SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học

doc 13 trang Chăm Nguyễn 18/03/2026 191
Bạn đang xem tài liệu "SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docskkn_mot_so_bien_phap_phat_trien_ngon_ngu_cho_tre_3_4_tuoi_t.doc

Nội dung tài liệu: SKKN Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học

  1. quê, cánh đồng, lớp học.Qua tác phẩm văn học trẻ bắt đầu nhận ra trong xã hội có những mối quan hệ, tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè, cô cháu Khi cho trẻ làm quen tác phẩm văn học góp phần mở rộng nhận thức, phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ, phát triển ngôn ngữ, phát triển trẻ hứng thú “đọc sách” , kỹ năng đọc và kể tác phẩm. Do đó tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học” để nghiên cứu và ứng dụng vào thực tế. 2. Mục đích nghiên cứu: -Tìm ra những phương pháp hữu hiệu nhất nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi qua những câu chuyện, bài thơ, ca doa đồng dao biết yêu cái thiện, ghét cái ác từ đó phát triển nhân cách cho trẻ. 1.3. Đ￿i tư￿ng nghiên c￿u -Trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi. Trường Mầm non Long Biên A 1.4. Phương pháp nghiên cứu + Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý luận: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho việc viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm. + Phương pháp đàm thoại: Là phương pháp dùng lời nói và sử dụng hệ thống câu hỏi (Là sự trao đổi giữa cô và trẻ), cô hỏi, trẻ trả lời, từ đó giúp trẻ nhớ sâu hơn các nội dung của câu chuyện. + Phương pháp quan sát, phương pháp trực quan: Là phương pháp nhằm giúp trẻ quan sát các sự vật hiện tượng một cách trực tiếp, từ đó giúp trẻ ghi nhớ lâu hơn + Phương pháp khảo sát thực tế: Là phương pháp tác động trực tiếp vào các đối tượng để thấy được khả năng của đối tượng, từ đó giúp con người nghiên cứu có ý tưởng và sáng tạo hơn. + Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Là phương pháp điều tra khảo sát, quan sát thực tế, thu thập thông tin. + Phương pháp xử lý thống kê, sử lý số liệu: Là sử dụng phương pháp toán để đánh giá kết quả tổng hợp những kinh nghiệm giảng dạy, từ đó rút ra những quy luật, hình thành và phát tiển của đề tài nghiên cứu II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở trường Mầm non Trên thực tế, là giáo viên dạy 3-4 tuổi, tôi thấy khi dạy trẻ làm quen văn học trên các tiết dạy với đồ dùng, đồ chơi đơn giản như: tranh, rối có màu sắc không rõ ràng, hình ảnh không sống động và hấp dẫn trẻ. Dặc biệt là không diễn tả được tính cách, hành động, cử chỉ của nhân vật nên không khai thác được triệt để ý tưởng và sự hiểu biết của trẻ. Đồ dùng giáo viên sử dụng quá cồng kềnh, hình ảnh chết, không có âm thanh, hình ảnh không sinh động nên không gây được hứng thú cho trẻ vì đồ dùng trực quan quá nghèo nàn, lạc hậu. - Trong quá trình thực hiện đề tài, để nắm bắt được nhận thức về văn học ở trẻ tôi đã tiến hành khảo sát trên học sinh đầu năm: + 51-55% trẻ nói rõ ràng, mạch lạc, ngôn ngữ phong phú. 3
  2. + 42% trẻ nói còn ngọng, sử dụng ngôn ngữ chậm, ít tự nguyện, và không hứng thú trong hoạt động. + 46- 50% trẻ không có tâm thế thoải mái trong hoạt động. - Xác định được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng làm quen văn học, tôi đã tiến hành điều tra thực tế tại lớp, trường tôi th￿y có nh￿ng thu￿n l￿i và khó khăn như sau: Thuận lợi : - Trong MGB Lớp C1 của tôi được đầu tư trang thiết bị cho dạy và học tương đối đầy đủ. Lớp được sự quan tâm của đồng chí lãnh đạo, sự chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu về chuyên môn, đến tổ chuyên môn và từng giáo viên. - Trường là trường điểm, trường chuẩn, cơ sở vật chất đáp ứng điều kiện vui chơi, học tập của trẻ. - Các cháu đều là con em nông thôn, nên có nề nếp ngoan, hiếu động, ham hiểu biết làm cơ sở cho việc lĩnh hội tiếp thu kiến thức. - Các bậc phụ huynh luôn quan tâm về việc học tập của trẻ và phối hợp nhiệt tình với cô giáo trong việc dạy trẻ ở nhà. * Cơ sở vật chất: - Lớp học luôn được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường đầu tư cơ sở vật chất - Phòng học rộng rãi, thoáng mát, có sân chơi sạch sẽ thuận tiện cho việc tiến hành các hoạt động học tập vui chơi của trẻ. * Giáo viên -Lớp có 2 giáo viên có trình độ đạt trên chuẩn, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn tìm tòi các tài liệu trên mạng hay trong sách báo để nắm bắt những cái mới để phục cho việc chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn. * Học sinh và phụ huynh - 100% trẻ ăn ngủ tại lớp nên dễ dàng, thuận tiện trong việc giáo dục phát triển cho trẻ mọi lúc mọi nơi. - Đa số phụ huynh phối kết hợp tốt với giáo viên trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. -Trẻ còn nói ngọng, nói lắp, chưa phát âm chuẩn nên gặp nhiều khó khăn khi kể lại chuyện. - Một số trẻ còn chưa hứng thú khi tham gia vào hoạt động văn học. đề, để giáo viên được dự giờ, trao đổi những kinh nghiệm về chuyên môn và các đồng chí đồng nghiệp. 2. Một số biện pháp * Biện pháp 1Biện pháp tạo môi trường làm quen văn học trong và ngoài lớp. - Môi trường có vai trò rất to lớn trong việc phát triển năng lực, nhận thức của trẻ. Để giúp trẻ tiếp thu kiến thức dựa trên hứng thú, nhu cầu năng lực và trực tiếp trải nghiệm của trẻ trong hoạt động làm quen văn học, tôi đã xây dựng môi trường lớp học thực sự phong phú, hấp dẫn và phù hợp với lứa tuổi của trẻ. 4
  3. - Trang trí lớp theo chủ điểm, đưa hình ảnh vui mắt, ngộ nghĩnh phù hợp để trang trí. Dựa trên những yếu tố thần kỳ, hấp dẫn, tôi lôi cuốn trẻ bằng các nhân vật trong truyện cổ tích “Bông hoa cúc trắng”, “Tích chu”, “Quả bầu tiên”, “Nhổ củ cải”, “Chú dê đen” .và còn có lực lượng siêu nhân như: Ông bụt, cô tấm .tạo thành khu vườn cổ tích ở góc nghệ thuật. - Như vậy việc tạo môi trường lớp học với chủ điểm và đưa yếu tố thần kỳ trong truyện cổ tích mà trẻ yêu thích đã mang lại tác dụng hết sức to lớn đến đời sống tinh thần của trẻ. Nó giúp cho trí tưởng tượng của trẻ phong phú, đa dạng hơn, đồng thời nó còn kích thích trẻ vào hoạt động văn học nghệ thuật. Trẻ có cảm giác được sống với tác phẩm như câu truyện đang diễn ra xung quanh trẻ là một thế giới những câu truyện cổ tích. - Ngoài ra tôi còn tận dụng thùng cát tông, vải vụn để làm rối tay, rối que về các nhân vật trong bài thơ, câu chuyện trong chương trình để phục vụ giờ làm quen văn học tạo môi trường theo hướng mở và thu hút trẻ cùng làm. Ảnh 1: (Hình ảnh tạo môi trường lớp học theo hướng mở) VD: câu chuyện “Bông hoa cúc trắng” làm rối có hình người mẹ, cô con gái, bà cụ. Hay bài thơ “Ong và bướm” làm 1 con ong, 1 con bướm. Ngoài ra tôi còn sưu tầm các hình ảnh, nhân vật trong băng đĩa, phòng học Kisdsmart để tạo môi trường phong phú. - Mặt khác tôi còn kết hợp với gia đình và nhà trường để tạo ra góc sách với nhiều loại sách , chuyện tranh chữ to trong chương trình và báo Họa My, truyện ngoài chương trình phù hợp với trẻ, được sắp xếp theo từng loại thuận tiện cho việc lựa chọn của trẻ và được bố trí nơi yên tĩnh đảm bảo ánh sáng để trẻ có thể lựa chọn và xem sách. - Ngoài ra tôi còn cho trẻ làm quen với môi trường ngoài lớp học như: tham quan vườn cổ tích, góc thư viện của bé, chợ quê..... * Biện pháp 2. Biện pháp sử dụng đồ dùng, đồ chơi, hình ảnh minh họa cho trẻ phát triển ngôn ngữ. * Tạo cảm xúc - Có nhiều hình thức tạo cảm xúc để giới thiệu bài xong đối với trẻ mầm non gây hứng thú, tạo cảm xúc giới thiệu bài khác nhau mà vẫn tạo cho trẻ hứng thú, tích cực tham gia vào hoạt động mà tránh được sự lặp đi lặp lại và nhàm chán. - Để lôi cuốn, thu hút trẻ vào giờ học tôi lựa chọn các hình thức tổ chức pù hợp, hấp dẫn như: Tổ chức hội thi “bé yêu thơ”, câu đố, thăm quan và đặc biệt là chọn những hình ảnh thật đẹp và những nhân vật ngộ nghĩnh, sáng tạo đưa vào công nghệ thông tin để trẻ hòa nhập, hóa thân vào các nhân vật trong tác phẩm mà tôi lồng ghép được để rồi từ đó trẻ chăm chú xem, lắng nghe cô giới thiệu dẫn đến trẻ nắm được nội dung tiết hc 1 cách chủ động. 5
  4. VD 1: Ở chủ điểm “Gia đình” khi dạy trẻ bài thơ “Thăm nhà bà” tôi chọn hình thức cho trẻ thăm mô hình nhà có cây, đàn gà, có bạn bé và đọc trích dẫn đoạn thơ. “Đến thăm bà Bà đi vắng Cháu đứng ngắm. Đàn gà con Rồi gọi luôn Bập!Bập!Bập! Chúng lật đật Chạy nhanh nhanh...” - Đó là đoạn thơ nói về hình ảnh bạn bé đến thăm bà của mình trong bài thơ mà hôm nay cô sẽ dạy các con. VD 2: Khi giới thiệu truyện “Tích chu” - Tôi tạo ra một khung cảnh có cậu bé đang ngồi khóc bên dòng sông và hình ảnh một bà tiên đứng giữa đám mây hồng được che kín trong một chiếc rèm mỏng. Sau đó tôi cho trẻ hát bài “Vườn cổ tích” đi đến sân khấu. Bỗng nhiên có tiếng khóc và giọng trầm ấm của Bà tiên vang lên và cửa rèm từ từ mở ra, toàn bộ khung cảnh hiện ra trước mắt...từ đó tôi dẫn dắt và giới thiệu bài. Khi làm như vậy tôi thấy trẻ hứng thú, hhoif hộp, đợi chờ nghe cô kể, giúp trẻ tưởng tượng ra một thế giới kỳ diệu. - Đó là đoạn thơ nói về hình ảnh bạn bé đến thăm bà của mình trong bài thơ mà hôm nay cô sẽ dạy các con. - Như vậy việc thay đổi hình thức, tạo cảm xúc để giới thiệu bài làm cho trẻ hứng thú hơn, tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu, lĩnh hội tác phẩm văn học, mà cai hơn thế, trẻ còn được biết cái hay, cái đẹp của tác phẩm, biết sáng tạo ra sản phẩm. * Sử dụng phương tiện hỗ trợ - Như chúng ta đã biết, trước đây các cô khi tổ chức cho trẻ làm quen văn học ở hoạt động học, giáo viên thường sử dụng đồ dùng trực quan như: cho trẻ xem tranh mẫu, đồ dùng, đồ chơi, rối....có màu sắc không đẹp, không hấp dẫn trẻ, nội dung chưa phong phú, sinh động nên còn nhiều hạn chế khả năng chú ý và ghi nhớ của trẻ. Đến nay, khi được tiếp cận với công nghệ thông tin, khai thác triệt để sử dụng tính năng của máy tính, tôi đã sử dụng phương pháp: đồ họa, ghép hình, lồng âm thanh...về phần mềm Skimart- Hayykid tôi thấy có nhiều ưu việt hơn, giúp giáo viên có thể sử dụng và áp dụng các trò chơi hiện đại vào giảng dạy cho trẻ. VD1: Với tiết truyện “ Nhổ củ cải” -Tôi thấy phần mềm về nội dung câu truyện, các hình ảnh đều động, diễn tả được cử chỉ, hành động nhân vật, có lồng tiếng, nhạc nền..., mỗi nhân vật có một màu 6
  5. sắc, sắc thái riêng. Khi kể truyện cho trẻ nghe, kể đến đâu thì nhấn chuột vào hình ảnh đó để trẻ dễ quan sát, nhận xét sự thay đổi của từng nhân vật. - Chẳng hạn đoạn cáu bé gọi chú chó con đến giúp đỡ với ngữ điệu uyển chuyển, linh hoạt và giọng điệu trong trẻo. VD2: Với bài thơ “Ong và bướm” -Tôi sử dụng các slide có các hình ảnh động về nội dung bài thơ, khi dạy trẻ học tôi thấy trẻ hứng thú và thuộc bài nhanh hơn. - Ở cuối tiết học, tôi củng cố cho trẻ bằng 1 trò chơi, ví dụ: Trò chơi dân gian “Trời nắng trời mưa”. Trẻ quan sát màn hình và chơi trò chơi kết hợp với động tác. mình trong bài thơ mà hôm nay cô sẽ dạy các con.\ * Sử dụng đồ dùng trực quan - Đồ dùng trực quan rất quan trọng đố với trẻ bởi vì trẻ tư duy chủ yếu là tư duy trực quan hình tượng. Trẻ thích cái đẹp, cái mới lạ. Bản thân câu chuyện, bài thơ đã có yếu tố gần gũi, hấp dẫn, thần kỳ, lôi cuốn trẻ. Gây cho trẻ hứng thú thích được nghe đọc thơ, kể truyện. Khi có đồ dùng trực quan đẹp hấp dẫn, sinh động minh họa cho câu chuyện, bài thơ nó không chỉ giúp cho trẻ nhớ lại tên truyện, kể lại chuyện mà còn tạo cho trẻ cảm giác bài thơ, câu chuyện diễn ra sống động trước mắt trẻ. Do vậy khi kể truyện, đọc thơ cho trẻ nghe tôi lựa chọn đồ dùng hấp dẫn, đẹp. Đồ dùng chuyên môn làm quen văn học có rất nhiều: Rối, mô hình, tranh vẽ, tranh cắt dời, đĩa có hình động Tôi khéo léo sử dụng kết hợp hài hòa, hợp lý các loại đồ dùng. VD1: Khi đọc thơ “Thăm nhà bà” cho trẻ nghe tôi cho trẻ tham quan mô hình nhà cây cối, bạn bé, đàn gà con, các hình ảnh đồ dùng đẹp hấp dẫn, đồ dùng đưa ra đúng với ý thơ để đọc lần 1. Ở lần 2 tôi sử dụng hình ảnh động qua tivi. Ảnh 2: (Hình ảnh sử dụng hình ảnh qua tivi) VD2: Kể chuyện “Nhổ củ cải” ở thể loại rèn kỹ năng tôi sử dụng khung rối có vẽ cảnh vườn rau và các hình ảnh rối: Ông già, bà già, cháu gái, chó con, mèo con, chuột nhắt được khâu từ vải để kể lần 1, sử dụng tivi có hình ảnh minh họa theo trình tự câu chuyện kể lần 2. Các nhân vật được đưa ra hoặc lời thoại phù hợp với tranh, với hành động của từng nhân vật. - Tóm lại, khi sử dụng đồ dùng trực quan trong khi kể truyện, đọc thơ cho trẻ nghe, cô giáo phải khéo léo sử dụng kết hợp hài hòa, hợp lý các loại đồ dùng nêu trên. Tuy nhiên không phải tiết nào cũng chỉ sử dụng một hình thức hoặc sử dụng tất cả các biện pháp trên. Mà cô phải biết sử dụng kết hợp linh hoạt: với giờ này tôi sử sụng biện pháp nào, biện pháp nào là chính, biện pháp nào hỗ trợ. Từ đó tới giờ sau cô giáo thay đổi cho phù hợp với khả năng của trẻ. * Biện pháp 3 : Biện pháp rèn phát triển ngôn ngữ trong tổ chức hoạt động làm quen văn học - Để giúp trẻ hiểu được nội dung câu chuyện, nhớ trình tự các sự kiện câu chuyện, hiểu và biết cách sử dụng từ ngữ văn học nghệ thuật trong mỗi tác phẩm văn học, hay việc lựa chọn các bài thơ, ca doa, đồng dao cho trẻ thì cần lựa chọn các bài có 7
  6. nội dung dễ nhớ, nhân vật hóm hỉnh, sắc thái của bài khác nhau, êm dịu, nhẹ nhàng, vui vẻ hóm hỉnh - Muốn trẻ tiếp thu bài tốt, cô giáo phải là người gây hứng thú đầu tiên để đưa trẻ vào tiết học một cách nhẹ nhàng thoải mái tạo hứng thú cao cho trẻ để đón nhận câu chuyện cô kể, giúp trẻ ghi nhớ hình ảnh nhân vật trong chuyện, trẻ được hoạt động một cách sáng tạo. Hình thức cô đưa ra sinh động, phù hợp với nội dung, từng chủ đề mang nội dung tích hợp nhẹ nhàng mà thu hút trẻ. Đó là hình thức trò chơi, hình thức tham quan hoặc qua bài thơ, bài hát, câu đố, hình ảnh trực quan, đĩa thơ truyện giúp trẻ tập trung ghi nhớ có chủ đích. Trẻ được tiếp thu một cách nhẹ nhàng mà ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt, rõ ràng, mạch lạc qua đàm thoại và trả lời câu hỏi gợi mở cảu cô, trẻ được tham gia vào đọc thơ, kể chuyện một cách thoải mái. VD: Kể cho trẻ nghe truyện “Đôi bạn tốt” ở chủ đề “Trường mầm non”. - Tôi dẫn dắt trẻ vào bài qua hình thức cho trẻ hát bài “Gà trống mèo con và cún con” cùng trẻ đàm thoại theo nội dung bài hát, kể tên một số con vật nuôi trong gia đình, tạo không khí tham gia tích cực vào giờ học. Trẻ được tìm tòi, khám phá, sau khi cô gợi mở, đưa ra đồ dùng trực quan: + Đây là con gì? Nó được nuôi ở đâu? + Có một câu chuyện kể về tình bạn của Gà và Vịt đó là câu chuyện “Đôi bạn tốt”, nào mời các bạn cùng lắng nghe! *Kể chuyện cho trẻ nghe: - Tôi kể cho trẻ nghe bằng lời kể kết hợp những cử chỉ điệu bộ, lời thoại rõ ràng, thể hiện rõ từng tính cách của mỗi nhân vật, lời kể diễn cảm thu hút trẻ. - Lần 2 tôi kể cho trẻ nghe kết hợp đĩa chuyện có hình ảnh động về nội dung câu chuyện, lôi cuốn sự chú ý của trẻ. * Đàm thoại, trích dẫn nội dung truyện: - Giúp trẻ hiểu được nội dung câu chuyện, tôi sử dụng hệ thống câu hỏi đàm thoại với trẻ. Do đặc điểm của mỗi trẻ khác nhau nên câu hỏi cô đưa ra cần có sự chuẩn vị để phù hợp với khả năng của trẻ nhằm phát huy tính tích cực của mỗi trẻ qua 4 dạng câu hỏi sau: Dạng câu hỏi nhận biết: - Giúp trẻ tái tạo nội dung chuyên, nhớ lại một cách có hệ thống các sự việc riễn ra + Các con vừa được nghe cô kể câu chuyện gì? + Trong truyện có những nhân vật nào? + Bạn gà bị làm sao? + Con gì đã dình bắt bạn gà? + ai đã cứu bạn gà? + Vì sao bạn gà lại đuổi bạn vịt? + Gà kêu cứu như thế nào? - Tôi giảng giải cho trẻ hiểu rằng khi kêu cứu tiếng kêu của gà con nhanh hơn: Chiếp!Chiếp!Chiếp liên hồi. + Khi gà con kêu cứu bạn Vịt đã làm gì? 8
  7. - Dạng câu hỏi vận dụng kinh nghiệm: -Trẻ vận dụng khả năng hiểu biết cảu mình để trả lời nhằm giúp trẻ phát triển óc tưởng tượng. + Mẹ bạn Vịt đến gửi bạn vịt nhà ai? + Các con biết gửi là như thế nào không?(Đó là mẹ Vịt đi gửi nhừ trông hộ bạn Vịt) + Khi bạn Gà bị Cáo rình bắt thì bạn Gà đã chạy về phía nào? + Con thấy tính cách bạn Gà và bạn Vịt như thế nào? - Dạng câu hỏi giải thích, phỏng đoán, khai thác: - Đây là dạng câu hỏi trẻ phải hỏi và trả lời nhiều giúp trẻ tăng vốn từ, phát triển trí tưởng tượng phong phú, kích thích tư duy phát triển. + Bạn Vịt đã làm gì cứu bạn Gà? + Nếu bạn Vịt không cứu thì bạn Gà sẽ làm sao? + Bạn Gà và bạn Vịt con thấy bạn nào ngoan: Vì sao? + Con có thể đặt tên khác cho câu chuyện là gì? - Qua việc giảng giải và trích dẫn nội dung và sử dụng hệ thống câu hỏi từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó tôi nhận thấy tất cả các trẻ đều tham gia tích cự, sôi nổi. Khi tôi đặt câu hỏi các cháu đều mạnh dạn dơ tay, đây là cách giúp trẻ ngày càng phát triển ngôn ngữ, mở mang kiến thức, mạnh dạn tự tin. - Ngoài ra, trong tiết học kể chuyện tôi luôn tạo bầu không khí vui tươi giúp trẻ có tâm thế thoải mái, tích cực tham gia trả lời câu hỏi của cô giáo đưa ra. Khi trẻ trả lời cô không nên áp đặt trẻ mà để trẻ tự trả lời theo ý của trẻ rồi hướng vào nội dung chính. - Bên cạnh đó, tôi còn tổ chức cho trẻ kể chuyện cùng cô, kể chuyện qua mô hình rối dẹt và không quên lồng ghép tích hợp các môn học vào một cách nhẹ nhàng như: TCXH, PTNT, lễ giáo giúp trẻ nhận thức một cách toàn diện qua các môn học mà vẫn thấy thoải mái, cuốn hút không bị gò bó áp đặt. Ảnh 3: Các nguyên vật liệu và đồ dùng trực quan * Biện pháp 4: Biện pháp lồng ghép các hoath động khác khi dạy trẻ phát triển ngôn ngữ. - Với lời kể diễn cảm, hấp dẫn, dung động người nghe nhưng biết tích hợp các môn học khác thì còn hay hơn vì nó làm thay đổi không khí, làm thay đổi trạng thái khi kể truyện, đọc thơ bằng những lời ca, lời đối thoại, những câu đố, lời đồng dao, ca dao hay một số trò chơi xen lẫn. VD: Bài thơ “Thỏ bông bị ốm, cá vàng bơi ” hoặc cho trẻ đọc thuộc các câu đố về các con vật như: chó, mèo, lợn, gà, cá hay một số bài đồng dao, ca dao, vè “Đi cầu đi quán ”. Âm nhạc bổ trợ cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học dễ gây ấn tượng cho người xem vì thế cho trẻ học thuộc các bài hát: Một con vịt, đố biết con gì, gà trống mèo con và cún con, trời nắng trời mưa Giúp trẻ khi kể truyện, đọc thơ về con vật nào, trẻ có thể hát về con vật đó phù hợp với nội dung con vật, bài thơ. 9
  8. -Việc tích hợp các môn học khác, bản thân tôi phải linh hoạt lựa chọn nội dung sao cho phù hợp với nội dung câu chuyện, bài thơ, giúp trẻ tham gia vòa hoạt động 1 cách tích cực nhất và ngôn ngữ của trẻ được phát triển mạnh mẽ nhất. Ảnh 4 Rèn luyện giọng đọc, giọng kể hấp dẫn và diễn cảm, xây dựng hệ thống câu hỏi đa dạng, phát triển được tư duy sáng tạo ở trẻ * Biện pháp 5: Biện pháp phối hợp giữa gia đình và nhà trường - Ngoài việc tổ chức cho trẻ đọc thơ, kể truyện diễn cảm, rèn phát âm, củng cố và làm giàu vốn từ cho trẻ trong hoạt động trong ngày. Tôi còn phối kết hợp với gia đình trẻ rèn phát âm, cách diễn đạt, cách sử dụng từ bằng cách thường xuyên gặp gỡ trao đổi với phụ huynh trong giờ đón, trả trẻ, các buổi họp phụ huynh để trao đổi về tình hình sức khỏe, học tập ở lớp và đồng thời tuyên truyền với phụ huynh về tác dụng của bài thơ, ca dao trong tháng cho phụ huynh được biết, thống nhất cách tập luyện cho trẻ phát âm đúng, tích cực, đề suất cách sửa ngọng của mình cho trẻ. - Song song với việc nỗ nực của giáo viên thì các bậc phụ huynh cũng có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phát triển ngôn ngữ qua việc làm quen với văn học để giúp trẻ ôn luyện trong thời gian ở nhà. Tôi luôn coi trọng thông tin 2 chiều giữa gia đình và nhà trường. Tôi còn trao đổi với gia đình trẻ về chương trình giáo dục văn học cho trẻ. Gia đình biết được tuần này con mình được học bài thơ, câu chuyện, bài ca dao, đồng dao nào để ôn luyện, củng cố kiến thức cho trẻ bằng cách đọc thơ thi giữa mẹ và con, anh và em. - Vận động phụ huynh thu gom phế liệu, tranh ảnh để làm đồ dùng phục vụ cho trẻ học bằng chơi, chơi mà học. - Vận động phụ huynh thâm gia hội thi “Bé với thơ ca, đồng dao, ca dao, trò chơi dân gian” cùng với giáo viên và trẻ để có chung sự thống nhất cao, hiểu biết về tầm quan trọng trong việc dạy trẻ học văn học. - Phụ huynh và cô giáo đưa trẻ vào thế giới văn học qua các bài thơ, câu chuyện, bài ca dao, những lời ru đưa trẻ vào giấc ngủ không những có tác dụng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mà còn bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ của trẻ. - Để phụ huynh nắm bắt được lịch học của trẻ ở lớp trong tuần, tôi còn làm bảng ở góc tuyên truyền “Tuần này bé học gì?” để phụ huynh biết và cùng dạy trẻ. 3.Kết quả đạt được: - Qua thời gian thực hiện nghiên cứu, tìm hiểu và áp dụng đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học”. Tôi đã tiến hành khảo sát trẻ và thu được kết quả như sau: - Kết quả trên trẻ: STT Trước khi áp dụng biện pháp Sau khi áp dụng biện pháp 1.Về phía - 51-53% trẻ nói rõ ràng mạch lạc. - 95% trẻ đã nói rõ ràng mạch trẻ - 42% trẻ nói còn ngọng, sử dụng lạc. ngôn ngữ chậm. - 85-95% trẻ đã phát âm đúng, - 46-50% trẻ có tâm thế thoải mái, rõ lời tự nguyện khi tham gia hoạt động, - 85% trẻ có tâm thế thoải mái, 10
  9. thụ động trong các hoạt động tự nguyện, khi tham gia hoạt động 2.Về phía - Đồ dùng, đồ chơi ít, chủng loại - Đã sưu tầm sáng tạo nhiều đồ lớp nghèo nàn, không hấp dẫn trẻ. dùng đồ chơi theo các góc chơi, - Sản phẩm của trẻ không phong đặc biệt là không gian sáng tạo phú, trẻ không hứng thú tham gia ngôi nhà khoa học. Tạo được vào các hoạt động nhiều phần mềm phù hợp với trẻ và được nhân rộng ra toàn trương. - Sản phẩm của lớp có nhiều, phong phú, trẻ tham gia hoạt động hứng thú, tích cực. 3.Về phía - Kỹ năng sử dụng các biện pháp - Kỹ năng sử dụng các biện giáo viên. còn hạn chế, chưa biết vận dụng và pháp được nâng cao. Biết khai khai thác, áp dụng vào tiết dạy thác và ứng dụng vào tiết học cũng như trong các hoạt động khác cũng như hoạt động khác. 4.Về phía - Chưa nhận thức được tầm quan - Hiểu được tầm quan trọng và phụ huynh trọng và lợi ích của việc nâng cao lợi ích của việc nâng cao chất chất lượng làm quen văn học. lượng làm quen văn học đối với con em mình. - Tin tưởng nhà trường cũng như giáo viên để yên tâm gửi con. Với kết quả đạt được như trên tôi đã đem biện pháp này ứng dụng vào một số môn học khác 1 cách phù hợp để rèn cách phát âm chuẩn, diễn đạt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi. -Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học”. Tôi đã thu được kết quả đáng kể. Đề tài này có thể áp dụng ở các lớp 3 tuổi, 4 tuổi ở các vùng nông thôn thành thị. - Để đề tài có triển vọng, cần có sự quan tâm đầu tư của các cấp về các điều kiện như: Cơ sở vật chất, đồ dùng trang thiết bị như vậy đề tài mới thành công và kết quả mới được cao. 11
  10. III. PHẦN KẾT LUẬN - Qua thực hành áp dụng biện pháp vào giảng dạy trong trường mầm non tôi nhận thấy những biện pháp tôi đưa ra đã giúp tôi vận dụng linh hoạt trong lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Về phương pháp cũng như hình thức đã giúp cho tôi truyền tải kiến thức đến trẻ mọi lúc, mọi nơi, cả trong và ngoài tiết học, tạo được sự thoải mái cho trẻ, trẻ được tận dụng mọi khả năng của mình bằng việc sử dụng các vốn từ trong cuộc sống hằng ngày và tôi đã thu được những kết quả đáng phấn khởi so với đầu năm học như sau: 1.Đối với trẻ: Chất lượng môn làm quen văn học tăng lên rõ rệt: Tỷ lệ khá giỏi đạt 85%, trẻ trả lời rõ ràng, mạch lạc, nói trọn câu. Nhiều trẻ biết kể chuyện diễn cảm, biết thể hiện điệu bộ cử chỉ khi kể chuyện, đọc thơ, 75% trẻ biết kể chuyện sáng tạo, 90% trẻ hiểu được nội dung câu chuyện. Trẻ thích chơi đóng kịch, đóng vai theo chủ đề, trẻ nhập vai, thể hiện vai các nhân vật trong câu chuyện rất tốt. 2.Đối với giáo viên: Giáo viên đã nắm chắc phương pháp, tự tin, linh hoạt hơn trong các tiết dạy. Bản thân cũng đã biết lập kế hoạch thực hiện phù hợp với nhóm tuổi mình phụ trách, nắm vững được đặc điểm tâm lý, tình hình của từng trẻ để từ đó đưa ra những biện pháp có phương hướng giáo dục trẻ thích hợp hơn. 3. Đối với phụ huynh: Từ những kết quả đạt được trên, bản thân tôi đã tạo được lòng tin với phụ huynh, làm cho phụ huynh càng tin tưởng, yên tâm đưa con đến trường. Qua đó bản thân cũng đã nâng cao nhận thức cho phụ huynh về việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ là rất cần thiết. Phụ huynh rất quan tâm, phấn khởi, thường xuyên chăm lo, trao đổi hỏi thăm học lực của con mình Trên đây là một số biện pháp “ phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3-4 tuổi thông qua hoạt động văn học” tôi xin giới thiệu để chị em đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp thêm ý kiến để giúp tôi có thêm kinh nghiệm trong giảng dạy Tôi xin chân thành cảm ơn 12
  11. STT Mục lục Số trang 1 1 2 1 Đặt vấn đề 2 3 Lý do trọn đề tài 2-3 4 Mục đích nghiên cứu 3 5 Đối tượng nghiên cứu 3 6 Phương pháp nghiên cứu 3 7 2 Giải quyết vấn đề 3 8 Thực trạng của công tác giáo dục kỹ năng 3-4 sống cho trẻ ở trường mầm non 9 Một số biện pháp 4 10 Biện pháp 1Biện pháp tạo môi trường làm 4-5 quen văn học trong và ngoài lớp. 11 * Biện pháp 2. Biện pháp sử dụng đồ 5-7 dùng, đồ chơi, hình ảnh minh họa cho trẻ phát triển ngôn ngữ 12 * Biện pháp 3 : Biện pháp rèn phát triển 7-9 ngôn ngữ trong tổ chức hoạt động làm quen văn học 13 * Biện pháp 4: Biện pháp lồng ghép các 9-10 hoath động khác khi dạy trẻ phát triển ngôn ngữ. 14 Biện pháp 5: Biện pháp phối hợp giữa gia 10 đình và nhà trường 15 Kết quả 10-11 16 3 Phần kết luận 12 13