giúp đỡ các con khi gặp khó khăn thì sẽ được trẻ yêu mến và kính trọng. Tôi đã kiềm chế được những cơn nóng giận, làm cho không khí của lớp học luôn vui vẻ. 2.2. Lập kế hoạch giáo dục cho bản thân: Ngay từ đầu năm học, trên cơ sở chất lượng thực tế tại lớp và tìm hiểu hoàn cảnh học sinh, tôi lập kế hoạch, đưa ra mục tiêu, nội dung giáo dục phù hợp với học sinh của lớp, thực hiện đảm bảo dạy đúng, dạy đủ chương trình theo quy định kế hoạch đưa ra. Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, xây dựng hiệu quả các hoạt động đổi mới giáo dục, tham gia sinh hoạt tổ khối chuyên môn, trau dồi kiến thức, tiếp cận những phương pháp mới trong Dạy học tích cực, đa dạng các hình thức dạy học, sáng tạo. Tham gia vào các phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” trong nhà trường.
- 6 3. Kết quả đạt được: Tôi đã nhận thức rõ vai trò của mình trong việc xây dựng lớp học hạnh phúc, kiềm chế được cảm xúc của bản thân. Học trò rất hào hứng với các tiết học do tôi giảng dạy trên lớp. Cả cô và trò thực sự cảm thấy hạnh phúc thông qua các tiết học. **************************** Giải pháp 2: Tìm hiểu và phân loại học sinh lớp chủ nhiệm. 1. Mục đích: Giáo viên sẽ hiểu rõ về học sinh lớp mình chủ nhiệm để có biện pháp giáo dục phù hợp. 2. Cách tiến hành: Ngay từ tuần đầu tiên khi các em vào học, tôi đã yêu cầu các bậc phụ huynh học sinh cập nhật thật chính xác nội dung của bản sơ yếu lí lịch thông qua phiếu điều tra. Qua điều tra thông tin, tôi nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng học sinh để cập nhật đầy đủ vào Sổ Chủ nhiệm lớp. Và quan trọng hơn cả là tôi đã nắm được gia cảnh và hoàn cảnh học sinh của mình để có những biện pháp giáo dục sao cho phù hợp. Sau đó, tôi lập kế hoạch công tác chủ nhiệm: Dựa vào việc trao đổi tình hình học tập cũng như nắm bắt một số đặc điểm của học sinh thông qua giáo viên chủ nhiệm năm học trước và tổng hợp sơ yếu lí lịch của các em, tôi lập kế hoạch chủ nhiệm cho một năm học. Kế hoạch là sự kết hợp giữa các phong trào chung của nhà trường, kế hoạch chuyên môn của tổ khối và đặc điểm tình hình của học sinh lớp tôi chủ nhiệm trong đó ghi lại kết quả học tập, đặc điểm tình hình, chỉ tiêu phấn đấu, phương hướng kế hoạch công tác của từng tháng. Tôi tiến hành tìm hiểu học sinh thông qua phiếu “ Tự giới thiệu.” Giáo viên là người mẹ thứ hai của học sinh ở trường. Vì vậy, là một giáo viên chủ nhiệm lớp, để tạo sự thân thiện, gần gũi với học sinh, ngay từ khi nhận lớp, tôi đã chủ động giới thiệu với học sinh về tên, tuổi, sở thích, mơ ước, những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế. Sau đó, tôi cho học sinh tự giới thiệu về bản thân trước lớp để cô và trò làm quen với nhau. Lần lượt từng em mạnh dạn đứng lên để giới thiệu về những sở thích, ước mơ cũng như mong muốn của mình. Hoạt động này giúp cô trò hiểu nhau đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện. Sau đó, hướng dẫn các con ghi lại những thông tin đó. “Trường học là ngôi nhà thứ hai của em, thầy cô giáo như người thân trong gia đình”. Đó cũng là một hoạt động quan trọng tạo niềm tin, niềm hạnh phúc cho học sinh.
- 7 Tiếp theo, ở tuần đầu, tôi để cho các em tự lựa chọn chỗ ngồi của mình để phần nào nắm được đặc điểm tính cách của trẻ: mạnh dạn hay nhút nhát, thụ động hay tích cực Tôi tiếp tục quan sát những biểu hiện về hành vi, thái độ tại vị trí ngồi mà các em lựa chọn để bắt đầu điều chỉnh cho phù hợp. Sau một tuần nhận lớp, tôi nắm được tương đối chính xác về tính cách của từng học sinh trong lớp. Buổi sinh hoạt lớp đầu tiên, tôi sắp xếp lại chỗ ngồi của học sinh cho phù hợp: các em chậm chạp ngồi cạnh các em nhanh nhẹn, em nhút nhát ngồi bên những em bạo dạn tự tin. Đồng thời, tôi còn xếp các em xen kẽ theo nhóm đối tượng: học sinh khá giỏi ngồi kèm học sinh yếu kém. Cách sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh rất quan trọng vì trong quá trình học tập và hoạt động, các em làm việc theo nhóm nhiều. Đây là yếu tố góp phần không nhỏ vào việc phát triển một số kĩ năng của trẻ: “Học thầy không tày học bạn”. Đó là câu thành ngữ mà bất cứ giáo viên chủ nhiệm nào cũng áp dụng khi tham gia giáo dục học sinh. Bên cạnh đó, tôi cũng thường dành thời gian trò chuyện, hỏi thăm về tâm tư, tình cảm, sở thích từng em. Nhờ vậy mà tôi nắm bắt được từng đối tượng học sinh trong lớp. Từ đó đề ra biện pháp giáo dục phù hợp, tạo không khí lớp học thân thiện, gần gũi giữa cô và trò, giữa trò và trò. 3. Kết quả đạt được: Tôi đã nắm rõ đặc điểm học sinh lớp chủ nhiệm để có biện pháp giáo dục phù hợp. Tôi và các em đã được tôn trọng! **************************** Giải pháp 3: Tạo dựng môi trường lớp học an toàn, thân thiện. 1. Mục đích: Làm cho học sinh cảm thấy yên tâm, thoải mái và thân thiện trong lớp học của mình. 2. Cách tiến hành: 2.1. Trang trí lớp học: Tôi đã tiến hành trang trí lớp ngay từ đầu năm học. Việc trang trí môi trường lớp học phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ giúp tăng cường các điều kiện cho trẻ được trải nghiệm, được chơi và thể hiện mình, trẻ được hoạt động cá nhân và hoạt động theo nhóm. Nhờ đó trẻ phát huy tối đa sự tư duy trí óc, kích thích khám phá bằng các giác quan, phát triển trí tò mò ham hiểu biết. Trẻ nhỏ luôn yêu thích cái đẹp, trí tưởng tượng của trẻ là vô cùng phong phú do vậy môi trường học tập xunh quanh trẻ là một yếu tố cực kì quan trọng kích thích trẻ tư duy sáng tạo. Cô giáo cần tạo cho trẻ một tâm lý thỏa mái, coi lớp học như ngôi nhà của mình mà ở đó trẻ được tham gia các hoạt động vệ sinh, trang trí, sáng tạo theo ý thích. Đó cũng là niềm hạnh phúc của trẻ khi cùng các bạn tạo ra sản phẩm đẹp. Vì vậy tôi đã khuyến khích các con trang trí lớp học theo chủ đề, điều đó kích thích tính tích cực hoạt động của bản thân các con.
- 8 Việc trang trí lớp học sao cho tự nhiên, biến không gian lớp học trở nên gần gũi, thân thiện có ý nghĩa giáo dục cho trẻ là việc làm rất cần thiết. Bởi vậy tôi đã “Trang trí kết hợp giữa làm đẹp cảnh quan lớp học với yêu cầu phục vụ học tập của trẻ lớp mình”. Thông qua việc cùng nhau trang trí lớp, các con đều rất yêu thích đến trường vì nó đem lại cho trẻ nhiều điều bổ ích như được bày tỏ những điều mình mong muốn, được trưng bày những sản phẩm mình làm ra và được làm chủ lớp học của mình. 2.2. Tạo môi trường lớp học an toàn, thân thiện: Lớp học hạnh phúc phải là lớp học không có sự bắt nạt, không có bất công và áp lực. Tôi đã luôn đặt mình vào tâm thế của các em, trở thành người bạn biết hỗ trợ và giúp đỡ. Tôi đã học cách chấp nhận những lỗi sai của học trò và sẽ kiên nhẫn, tận tình hướng dẫn các em cách sửa sai thay vì cáu giận như trước kia. Điều ấy sẽ giúp các em tiếp thu tốt hơn, tự tin và hòa đồng hơn. Đặc biệt, biết cười nhiều hơn với các em. Điều này thật quan trọng với các thầy cô, chỉ cần một tiếng cười của cô giáo thôi cũng sẽ làm xóa tan mọi nỗi sợ hãi mà thay vào đó lại nhận được sự tin tưởng, sự biết ơn và yêu quý của các em. Tiếng cười giúp học sinh dễ đón nhận lỗi sai và tìm cách sửa chữa hơn là nghe lời chê bai từ cô. Từ đó, rèn luyện ý thức và khả năng tập trung từ chính nhận thức của bản thân. Hay những giờ giải lao, thời gian trước buổi học, tôi thường sử dụng các câu hỏi như: – Dạo này lớp mình có bạn nào không có bạn chơi cùng không? – Con thích chơi với bạn nào? Vì sao? Bản thân tôi luôn học cách lắng nghe các con nói, trò chuyện với các con, nhờ đó tôi hiểu được các con, chăm sóc và dạy dỗ các con hiệu quả hơn. Tôi đang học cách sống hạnh phúc , cảm nhận hạnh phúc từ những điều bình dị nhất. “Hạnh phúc đến từ những điều rất nhỏ bé và bình dị chứ không phải là điều gì to tát, xa vời”. Chắc chắn để lớp học luôn hạnh phúc thì nụ cười và sự hài hước luôn đồng hành và được đặt lên hàng đầu ở mọi bài học, mọi tiết học trên lớp. Vì cô muốn mở lòng với các em, bản thân cô phải rất chân thành. Tôi học được cách ứng xử thông qua một câu nói khá hay: “Trường học chính là sự tôn trọng”. Điều này luôn đúng, vì đã là con người thì ai ai cũng muốn mình được tôn trọng. Để có được mối quan hệ thân thiện với học sinh, tôi đã thể hiện cách giao tiếp thực sự tôn trọng học sinh từ cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ, góp phần đáng kể tạo nên quan hệ tốt đẹp giữa cô và trò. 2.3. Giáo dục các con ý thức giữ vệ sinh chung.
- 9 Vào đầu năm học, tôi đã cho các con học nội quy lớp học, trong đó có việc giữ gìn vệ sinh chung. Tôi đã hướng dẫn các con cách sử dụng nhà vệ sinh: đi vệ sinh đúng nơi quy định, xả nước sau khi đi vệ sinh, giữ vệ sinh chung... 3. Kết quả đạt được: Học sinh vui thích khi đến trường, yêu trường, yêu lớp, có ý thức giữ vệ sinh chung, góp phần đạt được các mục tiêu giáo dục. **************************** Giải pháp 4: Tôn trọng sự khác biệt của học sinh. 1. Mục đích: Nhằm tạo ra một môi trường giáo dục công bằng và phát triển tối đa tiềm năng của mỗi cá nhân học sinh. 2. Cách tiến hành: Tôi đã cố gắng tìm ra biện pháp giáo dục phù hợp với từng học sinh. Mỗi trẻ sinh ra đều có một cá tính riêng, một sở thích riêng, một năng khiếu khác nhau.. Trẻ thì hiếu động, trẻ thì thụ động, trẻ thì tích cực tham gia vào hoạt động tập thể, trẻ thì thích chơi một mình Có trẻ giỏi Toán, có trẻ giỏi vẽ, giỏi ca hát Chính vì vậy, tôi luôn tôn trọng sự khác biệt bởi chính sự khác biệt ấy mới tạo nên sự đa dạng và có nhiều màu sắc. Tôn trọng sự khác biệt trước hết là không áp đặt trẻ phải làm thế này, thế kia và không đem giá trị của một vài cá nhân mà áp đặt cho cái chung của lớp, nếu chúng ta buộc tất cả các con đều giống nhau thì đó là triệt tiêu sự sáng tạo, triệt tiêu những niềm đam mê, yêu thích của trẻ nhưng phải có sự định hướng của cô giáo. Để tôn trọng sự khác biệt của trẻ trong các hoạt động trên lớp, tôi đã tận dụng mọi hoàn cảnh để khơi gợi vốn kinh nghiệm, kĩ năng đã có của đứa trẻ ở mọi lúc, mọi nơi. Khi trẻ thể hiện được khả năng của bản thân, tôi đã luôn hướng cả lớp cùng động viên, khích lệ để các con ngày càng tiến bộ hơn. 3. Kết quả đạt được: Học sinh được phát huy tối đa khả năng của mình, cảm thấy mình được quan tâm, được tôn trọng. **************************** Giải pháp 5: Vận dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh 1. Mục đích: Mục đích của việc sử dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là để tạo ra một môi trường học tập khích lệ, nơi học sinh có thể phát triển khả năng sáng tạo, chủ động và tính tích cực. Phương pháp này giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức một cách chủ động mà còn thúc đẩy học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó nâng cao hiệu quả giáo dục. 2. Cách tiến hành:
- 10 2.1. Tăng cường tổ chức hoạt động nhóm: Nhóm có vai trò rất lớn trong việc hình thành nhân cách học sinh. Nhân dân ta có câu “Học thầy không tày học bạn”. Thông qua nhóm học sinh được trao đổi, bày tỏ ý kiến của riêng mình. Nó góp phần vào việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, khắc phục tình trạng học sinh lười nghĩ, ỷ lại. Tôi đã cho các em thay nhau làm nhóm trưởng, có thể với những em học yếu việc làm nhóm trưởng sẽ khó khăn nhưng nó sẽ giúp các em cố gắng hơn, tự tin hơn và có hứng thú hơn trong giờ học. Học sinh có thể kết nhóm theo ý thích hoặc hoạt động nhóm theo hình thức “Lẩu băng chuyền” để có sự thoải mái tự nhiên, tự tin khi tham gia làm việc trong nhóm: đầu tiên, các con thảo luận nội dung bài học với bạn ngồi cùng bàn với mình, sau đó dịch chuyển vị trí theo dãy như vòng quay của xích xe đạp hoặc đổi vị trí giữa hai bạn ở hai đầu dãy với nhau. Hình thức này khá hay, nó giúp các con được thảo luận một nội dung học tập với nhiều bạn khác nhau, sẽ học hỏi được nhiều kiến thức từ bạn. 2.2. Tăng cường tổ chức các trò chơi học tập ”Học mà chơi- chơi mà học”- đó là quan điểm của giáo dục hiện đại. Tôi cố gắng phần đấu mỗi tiết học dành ra 3 -5 phút để “khởi động” cùng các em. Đó là một trò chơi trí tuệ ngắn, một vài câu hát, mẩu chuyện, hay bức tranh nhỏ, đoạn video mà tôi thấy ý nghĩa với mục đích cùng các em nói lên tâm tư, cảm xúc của mình. Học sinh được phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong giờ học thông qua các trò chơi. Thông qua các trò chơi mà tôi triển khai, các em đã có thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn. Ví dụ 1: Trò chơi “Rung chuông vàng”, “Ai là triệu phú”, “Đường lên đỉnh Olympia.”... - Chuẩn bị: Các slide câu hỏi - Số lượng người chơi: cả lớp - Cách chơi: Giáo viên sẽ đưa ra các câu hỏi, học sinh lắng nghe và chọn đáp án bằng cách ghi đáp án vào bảng con. Mỗi câu hỏi sẽ được trả lời trong vòng 10 giây, bạn nào trả lời đúng nhiều câu hỏi nhất sẽ giành chiến thắng. - Với trò chơi này, giáo viên có thể sử dụng trong nhiều môn học nhưng cần thay đổi câu hỏi sao cho phù hợp với từng nội dung. Ví dụ 2: Trò chơi: ”Tiếp sức”. Giáo viên chia lớp làm 2 đội chơi ( lớp tôi được chia làm 4 dãy, cứ 2 dãy bàn tạo thành 1 đội.) Trên bảng lớp là 2 nội dung thi dành cho 2 đội. Khi có hiệu lệnh ” Thời gian bắt đầu”, hai em đầu tiên của 2 đội sẽ thực hiện yêu cầu thứ nhất và đưa nhanh phấn cho bất cứ bạn nào của đội
- 11 mình lên thực hiện nội dung tiếp theo... Cứ thế cho đến yêu cầu cuối cùng. Đội nào xong trước và có kết quả đúng nhiều hơn sẽ dành chiến thắng. Đối với hoạt động trò chơi: Khác với lớp học truyền thống, lớp học hạnh phúc không áp đặt phát triển theo khuôn mẫu mà đóng vai trò định hướng để các em được làm những gì mình yêu thích và say mê. Ở đó, các em không học theo kiểu nhồi nhét mà được học những gì có ý nghĩa, được khơi gợi niềm yêu thích để tiếp tục tự tìm hiểu. Từng tiết học được biến hóa thành bài học thú vị qua những trò chơi. 2.3. Tăng cường khuyến khích, động viên sự tự học của học sinh: - Thứ nhất, muốn học sinh có ý thức tự học thì trước hết học sinh phải yêu thích việc học. Vì vậy, tôi đã tạo cho học sinh niềm say mê học tập. Tôi đã giới thiệu về những giá trị của việc học trong thực tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở các em. - Thứ hai, Tôi đã hướng dẫn cho học sinh cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu. Ngay từ những tiết học đầu tiên của năm học, tôi đã giới thiệu sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để các con hiểu và từ đó tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp. - Thứ ba, Tôi đã giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh ở tiết học tiếp theo, tôi hướng dẫn cho các con cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến việc học. Tôi nhấn mạnh cho các con thấy rằng, kiến thức không chỉ gói gọn trong nội dung sách giáo khoa, trong bài giảng của cô mà đến từ nhiều nguồn khác nhau. Do đó, tôi đã khuyến khích các em tự tìm kiếm ra kiến thức mới. Các em đã định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo. Sau khi đã tiếp nhận được kiến thức cũ, các em có thể tìm hiểu kiến thức mới. Khi có sự chuẩn bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn rất nhiều. Ví dụ: ở các tiết Đọc mở rộng của lớp 2, tôi đã hướng dẫn học sinh tìm kiếm các bài đọc, các câu chuyện liên quan đến chủ đề ngay từ đầu tuần ( có thể tìm kiếm qua sách báo, trên mạng internet, ) ghi chép sẵn vào sổ tay Tiếng Việt ( mặc dù thứ Sáu, cuối tuần mới có tiết đọc mở rộng.) -Thứ tư, tôi đã dạy cho HS cách nghe giảng và ghi chép những kiến thức hay, những bài học quý vào Sổ tay Tiếng Việt. - Thứ năm, tôi đã khuyến khích học sinh kiểm soát bài của mình bằng cách tự chấm điểm, chấm chéo kết quả làm bài lẫn nhau. Như vậy, học sinh đã học được cách tự kiểm soát kiến thức và học được những điều hay từ bài làm của bạn. 2.4.Thực hiện tốt phong trào “ Cùng con đọc sách mỗi ngày” do nhà trường phát động: Được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, ngay từ đầu năm học, tôi đã phát động trong phụ huynh và học sinh về phong trào “ Cùng con đọc sách mỗi ngày”. Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, tôi đã phát động và hướng
- 12 dẫn phụ huynh cách chọn sách cho con. Phụ huynh có thể ngồi đọc sách cùng con, cùng con trao đổi về nội dung và ý nghĩa của câu chuyện hay bài thơ, bài văn mà con đọc được. Thỉnh thoảng, ở các tiết sinh hoạt cuối tuần, nếu các con đã giữ nề nếp tốt, tôi đã thay việc sinh hoạt bằng đọc sách cho các con nghe, cùng các con trao đổi về nội dung truyện và định hướng cách ghi chép. Ghi chép những bài học con rút ra hoặc điều con thích từ câu chuyện con đọc. Tôi còn hướng dẫn các con làm sổ tay Tiếng Việt: ghi chép những câu văn hay, những bài học quý trong khi con đọc được để vận dụng vào cuộc sống- nhất là những câu chuyện nói về lòng yêu thương, sự chia sẻ. Ví dụ: Truyện: Bông hoa cúc trắng, Dế mèn phiêu lưu kí 2.5. Giáo dục và hướng dẫn học sinh tham gia đầy đủ các hoạt động trải nghiệm khác: Việc giáo dục và hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm là một phần quan trọng của quá trình học tập, giúp học sinh phát triển kỹ năng sống và hiểu biết thực tế. Tôi đã hướng dẫn học sinh tham gia đầy đủ các hoạt động trải nghiệm do nhà trường tổ chức. Hướng dẫn các con cách ghi nhớ các bài học từ các hoạt động trải nghiệm đó. 3. Kết quả đạt được: Học sinh đã hiểu bài nhanh hơn, nhớ nhanh hơn nội dung bài học, tạo không khí thi đua sôi nổi trong lớp học, được phát huy tối đa khả năng của mình. **************************** Giải pháp 6: Giáo dục trẻ biết yêu thương và chia sẻ. 1. Mục đích: Mục đích của việc giáo dục trẻ biết yêu thương và chia sẻ là để hình thành và phát triển những giá trị nhân văn, đạo đức trong trẻ từ khi còn nhỏ. Việc này giúp các con tạo ra nhiều mối quan hệ tốt đẹp trong gia đình và ngoài xã hội, hạn chế tình trạng xung đột và xây dựng lòng nhân ái. 2. Cách tiến hành: 2.1. Giáo dục các con biết quan tâm lẫn nhau: Mỗi khi lớp có bạn bị ốm, mệt, tôi luôn hướng dẫn các con cách hỏi han, chăm sóc bạn, đưa bạn xuống phòng y tế khi cần thiết. Khi bạn quên sách vở, đồ dùng học tập, các con sẽ hỗ trợ bạn hoặc cho bạn mượn đồ dùng . 2.2.Tạo mối quan hệ thân thiện giữa học sinh với học sinh: Con người giao tiếp thân thiện với nhau bằng nhiều phương tiện khác nhau như cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt nhưng giao tiếp bằng ngôn ngữ vẫn là quan trọng hơn cả. Để học sinh có được mối quan hệ thân thiện với bạn trong lớp, tôi
- 13 đã hướng dẫn học sinh sử dụng lời nói với bạn sao cho thể hiện sự tôn trọng, tế nhị, lịch sự trong giao tiếp. Nhận thức được việc dạy cho học sinh cách thể hiện lời nói thân thiện cùng bạn là cần thiết, trong những năm qua cũng như đầu năm học này , thông qua các tiết dạy, tôi đã cố gắng uốn nắn, sửa chữa lời nói cho học sinh. Chẳng hạn trong tiết Nói và nghe, khi trao đổi nội dung với bạn kể, tôi thường hướng các em xưng hô “mình” và “bạn” cũng như: “ Xin mời bạn, bạn cho mình biết ., cảm ơn bạn! ” Hay trong tiết Sinh hoạt lớp, khi nhận xét bạn, tôi hướng các em nhận xét bằng từ ngữ tế nhị, lịch sự. Ngoài việc hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ tế nhị, thiện cảm, tôi cũng đã sử dụng “ đôi bạn cùng tiến”, “ các nhóm năng khiếu”, “ nhóm cùng sở thích” thông qua các đội, nhóm, các em đã có trách nhiệm giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Từ đó, các em đã hạn chế sự gây gổ, cãi nhau trong lớp học mà trở nên thân thiết, gắn bó với nhau hơn. 2.3. Giáo dục học sinh biết yêu thương, chia sẻ thông qua các hoạt động giáo dục khác: Thông qua hoạt động âm nhạc ( hát đầu giờ) tôi dạy và hướng dẫn các con những bài hát thể hiện tình cảm yêu thương như: Cả nhà thương nhau, Gia đình nhỏ hạnh phúc to, Lớp chúng ta đoàn kết , Bên cạnh đó tôi còn thường xuyên sưu tầm những bài ca dao, đồng dao hay để đọc cho các con nghe để lồng giáo dục các con biết yêu thương chia sẻ một cách nhẹ nhàng, thường xuyên, giúp những tâm hồn ngây thơ của các con nuôi dưỡng những tình cảm quan tâm, chia sẻ đến mọi người. Trong hoạt động ăn, ngủ cũng là thời điểm để giáo dục sự quan tâm chia sẻ đối với học sinh. Trong giờ ăn tôi luôn nhắc cô trông trưa tạo cảm giác thoải mái cho trẻ, động viên trẻ ăn hết xuất, ăn ngon miệng, khi ăn không nói chuyện, ăn không rơi vãi, phải biết ơn các bác nông dân, các cô đầu bếp đã làm ra hạt gạo và các sản phẩm khác và chế biến món ăn giúp con có được bữa ăn ngon. 2.4.Thực hiện tốt các phong trào từ thiện do nhà trường và cấp trên phát động: Tôi đã hướng học sinh biết quan tâm đến các bạn có hoàn cảnh khó khăn trong và ngoài trường. Các đợt làm từ thiện: Mua tăm ủng hộ người mù, Ngôi nhà khăn quàng đỏ, Tết yêu thương, Ủng hộ bạn là bệnh nhân ung thư trong trường ( Bạn Quỳnh lớp 4A3) đã được các em tham gia nhiệt tình. 3. Kết quả đạt được: Học sinh lớp tôi biết yêu thương, quan tâm đến bạn, biết giúp đỡ nhau trong học tập cũng như vui chơi.

