Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước tại trường TH&THCS Võ Thị Sáu

doc 9 trang Chăm Nguyễn 11/03/2026 190
Bạn đang xem tài liệu "Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước tại trường TH&THCS Võ Thị Sáu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docbao_cao_sang_kien_mot_so_bien_phap_phong_chong_tai_nan_thuon.doc

Nội dung tài liệu: Báo cáo Sáng kiến Một số biện pháp phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước tại trường TH&THCS Võ Thị Sáu

  1. Dự phòng cấp 2 là dự phòng trong khi tai nạn thương tích xảy ra Mục đích của việc dự phòng là làm giảm mức độ nghiêm trọng của các thương tổn khi xảy ra tai nạn thương tích như đội mũ bảo hiểm xe máy để phòng tránh chấn thương sọ não khi tai nạn giao thông xảy ra. Dự phòng cấp 3 là dự phòng sau khi có tai nạn thương tích xảy ra Mục đích của việc dự phòng là làm giảm thiểu hậu quả sau khi tai nạn thương tích xảy ra. Thực hiện biện pháp điều trị với hiệu quả tối đa là điều kiện để giảm thiểu hậu quả của tai nạn thương tích, sự tàn tật và tử vong. Đồng thời các biện pháp phục hồi chức năng cũng giúp cho nạn nhân hồi phục một cách tối đa các chức năng của cơ thể. Bước 3: Rèn luyện phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước cho học sinh một cách có hệ thống để các em có khả năng phòng chống hiệu quả: Kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước không đơn thuần là nắm được các kiến thức lý thuyết mà quan trọng hơn sự bình tĩnh tiếp cận và xử lý tình huống kịp thời, hiệu quả, an toàn cho các bên liên quan. Từ những tình huống giả định hay thực tế mà học sinh có sự thay đổi về nhận thức, về hành động sao cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo không để ra việc diễn biến xấu hơn sơ với tình trạng ban đầu. Mỗi loại loại tình huống tai nạn sẽ yêu cầu một kỹ năng xử lý khác nhau cho nên học sinh phải nắm được các kỹ năng cơ bản như: sơ cấp cứu bỏng, điện giật, chấn thương . Bước 4: Phân loại và rèn luyện các kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích thường gặp. - Việc phân loại các kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích thường gặp như: bỏng; điện giật; té ngã; bị vật sắc nhọn cắt, đâm; động vật cắn . sẽ giúp các em có sự hiểu biết tổng quan và biết xử lý tình huống kịp thời, hiệu quả. + Bị bỏng: Nhanh chóng đưa vùng da bị bỏng ngâm vào nước nguội sạch để vệ sinh vết thương tránh nhiễm khuẩn, sau đó xả nhẹ nước mát trong vòng ít nhất 15 phút. Việc này giúp vết thương được dịu đi, tránh đau rát, sưng tấy, vết bỏng cũng sẽ không bị ăn sâu tiếp nữa. Chỉ nên dùng nước mát chứ không nên chườm bằng đá hoặc nước đá, do tiếp xúc trực tiếp bằng đá lạnh có thể khiến vết thương trở nên tệ hơn. Sử dụng gạc sạch, vô khuẩn hoặc miếng vải nhỏ sạch để băng vùng da bị bỏng, tránh tiếp xúc bụi bẩn lên vết bỏng. Trường hợp bỏng nhẹ và diện tích bỏng nhỏ, bạn vẫn có thể tự chăm sóc, điều trị tại nhà. Vùng da bị bỏng có khả năng tự liền, còn trường hợp vết bỏng có diện tích lớn, bỏng nặng hơn, nên sơ cứu cơ bản ban đầu rồi nhanh chóng chuyển người bị bỏng tới cơ sở, trung tâm y tế nơi gần nhất kịp thời điều trị.
  2. + Bị điện giật: Ngắt nguồn điện ngay lập tức: Đây là bước đầu tiên và cực kỳ quan trọng. Hãy quan sát xung quanh để xác định nguồn điện ở đâu và tìm cách ngắt ngay nguồn điện. Điện được ngắt càng sớm thì mức độ tổn thương mà người bị nạn gánh chịu càng thấp, càng dễ cứu chữa. Ngược lại, bị điện giật càng lâu thì cơ thể càng bị tổn hại, việc cứu chữa sẽ khó khăn, thậm chí là tử vong trước khi được sơ cứu. Tách nguồn điện ra khỏi người bị nạn: Không phải lúc nào ta cũng có thể xác định được vị trí nguồn điện ở đâu. Và trong những trường hợp như vậy, hãy dùng thanh nhựa, thanh gỗ, thanh cao su hay bất cứ vật dụng, món đồ nào không dẫn điện để tách người bị nạn ra khỏi nguồn điện. Tuyệt đối không dùng tay, chân hay bất cứ bộ phận nào của cơ thể để chạm vào người bị điện giật. Sau khi ngắt nguồn điện hoặc tách người bị nạn ra khỏi nguồn điện, bắt đầu thực hiện sơ cứu người bị điện giật theo các bước sau: Đặt nạn nhân trong tư thế thoải mái, đầu thấp, ở nơi thoáng khí, rộng rãi, thuận tiện cho việc sơ cứu. Đồng thời, chú trọng việc giữ ấm cho nạn nhân, không để nạn nhân bị lạnh. Kiểm tra nạn nhân còn thở hay không. Trường hợp nạn nhân còn thở và bị bỏng nhẹ thì có thể rửa sạch vết bỏng dưới vòi nước mát. Nếu bị chảy máu thì cầm máu bằng miếng gạc (hoặc vải) sạch. Nếu nạn nhân bị tổn thương nặng ở phần đốt sống cổ thì chuyển họ đến bệnh viện ngay lập tức để được cấp cứu kịp thời, tránh bị liệt về sau. Trường hợp nạn nhân bất tỉnh và có dấu hiệu ngưng thở, cần thực hiện sơ cứu bằng cách hô hấp nhân tạo hoặc ép tim ngoài lồng ngực. Đây là những kỹ thuật quan trọng, cần thực hiện đúng cách để có thể cứu sống nạn nhân. Thực hiện hô hấp nhân tạo hoặc ép tim ngoài lồng ngực nếu nạn nhân bất tỉnh và có dấu hiệu ngưng thở Nói chung, khi kiểm tra tình trạng nạn nhân, tùy mức độ mà bạn có cách sơ cứu phù hợp. Nhưng lưu ý, sau khi sơ cứu người bị điện giật xong, nạn nhân đã tỉnh táo và ổn định thì vẫn nên đưa họ đến bệnh viện. + Bị vật sắc nhọn cắt, đâm, té ngã chảy máu: sát trùng, cầm máu. Trong trường hợp vết thương sâu, chảy máu nhiều phải đưa ngay đến cơ sở y tế. + Bị động vật cắn: sát trùng chỗ vết bị cắn, nếu trường hợp là rắn độc, chó dại phải khẩn cấp đưa đến cơ sở y tế gần nhất. + Bị gãy chân, tay: Nếu gãy xương cánh tay, cần để cánh tay bị gãy sát thân mình nạn nhân, cẳng tay vuông góc với cánh tay. Tiếp theo đặt 2 nẹp, nẹp trong từ hố nách tới quá khuỷu tay, nẹp ngoài từ bả vai đến quá khớp khuỷu. Dùng 2 dây rộng bản buộc cố định nẹp ở trên và ở dưới ổ gãy. Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực, cẳng tay vuông góc với cánh tay, bàn tay cao hơn khuỷu tay, bàn tay
  3. để ngửa. Dùng băng rộng bản băng ép cánh tay vào thân mình. Thắt nút phía trước nách bên lành. Nếu gãy xương cẳng tay, cần để cẳng tay bị gãy sát thân mình, cẳng tay vuông góc cánh tay. Lòng bàn tay ngửa. Dùng hai nẹp, nẹp trong từ lòng bàn tay đến nếp khuỷu tay, nẹp ngoài từ đầu các ngón tay đến quá khuỷu. Dùng 3 dây rộng bản buộc cố định nẹp bàn tay, thân cẳng tay (trên, dưới ổ gãy). Dùng khăn tam giác đỡ cẳng tay treo trước ngực. Nếu gãy xương cẳng chân, đặt nạn nhân nằm trên mặt phẳng, chân duỗi thẳng, bàn chân vuông góc với cẳng chân. Dùng hai nẹp đặt ở mặt trong và mặt ngoài chân gãy. Nẹp ngoài từ mào chậu (gờ trên cùng của xương chậu) đến quá gót chân, nẹp trong từ bẹn đến quá gót chân. Độn bông vào hai đầu nẹp và phía trong, ngoài của các đầu xương. Buộc cố định hai nẹp với nhau ở các vị trí trên và dưới vùng gãy, trên khớp gối khoảng 3 – 5cm và băng số 8 ở cổ chân để cố định bàn chân vuông góc với cẳng chân. Vị trí buộc cần chắc chắn nhưng không quá chặt để đảm bảo lưu thông máu. + Đuối nước: Nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi mặt nước bằng cách đưa cánh tay, cây sào dài cho nạn nhân nắm, ném phao hoặc vớt nạn nhân lên. Đặt nạn nhân nằm chỗ khô ráo, thoáng khí. Nếu nạn nhân bất tỉnh hãy kiểm tra xem nạn nhân còn thở hay không bằng cách quan sát sự di động của lồng ngực: Nếu lồng ngực không di động tức là nạn nhân ngưng thở, hãy tiến hành ấn tim ngoài lồng ngực ở nửa dưới xương ức. Phối hợp ấn tim và thổi ngạt theo hướng dẫn. Nếu nạn nhân còn tự thở, hãy đặt nạn nhân ở tư thế an toàn là nằm nghiêng một bên để chất nôn dễ thoát ra ngoài nếu nạn nhân nôn ói. Nhanh chóng đưa nạn nhân đến cơ sở y tế ngay cả khi nạn nhân có vẻ như bình thường hoặc đã hồi phục hoàn toàn sau sơ cứu vì nguy cơ khó thở thứ phát có thể xảy ra vài giờ sau ngạt nước Bước 5: Tổng kết các giải pháp thực hiện, thiết lập bảng khảo sát để so sánh, đối chiếu mức độ đạt được của học sinh trước và sau khi thực hiện sáng kiến. Qua đó có đánh giá tổng quan về tính khả thi của các giải pháp. 1.2. Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết (nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở): - Ưu điểm: + Giáo viên được phân công dạy môn Thể dục nên có nhiều điều kiện định hướng, rèn luyện các kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước cho học sinh. + Việc dạy xuyên suốt từ lớp 1 – lớp 9 sẽ giúp giáo viên phân loại được đối tượng cũng như việc từng bước nâng cao kỹ năng cho học sinh qua từng năm. + Thông qua các buổi luyện tập bài võ cổ truyền, bài tập thể dục giữa giờ hay HKPĐ cấp trường.
  4. + Đối tương HSDTTS nên cơ bản các em có một số kĩ năng mềm trong quá trình tham gia lao động cùng gia đình trong những ngày được nghỉ học. - Nhược điểm: + Học sinh đa phần là người dân tộc thiểu số nên khả năng tiếp thu còn hạn chế. + Bản thân học sinh có 1 số ít kỹ năng nhưng không có tính hệ thống, không khoa học và thường xử lý tình huống theo thói quen dân gian, vì vậy nhiều lúc khiến tình trạng còn nặng hơn. + Nhà trường chưa đầy đủ CSVC (hồ bơi, sân tập luyện...) nên việc rèn luyện kỹ năng phòng chống đuối nước còn nhiều khó khăn. - Giải pháp: + Tăng cường các hoạt động rèn luyện kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước nhiều phương pháp khác nhau. Trong đó tập trung vào việc trang bị các kiến thức nền quan trọng cho học sinh cũng như tăng cường kỹ năng thực hành dựa vào các tình huống giả định. + Ngoài ra, tùy đối tượng học sinh mà giáo viên có thể hướng dẫn trực tiếp hoặc thông qua các nhóm nòng cốt để tất cả học sinh đều nắm được các vấn đề cơ bản. + Tai nạn thương tích thường xảy ra bất ngờ với nhiều hình thức, mức độ khác nhau, vì vậy cần tạo cho học sinh tâm lý bình tĩnh và độ phản xạ nhanh, sự phán đoán chính xác để sơ cứu kịp thời, hiệu quả. 1.3. Nội dung đã cải tiến, sáng tạo để khắc phục những nhược điểm hiện tại (nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó tại cơ sở): - Tổ chức phân loại đối tượng học sinh và qua đó có giải pháp riêng cho từng nhóm đối tượng. - Xây dựng kỹ năng các kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước cho học sinh một cách có hệ thống để các em có khả năng phòng chống hiệu quả. - Tạo ra các nhóm nòng cốt có kỹ năng tốt nhất để giúp giáo viên trong việc hướng dẫn học sinh trong quá trình hình thành kỹ năng cho các em. - Đưa ra các tình huống giả định để các em có sự thích ứng, phản xạ nhất định, nhất là việc rèn luyện kỹ năng xử lý cũng như giữ được sự bình tĩnh khi xảy ra tai nạn thương tích. - Trong trường hợp có xảy ra các tình huống thật ở dạng nhẹ, giáo viên chủ động giao cho các em xử lý phù hợp, tạo điều kiện cho các em có kỹ năng thực hành trên thực tế. 1.4. Khả năng áp dụng của sáng kiến: Sáng kiến có thể áp dụng cho tất cả các đơn vị trường học trên địa bàn huyện vì những kết quả bước đầu tại nhà trường mà sáng kiến đem lại. Nếu biện pháp trên được áp dụng một cách nghiêm túc, đồng bộ thì không chỉ hình thành cho các em các kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích mà còn ứng phó linh
  5. hoạt trong mọi tình huống và giảm thiểu các nguy cơ chết người, tàn tật trong học sinh, cộng đồng. 1.5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: - Về phía nhà trường: + Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh, nhất là các hoạt động ngoại khóa để các em có điều kiện rèn luyên, thực hành kỹ năng. + Chú trọng đầu cơ sở vật chất để đáp ứng tốt nhất công tác tập huấn, luyện tập cũng như sơ cứu kịp thời nếu có trường hợp tai nạn thương tích xảy ra trong nhà trường. + Xây dựng môi trường học tập, vui chơi an toàn, lành mạnh để giảm thiểu ở mức thấp nhất các tai nạn thương tich. + Nhà trường cần tham mưu cấp trên trang bị phòng y tế học đường cũng như có nhân viên y tế học đường để sơ cứu kịp thời khi có trường hợp TNTT xảy ra. - Về phía giáo viên: + Có định hướng tốt cho học sinh về cả kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước. + Kiên trì trong việc tác động và thúc đẩy sự nắm bắt và luyện tập của học sinh, nhất là đối tượng học sinh có nguy cơ cao. + Có kế hoạch tổ chức tập huấn tuần tự và nâng dần khả năng thực hành, rèn luyện kỹ năng xử lý tình huống cho từng nhóm đối tượng học sinh. - Về phía học sinh: + Phối kết hợp cũng như tương tác tốt với giáo viên, có ý thức trang bị kiến thức để phòng tránh cho cả bản thân và những người xung quanh. + Bản thân luôn nêu cao tinh thần tự trang bị kiến thức, kỹ năng để có thể phòng ngừa cho bản thân cũng như những người xung quanh mình. 1.6. Hiệu quả sáng kiến mang lại: Qua thời gian thực hiện và khảo nghiệm các giải pháp của đề tài, tôi thu lại một số lợi ích do áp dụng sáng kiến như sau: học sinh nắm được các kỹ năng cơ bản về phòng chống thương tích. Điều này có ý nghĩa rất lớn xây dựng môi trường học tập, sinh sống an toàn. Nâng cao dần ý thức tự phòng tránh cho bản thân cũng như cho những người xung quanh. Việc này có ý nghĩa trong việc phòng ngừa tốt nhất để hạn chế tối đa các vụ tai nạn thương tích xảy ra. Học sinh được tranh bị một số kiến thức căn bản để xử lý các loại tai nạn thương tích cơ bản, tránh trường hợp xử lý theo thói quen, theo kinh nghiệm dân gian mà tính khoa học chưa được kiểm chứng, dễ dẫn đến những hậu quả nặng nề.
  6. - Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: + Giảm thiểu các nguy cơ tai nạn thương tích tại đơn vị; Học sinh được trang bị một số kĩ năng cơ bản về phòng chống TNTT, đuối nước + Trong những điều kiện nhất định có thể áp dụng tại các đơn vị khác để nhân rộng những hiệu quả do sáng kiến đem lại. + Góp phần tạo ra môi trường học tập an toàn. + Nâng cao ý thức trong công tác phòng chống tai nạn thương tích cho học sinh. Sau thời gian áp dụng đề tài “Một số biện pháp phòng chống tai nạn thương tích và đuối nước tại trường TH&THCS Võ Thị Sáu”, tôi có kết quả như sau 35 32 30 30 27 26 25 26 25 23 24 23 21 21 21 20 15 13 11 11 11 10 9 7 7 8 5 3 4 0 0 0 Khối 1 Khối 2 Khối 3 Khối 4 Khối 6 Khối 7 Khối 8 Khối 9 Biểu đồ so sánh số lượng học sinh nắm được kỹ năng phòng chống TNTT và đuối nước trước và sau khi thực hiện đề tài * Chú thích : + Màu xám đậm là tổng số học sinh của các khối lớp + Màu đen là tỉ lệ trước khi thực hiện đề tài + Màu xám nhạt là tỉ lệ sau khi thực hiện đề tài 2. Những thông tin cần được bảo mật - nếu có: Không 3. Danh sách những thành viên đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu - nếu có: TT Họ và tên Nơi công tác Nơi áp dụng sáng kiến Ghi chú Trường Trần Trường TH&THCS Võ 1 TH&THCS Hoàng Vũ Thị Sáu Võ Thị Sáu
  7. 4. Hồ sơ kèm theo (Bản mô tả nội dung sáng kiến có thể minh họa bằng các bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm - nếu có): Không