SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí Lớp 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí Lớp 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_mot_so_giai_phap_danh_gia_san_pham_hoc_tap_mon_dia_li_l.docx
SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí Lớp 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo đị.pdf
Nội dung tài liệu: SKKN Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí Lớp 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
- 1 BÁO CÁO SÁNG KIẾN I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN 1. Lí do chọn đề tài. Từ xưa đến nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, giáo dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Xã hội ta là xã hội chủ nghĩa, mục tiêu chung của nền giáo dục nước ta là: “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” để phục vụ đất nước trong thời đại mới. Song mục tiêu cơ bản nhất của giáo dục lại ở chỗ: giáo dục phải đào tạo ra những con người không những có kiến thức mà còn phải giàu phẩm chất, năng lực, trí tuệ. Xuất phát từ yêu cầu đó, tháng 12 năm 2018 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra sự cần thiết phải đổi mới về chương trình các môn ở các cấp học để phát huy phẩm chất, năng lực học sinh. Trong định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới, môn Địa lí THPT giúp học sinh phát triển năng lực chung và các năng lực Địa lí đã được học sinh hình thành ở cấp THCS; góp phần giáo dục tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, các phẩm chất, năng lực của người công dân Việt Nam, công dân toàn cầu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; giúp học sinh nhận thức và nhận thức rõ vai trò, đặc điểm của khoa học Địa lí cũng như sự kết nối giữa Địa lí học với ngành nghề khác, tạo cơ sở để học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai. Bên cạnh việc đổi mới phương pháp dạy học thì đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh là nhiệm vụ cần được chúng ta chú ý, quan tâm và hướng tới. Nó vừa mang tính thời sự vừa mang tính thực tiễn cao. Theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông mới đối với môn Địa lí THPT thì có bốn phương pháp cơ bản để đánh giá kết quả học tập của học sinh là: phương pháp viết, phương pháp quan sát, phương pháp hỏi-đáp và phương pháp đánh giá hồ sơ học tập của học sinh. Đặc biệt, theo hướng dẫn của công văn 5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch giáo dục của nhà trường và Thông tư 26/BGDĐT ngày 26 tháng 8 năm 2020 về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì việc đánh giá sản phẩm học tập của học sinh là vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, do mới tiếp cận nên đa số giáo viên còn lúng túng trong việc áp dụng. Hiện tại phương pháp đánh giá sản phẩm học tập của của học sinh môn Địa lí còn nhiều bất hợp lý, cần thay đổi. Sản phẩm học tập của học sinh đơn điệu chưa đa dạng, phong phú; phương pháp đánh giá đơn
- 2 điệu chủ yếu là đánh giá kiến thức, công cụ đánh giá chưa cụ thể; chủ yếu là giáo viên đánh giá nên chưa phát huy được năng lực và phẩm chất của học sinh. Theo các nhà tâm lí học thì học sinh THPT là lứa tuổi mà trình độ phát triển trí tuệ, thể chất, tình cảm, nhân cách...đang phát triển ở mức độ cao. Ở lứa tuổi này năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và các khả năng khác đều gần đạt tới mức độ hoàn thiện. Việc hướng dẫn học sinh tạo ra các sản phẩm học tập Địa lí phù hợp với các thang đánh giá của giáo viên sẽ giúp học sinh phát huy được những ưu điểm của mình: phát triển tư duy độc lập, tư duy logic, khả năng sáng tạo, khả năng khái quát hóa... Nhưng trong thực tế, có rất ít giáo viên quan tâm tới việc rèn luyện, phát triển năng lực cho học sinh mà chỉ đơn thuần là dạy và kiểm tra kiến thức lí thuyết. Điều đó khiến các em trở nên thụ động tiếp thu tri thức bài học và gượng ép trả lời câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Địa lí và nhanh mệt mỏi, không có hứng thú với môn học. Trong năm học 2020 – 2021, tôi đã nghiên cứu và thực hiện một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí lớp 12 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tại trường THPT Lý Tự Trọng (tôi đã viết sáng kiến kinh nghiệm về đề tài này) đã mang lại hiệu quả tích cực. Sáng kiến đã được áp dụng rộng rãi ở trường tôi và một số trường bạn. Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài: “Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí lớp 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” để tiếp tục nghiên cứu. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Đề tài: “Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh” nhằm góp phần thể nghiệm định hướng đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra; phát huy năng lực, phẩm chất của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí tại trường THPT Lý Tự Trọng nói riêng và đáp ứng nhu cầu đổi mới nền giáo dục của đất nước nói chung. 3. Đối tượng nghiên cứu: “Một số giải pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí 10 (Bộ sách kết nối tri thức) theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”. 4. Phương pháp nghiên cứu. 4.1. Nhóm phương pháp thu thập tài liệu. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Tôi sử dụng phương pháp này vào việc nghiên cứu toàn bộ các tài liệu liên quan đến đề tài. Nghiên cứu những thành tựu lí thuyết đã có làm cơ sở lí luận. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các giáo viên THPT để chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện. 4.2. Nhóm phương pháp thực nghiệm.
- 3 Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này được vận dụng để quan sát trực tiếp việc đánh giá sản phẩm học tập của học sinh trong tiết dạy hoặc trong các đợt kiểm tra. Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để điều tra thực trạng việc đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí của Khối 10 trường THPT Lý Tự Trọng (Thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh, giáo án, sản phẩm học tập của học sinh...) 4.3. Nhóm phương pháp thống kê, tổng hợp Phương pháp này dùng để phân tích số liệu, so sánh kết quả trước khi áp dụng và sau khi áp dụng đề tài. II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP 1. Cơ sở lí luận Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04 tháng 01 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế. Nội dung cụ thể như sau: Xác định mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội vừa phát triển cao nhất tiềm năng của mỗi cá nhân. Phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mĩ thay vì chỉ trang bị kiến thức; kết hợp hài hòa dạy người, dạy chữ, dạy nghề. Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, môn Địa lí giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục HS thành những công dân có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc. Ở cấp THPT, chương trình môn học Địa lí 2018 xác định: Mục tiêu môn học: Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáo dục đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, Chương trình môn Địa lí giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí - một biểu hiện của năng lực khoa học; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặc biệt là tình yêu quê hương, đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng định hướng nghề nghiệp; để hình thành nhân cách công dân, sẵn sàng đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đánh giá kết quả giáo dục trong môn Địa lí nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập. Về nội dung đánh giá, bên cạnh đánh giá kiến thức, cần tăng cường đánh giá các kĩ năng của học sinh. Chú trọng đánh giá khả năng vận dụng tri thức vào những tình huống cụ thể. Đa dạng hóa các hình thức đánh giá, tăng cường đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh bằng các hình thức khác nhau. Kết hợp việc đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh. Kết quả giáo dục
- 4 được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì, trên cơ sở đó tổng hợp kết quả đánh giá chung về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của học sinh. Căn cứ vào những định hướng về đánh giá kết quả giáo dục trong chương trình 2018, ngày 26/8/2020, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 26/2020/TT- BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đánh giá, xếp loại HS trung học ban hành kèm theo Thông tư số 58/2011/TT-BGDĐT này 12/12/2011. Những sửa đổi, bố sung này được áp dụng cho Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành nhằm định hướng cho giáo viên chuyển từ kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng sang kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh, trong đó tập trung vào một số nội dung sau: - Kết hợp giữa đánh giá bằng nhận xét và điểm số, trong đó đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi, kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh trong quá trình học tập môn học. - Hình thức kiểm tra, đánh giá gồm: kiểm tra, đánh giá thường xuyên (đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập theo chương trình môn học) và kiểm tra, đánh giá định kì (đánh giá kết quả giáo dục học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh theo chương trình môn học) vào giữa kì và cuối kì. Trong đánh giá thường xuyên ngoài hình thức vấn đáp, viết còn có thể đánh giá bằng bài thuyết trình và sản phẩm học tập. Trong môn Địa lí, sản phẩm học tập của học sinh là các bài làm hoàn chỉnh, được học sinh thể hiện qua việc xây dựng, sáng tạo, thể hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách hiệu quả. Các sản phẩm môn Địa lí có thể là bức vẽ, bản đồ, biểu đồ, bài thực hành, bài báo cáo, các dự án học tập, dự án nghiên cứu khoa học Đa phần các sản phẩm đòi hỏi sự hợp tác giữa các học sinh và nhóm học sinh, thông qua đó giáo viên đánh giá được năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh. Trên đây là những cơ sở lí luận để nghiên cứu các phương pháp đánh giá sản phẩm học tập của học sinh. 2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu Tôi đã tiến hành khảo sát đối với ba giáo viên dạy Địa lí trong trường về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Địa lí của học sinh khối 10 trường THPT Lý Tự Trọng. Kết quả thu được như sau:
- 5 Nội dung Số GV thực Tỉ lệ học sinh được hiện thực hiện/đánh giá 1. Về hình thức kiểm tra đánh giá Vấn đáp 3 100% Viết 3 100% Thực hành 3 30% Thuyết trình 3 50% Sản phẩm học tập 3 30% 2. Các phương pháp kiểm tra đánh giá Quan sát 3 100% Hỏi-đáp 3 100% Viết 3 100% Đánh giá hồ sơ học tập 2 50% Đánh giá sản phẩm học tập 3 20% 3. Công cụ đánh giá Câu hỏi/bài tập 3 100% Đề kiểm tra 3 100% Bảng kiểm 0 0 Thang đánh giá 2 < 5% Rubrics 1 < 5% Đồng thời tôi tiến hành khảo sát với 181 học sinh khối 10 (ở các lớp chọn môn Địa lí là môn học tự chọn) về việc thực hiện và tham gia đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí. Kết quả thu được như sau: Nội dung Số học sinh được Tỷ lệ thực hiện 1. Các sản phẩm học tập môn Địa lí đã được thực hiện Vẽ (sơ đồ tư duy, lược đồ, biểu đồ...) 55 30.3% Phiếu học tập 181 100% Làm mô hình, tập san ảnh 19 10.5% Các sản phẩm khác 15 8.3% 2. Việc tham gia nhận xét, đánh giá sản phẩm của các bạn Thường xuyên 27 14.9% Thỉnh thoảng 150 82.9% Không bao giờ 10 5.5% 3. Quyền đánh giá cuối cùng về sản phẩm học tập Giáo viên 181 100% Học sinh 0 0
- 6 Qua các phiếu khảo sát trên chúng tôi nhận thấy thực trạng của vấn đề như sau: Sản phẩm học tập môn Địa lí còn đơn điệu, chưa đa dạng phong phú, chủ yếu là phiếu học tập. Thi thoảng có một vài bài thực hành yêu cầu một số cá nhân thực hiện để đánh giá kết quả như vẽ lược đồ, sơ đồ tư duy Hình thức đánh giá còn đơn điệu: chủ yếu là viết, hỏi – đáp, còn thiên về đánh giá kiến thức, chưa chú ý đến đánh giá năng lực. Hầu như không có đánh giá hồ sơ học tập. Giáo viên đánh giá chưa đưa ra công cụ đánh giá cụ thể cho giáo viên và học sinh. Đối với những nội dung kiến thức lí thuyết thì có hướng dẫn chấm, thang điểm rõ ràng, còn đối với những sản phẩm học tập thì đánh giá còn thiên về cảm tính. Học sinh chưa có nhiều cơ hội để đánh giá sản phẩm của mình và của các bạn. Trong khi đánh giá, học sinh cũng được nhận xét bài của bạn nhưng quyền quyết định chủ yếu vẫn là giáo viên, phần nhiều là do giáo viên tự đánh giá. Tóm lại với những thực trạng trên, học sinh chưa phát huy được phẩm chất, năng lực của mình qua quá trình học tập. Vì thế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục. 3. Nội dung và hình thức giải pháp 3.1. Giải pháp 1: Trang bị kiến thức về kiểm tra đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí cho giáo viên. 3.1.1. Mục tiêu giải pháp. Nhằm trang bị cho giáo viên những kiến thức cơ bản về kiểm tra đánh giá trong chương trình giáo dục phổ thông mới môn Địa lí, đặc biệt là những hình thức, phương pháp, công cụ kiểm tra đánh giá sản phẩm học tập của học sinh theo hướng đổi mới. 3.1.2. Nội dung giải pháp Hiện nay có nhiều quan niệm về năng lực, theo OECD: Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể; theo Chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,... thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Với những quan niệm trên, đánh giá kết quả học tập theo định hướng tiếp cận năng lực cần chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá năng lực được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kĩ năng. Để chứng minh học sinh có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề trong
- 7 tình huống mang tính thực tiễn. Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã được học ở nhà trường, vừa sử dụng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và xã hội) để giải quyết vấn đề của thực tiễn. Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả khả năng nhận thức, kĩ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học. Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục của từng môn học như đánh giá kiến thức, kĩ năng, bởi năng lực là tổng hóa, kết tinh kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức, được hình thành từ nhiều môn học, lĩnh vực học tập khác nhau, và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người. Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung (kiến thức, kĩ năng) và đánh giá tiếp cận năng lực. Đánh giá theo hướng Đánh giá theo hướng STT tiếp cận nội dung tiếp cận năng lực Các bài kiểm tra trên giấy được Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy, thực hiện vào cuối một chủ đề, thực hành, sản phẩm dự án, cá nhân, 1 một chương, một học kì,... nhóm ) trong suốt quá trình học tập 2 Nhấn mạnh sự cạnh tranh Nhấn mạnh sự hợp tác Quan tâm đến mục tiêu cuối Quan tâm đến đến phương pháp 3 cùng của việc dạy học học tập, phương pháp rèn luyện của học sinh Chú trọng vào điểm số Chú trọng vào quá trình tạo ra sản phẩm, chú ý đến ý tưởng sáng tạo, 4 đến các chi tiết của sản phẩm để nhận xét Tập trung vào kiến thức hàn lâm Tập trung vào năng lực thực tế và 5 sáng tạo Đánh giá được thực hiện bởi Giáo viên và học sinh chủ động các cấp quản lí và do giáo viên trong đánh giá, khuyến khích tự 6 là chủ yếu, còn tự đánh giá của đánh giá và đánh giá chéo của học học sinh không hoặc ít được sinh công nhận Đánh giá đạo đức học sinh chú Đánh giá phẩm chất của học sinh trọng đến việc chấp hành nội toàn diện, chú trọng đến năng lực 7 quy nhà trường, tham gia phong cá nhân, khuyến khích học sinh thể trào thi đua hiện cá tính và năng lực bản thân 3.1.3. Định hướng kiểm tra, đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng tiếp cận năng lực tập trung vào các định hướng sau:
- 8 - Chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình); - Chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học. Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức, sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo; - Chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như là một phương pháp dạy học; - Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá. Với những định hướng trên, đánh giá kết quả học tập các môn học, hoạt động giáo dục của học sinh ở mỗi lớp và sau cấp học trong bối cảnh hiện nay cần phải: - Dựa vào cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của học sinh của cấp học. - Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng. - Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này. - Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học. Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của giáo viên được thể hiện qua một số đặc trưng cơ bản sau: a) Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả học tập là so sánh năng lực của học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng (năng lực) môn học ở từng chủ đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học. b) Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo ba công đoạn cơ bản là thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả học tập và ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học. Yếu tố đổi mới ở mỗi công đoạn này là: Thu thập thông tin: thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, nhiều hình thức và bằng nhiều phương pháp khác nhau (quan sát trên lớp, làm bài kiểm tra, sản phẩm học tập, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau,...); lựa chọn được những nội
- 9 dung đánh giá cơ bản và trọng tâm, trong đó chú ý nhiều hơn đến nội dung kĩ năng; xác định đúng mức độ yêu cầu mỗi nội dung (nhận biết, thông hiểu, vận dụng,...) căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng; sử dụng đa dạng các loại công cụ khác nhau (đề kiểm tra viết, câu hỏi trên lớp, phiếu học tập, bài tập về nhà,...); thiết kế các công cụ đánh giá đúng kĩ thuật (câu hỏi và bài tập phải đo lường được mức độ của chuẩn, đáp ứng các yêu cầu dạng trắc nghiệm khách quan hay tự luận, cấu trúc đề kiểm tra khoa học và phù hợp,...); tổ chức thu thập được các thông tin chính xác, trung thực. Cần bồi dưỡng cho học sinh những kĩ thuật thông tin phản hồi nhằm tạo điều kiện cho học sinh tham gia đánh giá và cải tiến quá trình dạy học. Phân tích và xử lý thông tin: các thông tin định tính về thái độ và năng lực học tập thu được qua quan sát, trả lời miệng, trình diễn,... được phân tích theo nhiều mức độ với tiêu chí rõ ràng và được lưu trữ thông qua sổ theo dõi hàng ngày; các thông tin định lượng qua bài kiểm tra được chấm điểm theo đáp án/hướng dẫn chấm – hướng dẫn đảm bảo đúng, chính xác và đáp ứng các yêu cầu kĩ thuật; số lần kiểm tra, thống kê điểm trung bình, xếp loại học lực, theo đúng quy chế đánh giá, xếp loại ban hành. Xác nhận kết quả học tập: xác nhận học sinh đạt hay không mục tiêu từng chủ đề, cuối lớp học, cuối cấp học dựa vào các kết quả định lượng và định tính với chứng cứ cụ thể, rõ ràng; phân tích, giải thích sự tiến bộ học tập vừa căn cứ vào kết quả đánh giá quá trình và kết quả đánh giá tổng kết, vừa căn cứ vào thái độ học tập và hoàn cảnh gia đình cụ thể. Ra quyết định cải thiện kịp thời hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh trên lớp học; ra các quyết định quan trọng với học sinh (lên lớp, thi lại, ở lại lớp, khen thưởng, ); thông báo kết quả học tập của học sinh cho các bên có liên quan (Học sinh, cha mẹ học sinh, hội đồng giáo dục nhà trường, quản lý cấp trên, ). Góp ý và kiến nghị với cấp trên về chất lượng chương trình, sách giáo khoa, cách tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục, ... Trong đánh giá thành tích học tập của học sinh không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực, không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết, bài tập thực hành; kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Kiểm tự luận thường đòi hỏi cao về tư duy, óc sáng tạo và tính lôgic của vấn đề, đặc biệt là sự thể hiện những ý kiến cá nhân trong cách trình bày, tuy nhiên không bao quát được hết kiến thức chương trình giáo dục phổ thôngc và kết quả kiểm tra nhiều khi còn phụ thuộc vào năng lực của người chấm bài. Kiểm tra trắc nghiệm khách quan với ưu là thích hợp với quy mô lớn, học sinh không phải trình bày cách làm, số lượng câu hỏi lớn nên có thể bao quát được kiến thức toàn diện của học sinh, việc chấm điểm trở nên rất đơn giản dựa trên mẫu đã có sẵn, có thể sử dụng máy để chấm cho kết quả rất nhanh, đảm bảo được tính công bằng, độ tin cậy cao. Tuy nhiên nhược điểm của hình thức này là không thể hiện được tính
- 10 sáng tạo, lôgic của khoa học và khả năng biểu cảm trước các vấn đề chính trị, xã hội, con người của đất nước, nhiều khi sự lựa chọn còn mang tính may mắn. Do đó việc kết hợp hai hình thức kiểm tra này sẽ phát huy được những ưu điểm và hạn chế bớt những nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra. 3.1.3. Về điều kiện thực hiện giải pháp. Thứ nhất: Hệ thống văn bản chỉ đạo của các cấp Bộ, Sở Giáo dục ban hành kịp thời để định hướng cho giáo viên tiếp cận chương trình mới. Thứ hai: 100% giáo viên trường THPT Lý Tự Trọng được nghiên cứu tài hiệu, tập huấn trực tuyến đại trà, tập huấn trực tiếp trong các buổi sinh hoạt chuyên môn do Sở giáo dục hoặc trường tổ chức. Hầu hết giáo viên trường đều đạt chuẩn hoặc trên chuẩn với trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nhiều giáo viên am hiểu chuyên sâu về Địa lí, có kinh nghiệm ôn học sinh giỏi, có tinh thần cầu tiến nên việc trang bị kiến thức lí luận cho giáo viên về phương pháp đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí là hoàn toàn có thể thực hiện được. Thứ ba: Học sinh trong trường THPT Lý Tự Trọng đa phần ngoan, có tinh thần học tập, nhanh nhẹn trong việc tiếp thu cái mới nên có thể áp dụng các giải pháp của sáng kiến để nâng cao chất lượng học tập môn Địa lí của các em. 3.1.4. Quá trình áp dụng giải pháp vào thực tiễn và kết quả đạt được. Tôi đã xây dựng thêm trong nội dung sinh hoạt chuyên đề tổ chuyên môn và kế hoạch giáo dục môn Địa lí các nội dung mà giáo viên và học sinh của trường đang cần, đang yếu. Cụ thể như sau: Tôi đưa nội dung này thành một chủ đề sinh hoạt chuyên sâu của tổ chuyên môn vì hầu hết giáo viên trong tổ cũng đang rất cần những kiến thức này để đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá cho học sinh theo thông tư 26. Từ việc trang bị cho tất cả giáo viên thì mới phổ biến được rộng khắp cho tất cả các khối lớp, đặc biệt là khối lớp 10. Tôi hướng dẫn cụ thể cho giáo viên về khái niệm sản phẩm học tập, các sản phẩm học tập môn Địa lí đối với học sinh lớp 10 gồm những gì? Yêu cầu của sản phẩm học tập? Cách đánh giá sản phẩm và công cụ đánh giá? Chủ thể đánh giá sản phẩm của học sinh? (Sẽ trình bày cụ thể trong các giải pháp sau). Đặc biệt quan trọng là tôi đã phân chia đối tượng học sinh để định hướng cho các em phát triển năng lực của mình. Kết quả áp dụng: Đa số giáo viên trong trường đều biết được quan điểm đổi mới của chương trình giáo dục phổ thông môn Địa lí theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Hiểu được mục đích, yêu cầu và phương pháp đánh giá cũng như công cụ đánh giá sản phẩm của học sinh. Nhóm giáo viên bộ môn Địa lí đã xác định đối tượng học sinh để phác thảo sơ bộ về các sản phẩm học tập sẽ đánh giá trong năm học. Tất cả các nội dung về mặt kiến thức cơ bản trên đây đã được nhóm giáo viên Địa lí trường tôi tập huấn, tìm hiểu, trao đổi và thống nhất để thực hiện và cụ thể hóa bằng các giải pháp dưới đây. 3.2. Giải pháp 2: Đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh. 3.2.1. Mục tiêu của giải pháp. Thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh nhằm giúp giáo viên thực hiện đúng theo yêu cầu về kiểm tra đánh giá của chương trình giáo dục phổ thông mới. Đồng thời nhằm phát huy tối đa năng lực, phẩm chất của học
- 11 sinh. Việc đa dạng hóa các sản phẩm học tập của học sinh sẽ giúp việc học Địa lí không còn nhàm chán mà trở nên hứng thú hơn với cả giáo viên và học sinh. 3.2.2. Nội dung của giải pháp Theo chương trình giáo dục phổ thông mới, sản phẩm học tập của học sinh là các bài làm hoàn chỉnh, được học sinh thể hiện qua việc xây dựng, sáng tạo, được thể hiện ở việc hoàn thành được công việc một cách hiệu quả. Tôi đã nghiên cứu kĩ chương trình GDPT môn Địa lí 2018 (ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), khảo sát đối tượng học sinh lớp 10 ngay từ đầu năm để xác định năng lực, sở trường của học sinh thông qua giáo viên chủ nhiệm các lớp. Kết quả khảo sát thu được như sau: Lớp Số Tỉ lệ HS tốt Tỉ lệ theo học lực Số học sinh có năng khiếu HS nghiệp THCS của HS môn Địa (%) 10 kì I (%) G K TB G K TB Thuyết Kĩ Âm Hội Có trình năng nhạc họa khả (nói, kể viết (hát/ (vẽ, năng chuyện) tốt múa thiết CNTT ) kế...) 10A5 46 95 5 0 72.5 25.0 2.5 3 10 3 3 2 10A6 43 85 15 0 48.7 46.1 5.2 3 8 5 2 3 10A8 47 90 10 0 51.2 41.0 7.8 2 6 4 2 1 10A9 45 78 22 0 34.2 57.8 8.0 3 5 5 3 3 Dựa vào kết quả khảo sát trên tôi nhận thấy: Hầu hết ở các lớp học sinh ngoài năng lực chung đều có những học sinh có các năng khiếu riêng như âm nhạc, hội họa, thuyết trình... Để các em phát huy được tối đa năng lực, sở trường của mình, tôi lấy đó làm cơ sở đầu tiên để phân chia sản phẩm học tập môn Địa lí 10 ra làm ba nhóm chính: - Sản phẩm viết bao gồm: bài tập, phiếu học tập, hình vẽ, sơ đồ tư duy, biểu đồ, lược đồ, báo cáo - Sản phẩm dự án, nghiên cứu khoa học: video, bài thuyết trình - Sản phẩm thực hành: Mô hình, tập san ảnh 3.2.3. Điều kiện để thực hiện giải pháp. Để thực hiện việc đa dạng hóa sản phẩm học tập của học sinh cần có các điều kiện sau:

